Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 60

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 60

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ SÁU MƯƠI
Nguyên tổ họ Lý Hàn-quốc

Dã Tượng vui vẻ:

– Cô nương ở mãi bên Trung nguyên mà cũng theo dõi được tình hình Đại Việt nhỉ.

Như Lan lắc đầu:

– Tôi không hề ở Trung nguyên. Tôi chỉ mới đến Trung nguyên chưa đầy một năm.

Nhà sư cau mày suy nghĩ, rồi hỏi Dã Tượng:

– Trần thí chủ, hồi nãy thí chủ đấu mấy chiêu với Như Lan, rõ ràng là võ công Đông a chính tông, tại sao nội công lại là Vô ngã tướng thiền công của phái Tiêu sơn. Dường như thí chủ mới luyện Thiền công không lâu, nên công lực không mạnh. Sở dĩ thí chủ đấm vỡ con ngựa gỗ là do thần lực cá nhân mà thôi.

Dã Tượng đáp thực tình:

– Kiến thức đại sư thực bao la. Quả đúng như đại sư nói. Tiểu bối học võ công căn bản với Vũ Uy vương. Vương là con của Thái thượng hoàng đế, đương nhiên là võ công Đông a. Còn Vô ngã tướng thiền công của vãn bối thì do một cao nhân của phái Trúc lâm yên tử truyền cho.

– À thì ra thế.

Nhà sư hướng cây đại đao móc một cái, cây đại đao bật tung lên. Ông múa thử mấy chiêu, rồi lắc đầu nói với Dã Tượng:

– Nặng thế này mà ban nẫy thí chủ múa coi nhẹ nhàng như múa cây roi! Thần lực của thí chủ thực bần tăng mới thấy lần đầu. Thí chủ không hổ thẹn với mỹ danh Dã Tượng.

Những ngày chiến đấu tại Bắc cương, rồi những ngày theo sứ đoàn, Dã Tượng học được cung cách ôn nhu, văn nhã của Vũ Uy vương. Chàng chỉ mấy cái ghế ngoài hành lang đền, nói với nhà sư và Như Lan:

– Kính thỉnh đại sư! Kính mời cô nương! Chúng ta cùng ngồi, cùng trao đổi câu truyện.

Nhà sư cố ý để Lý Long Vân ngồi trên, ông ngồi thứ nhì, rồi đến Như Lan và năm gã áo đen. Dã Tượng ngồi vào vai chủ vị, thứ đến Thúy Hồng và Tô lịch thất tiên.

Vừa ngồi xuống, Thanh Hoa chỉ gã thanh niên:

– Tên vong quốc kia! Mi tới đây từ bao giờ?

Thanh niên trả lời bằng tiếng Hoa:

– Thái sư nói rằng bẩy vị cô nương bị bọn Tống bắt. Người sai tôi đi cứu các vị cô nương.

Dã Tượng hỏi:

– Thái sư nào?

– Ngài tên là Ngột Lương Hợp Thai.

Dã Tượng than thầm:

– Thì ra bọn này là người của Mông cổ.

Thanh Hoa hừ một tiếng chỉ gã thanh niên, hỏi Như Lan:

– Người là một cô gái đẹp, bản sự cũng vào hạng thượng thừa, tại sao người lại đi cùng với tên ghẻ lở này?

Cô gái vẫn cười:

– Tên ghẻ lở đó cũng ở trong đền này với cô, chứ đâu phải mình tôi? Này cô, tục ngữ Việt có câu “gái đĩ già mồm, cái trộm già miệng. Cô đừng tưởng mình từng là gái đĩ ở Thăng long, rồi làm gái đĩ với Mông cổ, mà dở giọng đầu đường xó chợ ra với tôi, trong khi cô chưa biết tôi là ai.

Thanh Hoa vẫn cứng đầu:

– Tôi cứ già mồm thì cô làm gì được tôi nào?

