Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 57 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 57 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ NĂM MƯƠI BẢY
Tiêu-sơn hóa tinh pháp

(Tiếp theo)

Cuộc trao đổi người diễn ra trong năm ngày thì xong. Vũ Uy vương gọi Dã Tượng, và năm nàng Đông hoa vào trong lều. Vương nói với Dã Tượng:

– Có một việc rất khó khăn, chú cần đến sức của cháu.

Dã Tượng cảm động:

– Cháu xin đợi chỉ dụ của chú. Chú ơi! Khi nghĩ đến Xã tắc, dân tộc thì khó mấy, cháu cũng phải cố gắng làm cho được.

– Cháu sắp thi hành một lệnh cực khó khăn, nhưng chú biết cháu đủ khả năng hoàn thành. Chú sẽ cử Thúy Hồng đi với cháu. Hai người phải giả làm một cặp vợ chồng. Chồng người Việt, vợ người Thái, mới cưới nhau.

Thanh Nga nghe Thúy Hồng được cử đi với Dã Tượng thì cảm thấy bồn chồn khó chịu: Thúy Hồng có sắc đẹp dịu dàng, nhất là khi nàng mặc bộ quần áo tứ thân mầu tím. Bây giờ nàng được đi cùng Dã Tượng trong vai vợ chồng; dù là vợ chồng giả, thì cũng khó mà giữ được trong sạch, thực nguy hiểm vô cùng. Thanh Nga đánh bạo hỏi vương phi:

– Chị ơi! Chị cho em đi thay Thúy Hồng được không?

Vương phi đọc được tâm sự Thanh Nga, vì dù sao phi cũng vẫn là thiếu nữ trẻ tuổi. Phi nghiêm mặt:

– À, cái này chị hoàn toàn không biết! Em hỏi vương huynh. Dường như vương huynh cũng không phải là người quyết định, mà do thầy Tạ Quốc Ninh định.

Mắt Thanh Nga đỏ hoe, nàng nhìn Tạ hầu:

– Thưa thầy!

Tạ hầu bẹo má Thanh Nga:

– Con ơi! Thầy biết tình yêu của con với Dã Tượng sâu như biển Đông! Thầy là người kết hợp hai con lại, con phải biết chứ? Thầy luôn mong muốn hai con thành đôi giai ngẫu. Việc con với Dã Tượng là việc tư. Còn việc thầy đề nghị Dã Tượng đi với Thúy Hồng là việc công. Chuyến đi này cần băng qua nước Đại lý. Người Đại lý nói tiếng Thái. Dã Tượng cũng như con mới học tiếng Mông cổ, tiếng Hoa vùng Lâm An. Đối đáp thông thường thì Dã Tượng đủ tiếng Hán nói với họ. Nhưng bàn quốc sự trong trường hợp phức tạp này thì không thể. Thúy Hồng giỏi tiếng Mông cổ, tiếng Thái, tiếng Hoa, vì vậy thầy mới sai Thúy Hồng đi với Dã Tượng.

Hầu lại tát yêu Thanh Nga:

– Dã Tượng có tư cách người quân tử, chính trực, quang minh. Con phải tin Dã Tượng chứ?

Tuy được an ủi, nhưng Thanh Nga vẫn khóc nức nở, nàng cảm thấy như sắp mất Dã Tượng.

Dã Tượng đâu phải không biết tình yêu Thanh Nga dành cho mình? Nhưng chàng từ một mục đồng, trở thành tướng Ngưu binh, từng đánh thắng Lôi kị bẩy trận, lại là con nuôi của Hưng Đạo vương. Suốt thời gian sống trong dinh của vương, chàng được dạy văn, luyện võ, được nghe giảng chủ đạo tộc Việt, nên chàng mơ màng làm những việc như các anh hùng thời Lĩnh Nam, thời Lý. Chuyện vợ, con đối với chàng là điều gì xa xôi.

Từ hôm gặp năm nàng Đông hoa, Dã Tượng hết sức sủng ái cả năm nàng. Chàng thay Vũ Uy vương tổng lĩnh mọi việc của sứ đoàn. Chàng chăm sóc năm cô từng ly từng tý, như một ông anh cả đối với mấy cô em nhỏ. Năm cô cực kỳ kính trọng chàng. Tình cảm của chàng đối với Thanh Nga cũng như bốn cô kia, không hơn, không kém.

Bây giờ Thanh Nga khóc vì chàng đi xa với Thúy Hồng trong vai vợ chồng. Dã Tượng hiểu tâm ý Thanh Nga, nhưng chàng không biết an ủi như thế nào? Chàng nói nhỏ:

– Anh với Thúy Hồng chỉ đi ít ngày rồi về. Anh cam kết với em rằng anh sẽ giữ cho Thúy Hồng tuyết sạch, giá trong. Em có tin anh không?

– Không! Em không thể yên tâm trong vấn đề này!