Chỉ thấy thấp thoáng một cái, Như Lan đã xẹt đến bên Thanh Hoa, rồi trở lại, tay nàng ném chiếc giầy xuống đất. Thanh Hoa thấy má mình bị quệt hai cái, nàng đưa tay sờ lên, thì ra Như Lan đã rút chiếc giầy quệt lên má nàng.

Như Lan cười nhạt:

– Cô mà còn dở giọng vô học bất thuật ra với tôi, thì tôi không giết cô đâu; mà chỉ rạch lên mặt cô vài nhát dao, biến bộ mặt xinh đẹp của cô thành bộ mặt nửa người, nửa quỷ, cho cô hết kiêu căng.

Thanh Hoa run run ngồi im.

Hồng Hoa hỏi gã thanh niên:

– Mi xưng là con cháu của vua Lý Nhân tông, mà lại đi cúi đầu tuân lệnh mấy tên mọi Mông cổ, truy tìm chúng ta. Xưa kia vua Lý Nhân tông anh hùng là thế, mà nay con cháu sao lại hèn hạ như mi. Ta không tin mi là con cháu của người.

Dã Tượng kinh ngạc:

– Cứ như ngôn từ của Hồng Hoa thì cái gã xưng Thái tử này đã làm những việc phản dân hại nước. Hơn nữa đang theo Mông cổ. Dường như gã từng có hành vi ác độc với 7 nàng cũng như vợ tên Trịnh Ngọc.

Dã Tượng lên tiếng trước:

– Bạch đại sư, chúng ta đều là người Việt, vậy cuộc thảo luận này sẽ nói tiếng Việt. Nhưng còn Thái tử Long Vân?

Lý Long Vân đỏ mặt lên vì ngượng. Y nói tiếng Hán:

– Tôi nói tiếng Việt không giỏi, nhưng các người nói, tôi hiểu hết.

Hồng Hoa nói cạnh bằng tiếng Hoa :

– Y xưng là giòng dõi vua Lý, mà không biết nói tiếng Việt. Rõ chán! Y đang chạy theo bọn Mông cổ, phủ phục, bợ đít xin chúng cho chức An Nam Quốc vương rồi về ngồi trên đầu trên cổ dân chúng đấy.

Hồng Hoa là người nhiều mưu trí, nàng hỏi Dã Tượng:

– Quốc Kinh đệ! Đệ là Tả thiên Ngưu vệ thượng tướng quân! Hơn nữa đệ lại là khâm sứ. Còn chúng ta là con dân Đại Việt. Chúng ta bị cái tên mặt dơi Lý Long Vân truy bắt, cầm tù, tức y là giặc cướp. Một tướng quân khi gặp bọn cướp không thể không tru diệt. Một khâm sứ khi ra ngoài được toàn quyền tiền trảm hậu tấu. Đệ đệ hãy nắm cổ cái tên ghẻ lở Lý Long Vân, vật chết nó đi.

Mặt Lý Long Vân tái như gà cắt tiết.

Dã Tượng đi một vòng giới thiệu, rồi nói với Thất tiên:

– Xin các chị bớt giận, để tôi điều tra xem y là ai đã.

Chàng hỏi nhà sư :

– Đệ tử không dám thỉnh pháp danh đại sư.

– Bần tăng là Huệ Đăng thuộc phái Tiêu sơn.

Dã Tượng, Thúy Hồng cùng kêu lên tiếng úi chà kinh ngạc. Vì hai người thường được bản sư kể cho nghe: cách dây 32 năm, đại sư Huệ Đăng là một vị cao tăng, Phật pháp uyên thâm thuộc giòng Tiêu sơn. Sư thường được triều đình thỉnh về Thăng long thuyết pháp. Mỗi lần ngài thuyết pháp, thính chúng có hằng vạn người từ khắp nơi về nghe. Thế rồi thình lình ngài biến mất, không ai biết ngài vân du nơi đâu? Sư chính là bản sư đầu tiên của Thượng hoàng.

Dã Tượng đứng dậy vái chào:

– Đệ tử kính cẩn ra mắt đại sư. Hồi đệ tử còn chăn trâu cho chùa ở Thiên trường, từng được nghe sư phụ nói về đại sư. Hôm nay có duyên được diện kiến.

Huệ Đăng cười mà không phải cười:

– Bần tăng bỏ nước ra đi thoắt một cái đã 32 năm.

Từ lúc được Như Lan lau mặt tỉnh lại, Hồng Hoa thấy Lý Long Vân cứ dán mắt vào nàng. Kinh nghiệm mấy năm hát tại Quán văn Tô Lịch, có không biết bao nhiêu người từng say mê sắc đẹp của mình. Nàng từng dùng khóe mắt, nụ cười bắt những người dân ông say mê mình như bắt con thỏ. Bây giờ thấy Lý Long Vân lưu vong ở bên Trung nguyên mà còn cố bám lấy cái mã bề ngoài, xưng là Thái tử. Một cảm giác lợm giọng dâng lên, nàng nghĩ thầm: mình cần giam tên này vào lưới tình cho bõ ghét. Nghĩ là làm, nàng nghiêng nghiêng đầu, liếc mắt đưa tình, rồi mỉm cười. Nàng nói tiếng Hán:

– Thái tử, năm nay niên kỷ Thái tử bao nhiêu?

– Cô gia 25 tuổi.

– Thái tử thuộc giòng nào của triều Tiêu sơn?

– Cô gia thuộc giòng chính, hậu duệ của vua Lý Nhân tông.

– Tôi không tin. Chị Bạch Hoa nói Thái tử là con một tên trộm trâu mà. Nếu tôi không bị bắt, tôi có thể đem một tên trộm trâu, trộm chó ra rồi giới thiệu: đây là chú vua Lý Huệ tông cũng được.

Mặt Long Vân vẫn trai lỳ:

– Tôi có chứng cứ.

Long Vân móc trong bọc ra một tập sách mỏng rồi đọc:

Đức Thái tổ bản triều, là con nuôi của Bồ tát Lý Khánh Vân, húy Công Uẩn, lĩnh Điện tiền chỉ huy sứ dưới triều Lê. Khi Lê Ngọa triều Long Đĩnh băng, người ứng lòng trời, thuận lòng người lên ngôi cửu ngũ. Được quần thần tôn hiệu:

Phụng thiên, chí lý,
Ứng vận, tự tại,
Thánh minh, long hiện,
Duệ văn, anh vũ,
Sùng nhân, quảng hiếu,
Thiên hạ thái bình,
Khâm minh, quang trạch,
Chương minh, vạn bang,
Hiểu ứng, phù cảm,
Uy trấn phiên man,
Duệ mưu, thần trợ,
Thánh trị, tắc thiên,
Đạo chính, hoàng đế.

Kế tục, đức Thái tông dẹp loạn chư vương Đông Chinh, Dực Thánh, Vũ Đức, lên ngôi, tôn hiệu là:

Khai thiên, thông vận,
Tôn đạo, quý đức,
Thánh văn, quảng vũ,
Sùng nhân, thượng thiện,
Chính lý, dân an,
Thần phù, long hiện;
Thể nguyên, ngự cực,
Ức tải, công cao,
Ứng chân, bảo lịch,
Thông huyền, chí áo,
Hưng long, đại định,
Thông minh, từ hiếu,
Thiên thành hoàng đế.

Đức Thái tông băng, đức Thánh tông kế vị, quần thần tôn hiệu là:

Ứng thiên, sùng nhân,
Chí đạo, uy khánh,
Long tường, minh văn,
Duệ vũ, hiếu đức,
Thánh thần hoàng đế.
Đức Thánh tông băng, đức Nhân tông kế vị, tôn hiệu là:
Hiếu từ, thánh thần,
Văn vũ hoàng đế.