Để Thúy Hồng nắm vững vấn đề, Vũ Uy vương tóm lược vụ Mông cổ kiềm chế cha mẹ, vợ con hơn ba trăm cao thủ võ lâm Tống, rồi bắt họ theo quân chinh tiễu các nước. Hồi Mông cổ vào Thăng long, đám cao thủ này trở giáo giúp Đại Việt để cứu Hoa kiều. Trong lần hội với Trung vũ đại vương Trần Thủ Độ, Ngột Lương Hợp Thai xin vương tha cho đám tù binh Mông cổ, Đại lý. Vũ Uy vương đưa điều kiện: phía Đại Việt thả tù binh, thì Mông cổ phải thả gia đình các võ sĩ Trung nguyên đưa sang Đại Việt. Bây giờ Dã Tượng lên đường đi Hợp châu điều đình với Vương Kiên, để Vương nhận đám võ lâm này.

Vương nhấn mạnh:

– Trong binh pháp Tôn Tử, chia làm thực. Trong binh pháp của Công chúa Thánh Thiên thời Lĩnh Nam chia ra hợp phân. Việc trao tù binh, việc đem cao thủ Tống trao cho Vương Kiên là , là phân. Còn thực, hợp mới quan trọng.

Trong năm nàng Đông hoa, thì Hồng Nga thâm trầm nhất, lại chú ý về chính sự. Nàng hỏi:

– Em có một thắc mắc: hiện mấy trăm cao thủ Tống hàng Đại Việt, tại sao mình không chiêu mộ họ làm lực lượng giữ nước với mình? Trả họ về Tống, thì chẳng hóa ra mình bưng mâm cỗ biếu không cho Tống ư?

Vương phi dùng ngón tay trỏ sẽ khều lên gò má trắng hồng của nàng:

– Em tôi đã đẹp, lại có tấm lòng son với đất nước. Em hỏi câu này tỏ ra em là người đại trí. Sau chuyến đi này chị xin đức vua lập một đạo nữ binh, để cho em chỉ huy.

Dã Tượng cười lớn:

– Thím quên rồi ư? Trong mấy chục tướng trâu của cháu, quá nửa là nữ tướng. Bọn con gái tuy sức khỏe không hơn bọn con trai, nhưng khi xung trận chúng lỳ lắm. Chết thì chết, chứ chúng nó không chịu lùi. Chúng lại lắm mưu nhiều mẹo, hành quân biến hóa không biết đâu mà lường được.

Chàng nhìn Hồng Nga:

– Khỏi cần về nước cỡi trâu làm Ngưu binh. Tại đây em liếc mắt một cái khiến cho bọn tướng Mông cổ ngã lăn ra, thì còn mạnh gấp trăm lần, nghìn lần cỡi trâu xung trận.

Vương phi kéo mọi người trở lại với câu hỏi của Hồng Nga:

– Các em nghĩ gì về thắc mắc của Hồng Nga?

Dã Tượng đáp không suy nghĩ:

– Mình đem các cao thủ Tống về mặt trận Tứ xuyên, có ba điều lợi.

Thanh Nga đã hết khóc, nàng hỏi:

– Ba điều lợi kia à?

Dã Tượng đáp:

– Một là, Mông cổ đánh Tống bằng hai mũi. Một mũi từ Bắc, tràn qua sông Trường giang. Mũi này họ bị cản tại Tương Dương, Phàn Thành. Họ mở thêm mũi thứ nhì là chiếm vùng Tây xuyên, Đông xuyên, đánh từ phía Tây vào hông Tống. Mũi này họ cũng không thành công. Họ mở thêm mũi thứ ba từ phía Nam là Đại lý đánh vào sau lưng vùng Tứ xuyên và Đại Việt đánh vào đánh vào Lưỡng Quảng. Họ thất bại ở Đại Việt. Tứ xuyên của Tống đang lâm nguy vì bị đánh vào hai mặt. Ta cứu Tống bằng cách trả các cao thủ Hán cho họ. Như vậy là ta tăng viện cho Tứ xuyên. Hiện Tứ xuyên trở thành ải địa đầu trấn Mông cổ cho ta. Tứ xuyên yên thì Đại Việt yên.

Vũ Uy vương gật đầu tán thành. Dã Tượng tiếp:

– Hai là, tại sao ta không đem cao thủ Tống cho các tướng trấn thủ Lưỡng Quảng, gần ngay phía Bắc của ta, mà lại đem sang Tứ xuyên? Thưa, vùng Lưỡng Quảng lên tới mặt trận Kinh châu là nơi đang giao chiến với Mông cổ quá xa, đem các võ lâm cao thủ vào vùng này thì thà để ở bên mình còn hơn.

Thúy Hồng nhìn Vũ Uy vương:

– À thì ra thế!