Khi đức Nhân tông băng, để di chiếu cho Thái tử là Lý Thân Lợi kế vị, nhưng bọn gian thần lấy lý rằng Thái tử là con người thiếp, nên lập con của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán lên kế vị, tiếm xưng Thần tông.

Thái tử Thân Lợi cùng mẹ trốn lên vùng Bắc cương. Năm Tân Dậu (1141) khởi binh tại châu Thái nguyên. Nghĩa quân từ Tây nông tiến ra Lục lệnh, chiếm châu Thượng nguyên và Hạ nông. Ngụy vương sai Gián nghị đại phu Lưu Vũ Xứng, cùng tướng Tô Tiệm, Trần Thiềm đi đường bộ, Thái phó Hứa Viêm đi đường thủy. Tất cả bị nghĩa quân của Thái tử phá tan, các ngụy tướng chết hết.

Thái tử đem quân các châu Thượng nguyên, Tuyên hóa, Cảm hóa, Vĩnh thông chiếm được phủ Phú lương. Nhưng vì quân ít thế cô, Thái tử bị bắt, bị giết.

Con của Thái tử là Lý Long Chương dẫn nghĩa quân chạy sang nương nhờ Tống. Tống cho hai động Văn sơn, Khâu bắc giữa biên giới Tống – Đại-lý – Đại việt làm nơi đóng quân, tuyển mộ sĩ tốt, chờ ngày phục quốc.

Long Vân gấp sách lại, tiếp:

– Cô gia là cháu nội của Thái tử Lý Long Chương.

Hồng Hoa lại liếc mắt đưa tình:

– Thế từ hồi đó đến giờ phụ thân của Thái tử đã tiến quân về Đại Việt bao nhiêu lần?

– Tất cả bẩy lần, nhưng không thành công.

– Lần tiến quân mới nhất cách đây bao nhiêu lâu?

– Bẩy năm. Trong lần nhập Việt này, phụ thân tôi bị trúng tên tử thương. Tôi đem xác người về an táng, rồi lên ngôi.

– Hiện giờ Thái tử có bao nhiêu quân, đóng ở đâu?

– Cô gia không có thủy quân, bộ binh hơn năm vạn, kỵ binh năm nghìn. Nếu khi cần, tất cả nam nữ đều cầm vũ khí có thể tới 7 vạn.

Tử Hoa khinh bỉ:

– Nếu tôi cũng kiếm một tên thầy cúng, nhờ y chép cho tập giấy rằng tôi là giòng dõi vua Lý Anh tông cũng được đi. Tôi không tin cái danh con cháu vua Lý Nhân tông của người!

Dã Tượng hỏi Long Vân:

– Thế cô nương Như Lan với Thái tử là chỗ thế nào?

– Nàng là phi tần của tôi.

Như Lan lách tay tát vào mặt Long Vân, bốp, bốp:

– Cho chừa cái miệng nói láo.

Mặt Long Vân bị hai cái tát, đỏ ửng lên.

Như Lan lắc đầu:

– Giữa y với tôi không có một chút quan hệ nào cả.

Lúc đầu thấy Như Lan xuất hiện với Long Vân, ai cũng tưởng nàng phải là người thân thiết với y. Bây giờ thấy nàng tát y, ai cũng kinh ngạc.

Long Vân nổi cáu:

– Người nói như vậy là quên nguồn gốc quả núi Tiêu sơn rồi. Người với ta cùng là con cháu của vua Lý Thái tổ, mà người chối ư?

– Ta là con cháu vua Lý Thái tổ thì đúng. Còn mi, mi là con cháu tên thầy bói trộm trâu.

Như Lan không lý đến lời Lý Long Vân, nàng nói với Dã Tượng:

– Trần tướng quân. Chắc tướng quân muốn biết tôi là ai phải không?

– Tôi biết cô nương từ lâu rồi.

Như Lan kinh hoảng:

– Vậy gốc gác tôi thế nào?

– Nhà cô nương ở trên cung Quảng. Tên cô nương không phải Như Lan mà là Hằng Nga. Đêm qua cô cỡi hạc xuống đây.