– Ba là, các cao thủ Tống mà đánh giặc trên đất mình dù họ có cố gắng mấy, cũng không bằng đánh giặc bảo vệ đất nước họ. Ta đưa họ về Tứ xuyên là quê hương của họ, họ sẽ dốc toàn lực ra đánh ngoại xâm.

Vũ Uy vương mỉm cười:

– Các em thấy rõ ba điều Dã Tượng luận chưa? Nhưng đó là , là phân. Các em có thấy một điều không hợp lý là, Vương Kiên hiện đang bị Mông cổ uy hiếp; mấy trăm cao thủ Hán, là một lực lượng mạnh vô cùng, ta trả cho ông thì ông mừng vô hạn. Việc gì ta phải gửi đặc sứ lên điều đình trước? Thôi Dã Tượng nói tiếp đi.

– Đúng như Hồng Nga bàn, tại sao mâm cỗ thịnh soạn đang trong tay ta, mà ta lại bưng cho Tống? Em ơi! Ta không hề biếu không, mà có điều kiện như bình dân nói: tiền trao, cháo múc.

Hồng Nga reo:

– Em hiểu rồi, đặc sứ Dã Tượng sẽ đặt điều kiện với Tống: Đại Việt biếu Tống mâm cỗ cao thủ, thì Tống phải tặng lại Đại Việt món gì chứ?

– Đúng vậy. Từ lúc Hồng Nga theo sứ đoàn, anh tưởng em chỉ xinh đẹp, hát hay, đàn giỏi. Thực không ngờ thông minh như vậy.

– Em là con cháu Bình Ngô đại tướng quân, Công chúa Thánh Thiên mà. Em xin góp thêm ý: nếu ta biếu Tống mâm cỗ cao thủ, chỉ là thịt, cá thôi, ta nên thêm xôi, chè, trái cây, thì ta có quyền treo cao giá.

Vương phi mở to mắt hỏi:

– Ý em nói?

– Hồi Mông cổ đánh ta, đám Hoa kiều lập thành mấy Vệ quân [Ghi chú: 1 vệ là 2.400 người] theo Mông cổ. Sau trận Đông bộ đầu, họ đầu hàng, tự giải tán. Phàm khi con người đã cắp gươm, cầm kiếm rồi, khó mà từ bỏ được. Ta để đám Hoa kiều này sống lẫn với dân chúng, nếu có dịp, chúng lại tụ nhau làm loạn, thì là mối lo cho ta. Nhân dịp này, ta họp các bang hội Hoa kiều lại, nói cho họ biết Mông cổ đang uy hiếp Hoa hạ. Ta khích động lòng yêu nước của họ, rồi tập trung họ lại thành mấy Vệ quân. Ta võ trang cho họ, huấn luyện họ dùng Đao quất, Khiên mây chống Lôi kị, rồi trao cho Tống cùng các cao thủ. Thế là ta vừa quét rác, vừa đem rác làm món hàng bán cho Tống.

Vũ Uy vương, vương phi, Tạ Quốc Ninh, Dã Tượng đều kinh ngạc về đề nghị của Hồng Nga. Tạ Quốc Ninh khen:

– Thầy già rồi, trí lự không nhậy cảm như xưa nữa, thầy không nghĩ tới điều con nghĩ. Vương, vương phi cũng không nghĩ tới. Con nói đúng, con là con cháu của Công chúa Thánh Thiên.

Vũ Uy vương nhìn Thanh Nga:

– Bây giờ em hiểu rõ tại sao Tạ hầu lại quyết gửi Thúy Hồng, mà không gửi em. Bởi đây là cuộc điều đình cực kỳ quan trọng, Dã Tượng tuy đã học tiếng Hán vùng Lâm An cũng khá, nhưng không đủ trong cuộc trao đổi quan trọng này.

Vương nhấn mạnh:

– Các em thử đoán xem, ta gửi Dã Tượng đi, như Hồng Nga nói: Đại Việt biếu Tống mâm cỗ cao thủ, thì Tống phải tặng lại Đại Việt món gì chứ?

Thanh Nga đã bớt nẫu, nàng nói:

– Trong lúc bị Ngột A Đa bắt, em nghe A Đa nói truyện với một người trang phục Đại lý, bằng tiếng Việt. Câu truyện có thể tóm lược như sau: Vùng biên giới ẩn náu rất nhiều bọn vong quốc, bọn đầu trộm đuôi cướp Việt, từng chạy sang Tống kiều ngụ. Tống cấp đất hoang vùng giáp biên Đại lý cho bọn này khai thác thành châu, động sinh sống. Chúng tổ chức quân đội, rồi thỉnh thoảng kéo về nước cướp bóc, xưng là con cháu vua Lê, con cháu vua Lý; thậm chí con cháu vua Đinh. Hiện giờ chúng đang gửi người sang Mông cổ, xin phong cho làm An Nam Quốc vương, tình nguyện làm gian tế, đi tiên phong đánh Đại Việt. Năm trước đây một bọn cướp xưng là con cháu vua Lý, đem một vạn lâu la, năm nghìn ngựa theo Ngột Lương Hợp Thai vào cướp phá. Bây giờ ta đặt điều kiện với Tống rằng: bọn gian mà Tống che chở, hiện chúng theo Mông cổ, như lưỡi kiếm đâm sau lưng Tống. Vậy sao Tống không bóp cổ chúng chết đi? Đương nhiên Tống phải diệt đám này. Nhưng đánh chúng thì Tống hao binh tổn tướng, trong khi chủ lực không đủ đối phó với Mông cổ. Ta sẽ đề nghị Tống để Đại Việt bắt gian tế Việt dùm Tống.

Hồng Nga reo:

– Hay, Thanh Nga hay. Đánh giết hết mấy châu, động cướp này, thì mình bớt đi mối lo gian tế cõng rắn về cắn gà nhà.

Dã Tượng xua tay:

– Không! Ta không giết hết các châu, động này.

Hồng Nga đứng dậy chắp tay:

– Em xin nghe cao kiến của anh.

– Bọn cầm đầu thường sai người về 207 châu, động biên giới của ta, dụ dỗ theo chúng. Khi họ sang các châu, động của chúng thì chúng quản chế gắt gao, bắt làm việc như trâu như ngựa. Dân chúng thù hận bọn tướng cướp này vô cùng tận. Nay nhân Tống phải lo chống Mông cổ, ta tiến quân vào bắt bọn thủ lĩnh, giải phóng cho dân chúng. Ta cử người có tài, có đức đặt lên làm động chủ, châu chủ. Thế là các vùng đất thuộc Tống, Đại lý là những mũi kiếm đâm ta, bây giờ ta biến thành lãnh thổ ta. Các đạo quân này lại là đạo quân tiên phong, phòng vệ biên giới cho ta.

Mặc Thanh Nga ngồi buồn rười rượi, vương nói với Dã Tượng:

– Đường từ đây đi Hợp châu không xa. Ta cho Thúy Hồng đi với cháu. Dọc đường mọi đối thoại cháu để Thúy Hồng lo liệu. Tuyệt đối tránh dụng võ, cần lấy nhu để giải quyết mọi sự. Ngày mai cháu lên đường.

Vương trao cho hai người mỗi người một cái hổ phù:

– Cấp bậc của Mông cổ chia ra Thập phu trưởng chỉ huy 10 tên kị binh. Bách phu trưởng chỉ huy 10 Thập phu. Thiên phu trưởng chỉ huy 10 Bách phu. Vạn phu trưởng chỉ huy 10 Thiên phu. Ngột Lương Hợp Thai chỉ được cấp hổ phù cho Thập phu, Bách phu, Thiên phu thôi. Còn Vạn phu trở lên do Hốt Tất Liệt cấp. Đây là hai tấm hổ phù của Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt cấp cho các cao nhân võ học Trung quốc theo trong quân. Hồi đánh Thăng long, các cao nhân hàng Đại Việt, họ trao cho Khu mật viện. Nay ta xử dụng, giả làm người của Hốt Tất Liệt. Người cầm hổ phù này được đối xử như một Vạn phu trưởng. Nếu như bọn Mông cổ có gây rắc rối gì thì hai cháu đưa hổ phù này ra, chúng phải sợ. Ta cũng cho một cặp chim ưng theo cháu, làm cầu liên lạc.

Tạ Quốc Ninh giảng cho Dã Tượng:

– Chúng ta đang ở Nguyên dương. Nguyên dương là thị trấn biên giới Đại lý, Đại Việt. Hai con thuê xe mà đi, không nên đi xe của mình. Xe của mình là chiến xa, do chiến mã kéo. Xe mình không có mã số của Đại lý thì không được quyền di chuyển trên đất nước người.

Hầu chỉ lên bản đồ:

– Từ Nguyên dương đi Hợp châu phải tới Độ khẩu bằng xe. Độ khẩu nằm trên Kim sa giang, chỗ này là biên giới Đại lý với Tứ xuyên của Tống. Phía Nam sông do Mông cổ trấn đóng. Phía Bắc do Tống. Hai bên đang giao chiến cả chục trận, bất phân thắng bại. Đến Độ khẩu thì dùng thuyền xuôi Trường giang đi Hợp châu.

Thúy Hồng hỏi:

– Thưa thầy, từ đây đi Độ khẩu chúng con phải mất thời gian bao nhiêu lâu? Qua những thị trấn nào?

– Ba ngày hai đêm. Các con khởi hành sớm thì tối tới huyện lỵ Trấn trì. Tại đây có một cái hồ cảnh trí rất đẹp. Nghỉ đêm. Hôm sau đi Côn minh. Nghỉ đêm tại Côn minh rồi sáng ngày thứ ba đi Độ khẩu. Nghỉ đêm tại Độ khẩu, sáng ngày thứ tư dùng thuyền đi Nam an rồi tới Hợp châu. Cũng có đường từ Trấn trì đi tắt qua Giang an. Song ít khi xe chịu chở khách qua đường này vì băng rừng nguy hiểm lại ghồ ghề.

Vương phi Ý Ninh nói với Dã Tượng, Thúy Hồng:

– Moị việc do Dã Tượng quyết định, nhưng chi tiêu, mua sắm thì Thúy Hồng đảm trách.

Nói rồi phi trao cho Thúy Hồng mấy nén bạc, mấy nén vàng:

– Đây là vàng, bạc Đại Việt. Trong ba lọai vàng, bạc của Tống, của Đại lý, của Đại Việt; thì vàng, bạc Đại Việt có giá nhất, vì thuần. Còn vàng bạc Tống, Đại lý không thuần.

Thanh Nga dặn Thúy Hồng:

– Em trao cho chị nuôi ông chồng khổng lồ của em. Anh ấy ăn nhiều gấp ba người thường. Chị nuôi sao cho béo, lúc về mà anh ấy gầy thì em bắt đền đấy.

Dã Tượng trở về lều mình, chuẩn bị hôm sau lên đường. Vừa vào trong lều, bất giác chàng giật bắn người lên, vì một bóng đen vỗ vào vai chàng hai cái rồi tung mình chạy. Nghi là gian tế, chàng dùng khinh công đuổi theo. Tuy trong bóng đêm, nhưng chàng cũng nhận ra bóng đen đó là một nhà sư. Nhà sư như trêu chàng, cứ chạy trước chàng khoảng 10 trượng. Chàng đuổi nhanh, nhà sư cũng chạy nhanh. Chàng đuổi chậm, nhà sư cũng chạy chậm. Tới một con suối, thình lình nhà sư dừng lại, Dã Tượng đâm sầm vào nhà sư. Người chàng bật tung về sau hơn hai trượng. Vừa đứng vững, chàng bị nhà sư dùng tay đẩy vào ngực. Chàng dùng tay phải đẩy vào tay nhà sư. Nhà sư đứng vững như tượng đá, mặc chàng vận khí hít hơi đẩy, nhưng không nhúc nhích.

Dã Tượng kinh ngạc, vì là tướng trâu, chàng từng dẩy ngã con trâu mộng như không, thế mà nay đẩy một nhà sư gầy guộc lại không chuyển động.

Thình lình nhà sư vọt mình lên cao, Dã Tượng bị mất đà lộn đi ba vòng mới đứng đậy được.

Nhà sư lên tiếng:

– Người có thể lực cao lớn 8 thước [1 thước = 25 cm], nổi danh là voi đồng, tự cho là khỏe nhất trong đội Ngưu binh. Nhưng người chỉ là cái bị thịt mà thôi. Người có ba cái bệu, người có biết không?

– Tại sao đại sư bảo tôi có ba cái bệu?

– Này nhé, người cao như vậy mà chạy chậm hơn ta là một cái bệu. Người to lớn như vậy mà đụng vào ta, bị bật tung lên đến mấy trượng là hai cái bệu. Bàn tay người to gấp ba bàn tay ta, mà bị ta đẩy văng đi là ba cái bệu. Người có công nhận không?

Dã Tượng còn đang suy nghĩ thì nhà sư tiếp:

– Ngày mai người lên đường, lĩnh trọng trách của đất nước, biết mình bệu mà không chịu bỏ cái kiêu khí đi, thì sao thành công được?

Dã Tượng biết đây là cao nhân, xuất hiện có mục đích cao xa, chàng khoanh tay:

– A Di Đà Phật! Quốc Kinh này vốn là trẻ chăn trâu, kiến thức hủ lậu. Mong đại sư bổ khuyết cho những khiếm khuyết.

– Ta không đủ tư cách dạy người. Có vị cao nhân trong nhà người sẽ dạy người.

Nói rồi nhà sư vọt mình biến vào rừng. Dã Tượng bâng khuâng trở về lều, thì thấy Hưng Ninh vương ngồi đó từ bao giờ. Chàng hành lễ:

– Cháu xin ra mắt bác.

– Cháu hiểu rõ những gì nhà sư trẻ nói với cháu chưa?

– Cháu u tối lắm. Xin bác đừng tiếc công chỉ dạy.

– Trời cho cháu một cơ thể hùng vĩ, một sức khỏe siêu việt. Bác đã thấy cháu đứng cản chiến mã Mông cổ, hai tay chụp hai chân trước chiến mã, rồi vật ngã. Cháu đã chế ra Đảo mã cửu lộ. Pho võ công này tuy tinh diệu, nhưng phải dùng lực. Lực con người khi đối diện với những người luyện khí công như nhà sư trẻ thì hóa ra vô dụng.

Nghe Hưng Ninh vương giảng, Dã Tượng toát mồ hôi lạnh: mình cứ ỷ vào sức khỏe, cũng may chưa gặp những đối thủ công lực cao, bằng không đã mất mạng rồi.

Hưng Ninh vương như đọc được suy nghĩ của Dã Tượng. Vương nói:

– Từ hôm được Hưng Đạo vương nhận làm con nuôi, con đã học được những loại võ công nào?

– Tuyên minh thái hoàng thái hậu đã dậy con bộ Đông A chưởng pháp, bộ Thiên la thập bát thức. Vũ Uy vương đã dạy con tất cả những võ công căn bản của phái Đông A. Vương phi giảng cho con tất cả tinh yếu võ thuật Đại Việt.

– Như vậy con chỉ mới học ngoại công, rồi dùng sức khỏe xử dụng, chứ chưa học khí công?

– Vâng!

– Được, ta sẽ dạy con. Hôm nay ta dạy con một thức khí công nhà Phật, gọi là Tiêu sơn hóa tinh pháp.

Hưng Ninh vương giảng:

– Phàm muốn làm anh hùng, muốn thành một đại tướng, một trượng phu thì phải thoát ra khỏi đường tình. Cái tên A Truật kia vì say mê Ý Ninh, suýt mất mạng tại Phù lỗ, mà vẫn chưa tỉnh. Con còn trẻ, phải lấy đó làm gương.

Dã Tượng vốn coi ông bác mình như một vị Bồ tát, chàng hỏi:

– Thưa bác, con nghĩ làm trai ai cũng lấy vợ sinh con. Như bác nói, phải thoát khỏi đường tình thì làm sao mà có con nối dõi tông đường được?

Hưng Ninh vương nhìn Dã Tượng như thầy nhìn trò:

– Con hỏi như vậy thì con chưa hiểu rõ giữa việc lấy vợ, sinh con và đường tình. Đường tình là gì? Là tình yêu trai gái quá độ, đến si mê, đến quên cả luân lý, quên cả gia cương, quên cả nguy hiểm, quên cả đất nước.

– Dạ con hiểu rồi. Nếu như trai gái kề cận nhau, thần trí u mê, không giữ được thân thể, có cách nào vượt qua không?

– Có! Để bác dậy cho.

– Con xin lắng nghe lời bác.

– Khi gặp hoàn cảnh bị sắc đẹp thu hút, tạo thành những ham muốn dục vọng, thì phải lấy những đạo lý cao đẹp ra trấn áp. Đạo lý đó như: lời dậy của cha mẹ, của thầy, những ý tưởng cao đẹp trong chủ đạo tộc Việt, những lời dậy thâm sâu trong kinh Phật. Như con, con lấy những cảnh Mông cổ giết người tàn bạo ra trấn áp rằng: “Ta phải gạt bỏ những lạc thú nhất thời, bỏ hết để bảo quốc, để cứu dân.

– Nếu như nhục dục mạnh quá đáng thì phải làm sao? Như tát mình, bẹo mình có được không?

– Có! Trong nhà Phật có một thức Thiền công, mang tên Tiêu sơn hóa tinh pháp. Thức này giúp tăng ni vượt qua được những cơn đòi hỏi của thân xác. Đạo lý Phật-giáo chủ diệt dục: tham, sân, si. Dâm là một giới bị cấm ngặt. Nhưng các tăng-ni tu luyện khí công thì tinh, thần, khí phải đồng thăng tiến. Mà cả ba thăng tiến, thì dục cũng tăng theo, nên đường tu hành gặp khó khăn. Vậy phải làm sao hóa tinh di, mới có thể tiếp tục đường tu.

– Con không hiểu rõ những gì là tinh, là khí.

– Con không hiểu là phải. Này con, tạo hóa sinh ra loài người, đều có tinh khí do cha mẹ (Tiên thiên khí) và do ăn uống (Hậu thiên khí). Ngoài ra nội thể tự sinh, ngoại cảnh kích động, khiến tham dục. Khi tham dục, tinh khí chạy hỗn loạn. Hỗn loạn không qui liễm được thì trở thành cuồng loạn, thần bị ức chế dễ lạc vào tà ma, dâm đãng. Khi luyện ngoại-công, khí-công, chủ yếu là đi đến tinh, thần, khí sung mãn. Nhưng nếu cứ để tinh khí chạy loạn, rồi tìm thú nhục dục, để tinh thoát ra ngoài, hoặc thoát ra trong giấc mộng… Thì trong ba yếu tố chỉ còn thần, khí mà thôi. Như vậy chân khí không mạnh, thần lực không phát đầy đủ, nên chi phải dùng khí-công thu liễm tinh-khí.

Dã Tượng như người mù được mở mắt. Chàng phát biểu:

– Con thử tóm lược, xin bác chỉ cho chỗ sai. Tinh khí nảy sinh do ba nguyên lý:

Do cơ thể tự nảy sinh.

Ngoại cảnh như ăn, uống, ngắm nhìn.

Nội tâm như đọc sách suy tư.

Tập luyện. Tập luyện để tăng cường, tinh, thần, khí.

– Giỏi. Nếu để tinh xuất, thì chỉ có thần, khí mạnh. Thần lực không phát ra được. Vậy cần thu liễm tinh lại, không để xuất ra ngoài.

– Thưa bác tại sao khi tinh khí sung mãn thì dương vật chướng lên?

– Theo Thiền-Việt thì khi tinh khí sung mãn, dương vật chướng lên là do các nguyên nhân sau: nhìn cảnh dâm bôn, tư tưởng không tự chế, tức thần yếu. Đọc sách, liên tưởng, chia trí, không giải trừ tạp niệm, tư tưởng tự do đi vào đường dâm đãng. Khi nam gần nữ, nữ gần nam. Bị kích thích bởi ngoại lực, nội khí. Trong giấc ngủ tư tưởng buông lỏng. Vì vậy Thiền-khí-công Việt đưa ra 4 phương pháp thu liễm tinh khí, tức luyện công hóa khí, để giúp dễ tu luyện tập võ công, nhất là cho Phật-gia đệ tử giải thoát được những cơn ám ảnh sinh lý. Các thức đó là hóa tinh pháp.

Vương moi trong bọc ra ba miếng gỗ trầm rất mỏng, trên khắc chữ cùng đồ hình trao cho Dã Tượng:

– Đây là yếu chỉ Tiêu sơn hóa tinh pháp. Con giữ lấy, khi rảnh rỗi thì mang ra luyện. Trước là công lực thêm mạnh, sau là thần trí thanh thản. Ba là chống được nhục dục đòi hỏi.

Vương lại đưa cho Dã Tượng tập sách mỏng:

– Đây là yếu chỉ của thượng thừa khí công Đại Việt tên Vô ngã tướng thiền công. Muốn luyện Vô ngã tướng thiền công thì phải thông một trong ba kinh Kim cương, Lăng già, Tượng đầu tinh xá. Tuy nhiên, những người tâm tính chân chất như con thì chỉ cần thông Bát nhã ba la mật đa tâm kinh cũng đủ. Con có biết kinh này không?

Gì chứ kinh Bát nhã thì hồi thơ ấu ở trong chùa, Dã Tượng đã tụng hàng trăm, hàng nghìn lần:

– Thưa bác có ạ. Con thuộc lòng kinh này.

– Con đọc thử.

Quán tự tại Bồ tát,  Hành thâm Bát nhã Ba la Phật đa thời, Chiếu kiến Ngũ uẩn giai không (…) Sắc bất dị không, Không bất dị sắc, Sắc tức thị không, Không tức thi sắc…

– Con có hiểu bốn câu này không?

Dã Tượng ngây người ra, rồi chắp tay:

– Thưa bác con chỉ tụng như con vẹt, mà không hiểu gì. Xin bác thương xót khai tâm cho con.

– Được ta sẽ vì con mà giảng.

Vương giảng chi tiết Ngũ uẩn, Lục tặc, thế nào là sắc, thế nào là không. Tại sao sắc, không lại không khác nhau. Cuối cùng vương chỉ vào viên gạch:

– Con xòe bàn tay ra, rồi vỗ thử lên viên gạch một cái, xem lực của con đến đâu.

Dã Tượng làm theo, viên gạch vỡ làm ba, bốn miếng. Bàn tay chàng đau ê ẩm. Vương lại bảo:

– Con dùng ngón tay chỏ đâm vào cái cọc lều một cái xem sức ngón tay ra sao.

Dã Tượng làm theo. Ngón tay chàng đau nhói một cái.

– Con nhún chân, nhảy lên cao cho bác xem nào!

Dã Tượng tung mình lên, nhưng chân không qua khỏi nóc lều.

Vương mỉm cười như Phật Di Lặc:

– Con ngồi theo thức Kiết già! Rồi, hai tay chắp trước ngực! Nhắm mắt lại! Rồi! Bỏ ra nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý. Rồi… Con hít hơi dẫn khí theo vòng Tiểu chu thiên.

Dã Tượng như người đi vào giấc mộng, không còn biết sự vật xung quanh. Cứ như vậy chàng trầm vào cõi vô hư vô không biết bao nhiêu lâu. Thình lình có bàn tay để lên huyệt Bách hội, chàng tỉnh lại, mở mắt ra. Hưng Ninh vương bảo:

– Con thử nhảy lên xem nào.

Dã Tượng tung mình lên cao, chân chàng vọt qua nóc lều đến nửa trượng. Chàng chưa hết kinh ngạc, Hưng Ninh vương chỉ viên gạch khác:

– Con thử vỗ lên viên gạch xem.

Dã Tượng vỗ thử, bộp một cái, viên gạch vỡ nát ra thành miếng nhỏ. Vốn thông minh, chàng hiểu ngay:

– Ông bác đã dạy chàng thức Thiền công tối cao, nên thân thể nhẹ nhàng, bàn tay đầy chân khí, khiến gạch vỡ vụn. Ta thử đâm ngón tay vào gỗ xem.

Chàng chĩa ngón tay chỏ đâm vào cột lều. Phụp một tiếng, ngón tay chàng đục một lỗ sâu vào cột đến hai đốt.

Chàng mừng chi siết kể:

– Đa tạ bác đã dậy con…

Khi nhìn lên thì Hưng Ninh vương đã không còn ngồi đó nữa. Chàng than:

– Chúng nhân nói ông bác mình là một vị Bồ tát rồi, quả đúng. Mình mới tập một lúc mà công lực đã biến đổi như vậy. Nếu mình luyện năm này qua năm khác thì khi xử dụng Đảo mã cửu lộ sẽ mạnh vô biên.

Sáng hôm sau, trong khi mọi người còn mơ màng trong giấc điệp, thì Dã Tượng cùng Thúy Hồng mặc quần áo như người Đại lý, ra bến xe Nguyên dương.

Nguyên dương có ba bến xe lớn. Một bến xe đi Đại Việt, có ba hãng xe mang tên Phù đổng, Thanh long và Long mã. Hầu hết xe của các hãng này đều lớn, do bốn ngựa kéo. Mỗi xe chở từ 15 tới 20 người. Một bến xe rất phức tạp, nhiều xe, xe đều nhỏ, chỉ có một ngựa đi đường gần, không quá trăm dặm, mỗi xe chỉ chở được 2 đến 3 người. Bến xe thứ ba tổ chức rất quy mô, có bốn hãng mang tên Phi mã, Thần mã, Linh mã và Thiên mã. Xe của bốn hãng này có hai loại, song mã và tứ mã. Song mã chở từ 6 người tới 10 người. Tứ mã chở 15 người tới 20 người.

Dã Tượng đến hãng Phi Mã, ngỏ ý muốn đi Độ khẩu. Chủ hãng là một trung niên thiếu phụ khá xinh đẹp. Bà lắc đầu nói tiếng Quảng:

– Quan khách không gặp may rồi. Hiện hãng của chúng tôi không có chuyến nào đi đường xa như vậy. Phải khi nào đủ 15 người trở đi chúng tôi mới tổ chức một chuyến. Vậy xin quý khách phải chờ.

Bà nhắc lại:

– Ít ra là mười ngày.

Thúy Hồng hỏi:

– Có trường hợp nào ngoại lệ không?

– Có đấy. Trước hết quý khách đi Côn minh. Tới Côn minh quý khách thuê xe hãng khác đi Độ khẩu. Hoặc giả quý khách bao trọn chuyến đi thẳng Độ khẩu thì mau hơn.

Thúy Hồng đưa mắt nhìn Dã Tượng rồi hỏi:

– Thế giá cả ra sao?

– Nếu quý khách chờ chuyến đủ 20 người thì 1 lượng một người. Dọc đường có nhiều trạm nghỉ, quý khách được mời uống nước, ăn ngày ba bữa cơm. Đến Trấn trì, Côn minh quý khách qua đêm tại hãng của chúng tôi. Còn như quý khách bao chuyến thì chỉ 12 lượng bạc thôi.

– Vậy thì tôi xin thuê bao một chuyến đi Độ khẩu.

Thiếu phụ nhìn Dã Tượng, Thúy Hồng, bà ta thấy hai người trang phục như người Đại lý thì tưởng là người địa phương. Bà nói tiếng Thái:

– Tôi sẽ cho xe Phi mã số 3 chở quý khách. Phu xe tên Phi mã đệ tam. Gọi tắt là A Tam. Không biết quý khách đây xưng hô thế nào?

Thúy Hồng trả lời bằng tiếng Thái:

– Chồng tôi họ Trần. Xin cho chúng tôi lên đường ngay.

Xe được đánh ra sân hãng.

Thúy Hồng móc túi trả 12 lượng bạc. Bà chủ thấy trên nén bạc có hình con chim ưng thì vui vẻ:

– Bạc Đại Việt đây. Giá bạc Đại Việt rất cao, vì bạc ròng không pha như bạc Tống hay Đại lý. Chúc quý khách thượng lộ bình an.

Chiếc xe tứ mã khá lớn, dùng để chở 20 người, bây giờ chở có hai người, nên ghế được bỏ bớt lại.

Tuy chỉ mới học võ từ hôm theo sứ đoàn, nhưng bản lĩnh Thúy Hường cũng kha khá, nàng tung mình kên xe ngồi vào ghế giữa. Gió thổi làm y phục nàng bay phất phới, Dã Tượng suýt xoa:

– Em tôi đẹp quá.

(Hết Hồi 57)

Share this post