Bẩy nàng Tô Lịch tỏ vẻ phản đối:

– Vừa xấu, vừa dữ mà là Hằng Nga ư?

Thúy Hồng nghe Dã Tượng có những lời ngọt ngào, thân thiết với Như Lan, nàng linh cảm như sắp mất một báu vật, nàng hừ một tiếng. Như Lan biết ngọn lửa ghen trong lòng Thúy Hồng, nàng nghĩ thầm:

– Cái anh chàng khổng lồ này là ai? Còn cô gái đẹp như hoa này là ai? Mà khi thì xưng là vợ chồng! Khi thì xưng là anh em, khi thì nói thuộc sứ đoàn Đại Việt. Bất biết cô là ai, mà cô tỏ ra ghen với mình thì mình trêu cho bõ ghét. Nàng liếc mắt nở nụ cười với Dã Tượng:

– Tướng quân khéo đùa thì thôi. Tôi họ Lý, tên Như Lan. Tôi là con gái út của Thái sư thượng trụ quốc, Đại đô đốc, tước phong Kiến bình vương. Tôi được phụ vương gửi đến đây kiếm một ông chồng. Nhưng tôi chưa gặp người như ý.

Hoàng Hoa bực mình hỏi:

– Thì ra là quận chúa phủ Kiến bình đấy. Thế người mà quận chúa chọn phải như thế nào?

– Một là phải thực cao lớn! Hai là phải có huân công với xã tắc. Ở đây có Tả thiên ngưu vệ thượng tướng quân vừa khôi ngô, vừa cao lớn như Hộ Pháp, vừa có huân công. Nhưng… có vợ rồi! Chán quá.

Nàng hướng Thúy Hồng, hát bâng quơ:

Của chua ai thấy chẳng thèm,
Em cho chị mượn chồng em vài ngày.

Thúy Hồng uất lên, nhìn Như Lan như tóe lửa.

Tất cả mọi người cùng ồ lên.

Thanh Hoa nói bâng quơ:

– Cô bảo cô là Quận chúa! Chưa chắc! Lấy gì làm bằng chứng?

Hồi mới được Hưng Đạo vương nhận làm con nuôi, Dã Tượng vào sống trong vương phủ. Hằng ngày, các vương tử, quận chúa, gia tướng đều phải nghe gia sư, trưởng sử giảng sách. Một buổi, gia sư giảng về giai đoạn từ triều Lý chuyển qua Trần có đoạn:

Niên hiệu Kiến trung thứ nhì (Đời vua Trần Thái tông, 1226) Đại đô đốc là Kiến bình vương Lý Long Tường cùng gia thuộc trên sáu nghìn người bôn xuất. Không biết đi đâu.

Lý Long Tường là hoàng tử thứ 6, con vua Lý Anh Tông, do Hiền-phi Lê Mỹ Nga, sinh vào niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 12 (DL.1174, Giáp-Ngọ). Kiến Trung hoàng đế (tức Trần Thái tông) phong chức tước phong như sau:

Thái-sư Thương-trụ quốc,
Khai-phủ nghị đồng tam tư,
Thượng-thư tả bộc xạ,
Lĩnh đại đô đốc,
Tước Kiến Bình vương.

Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời đức Kiến Trung nhà ta (1226 tức Trần Cảnh), tháng tám, ngày rằm, vương cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người bôn xuất.

Bây giờ gặp Như Lan, chàng chắp tay vái:

– Thì ra cô nương là quận chúa con của Kiến bình vương đấy. Vậy hiện vương gia ở đâu?

– Tại vùng Hoa sơn bên nước Cao ly.

– Xa quá! Quận chúa năm nay bất quá 19 hay 20 mùa xuân trên mái tóc. Mà vương gia ra đi đã 32 năm. Như vậy quận chúa sinh ra trên đất Cao ly. Thế mà quận chúa nói tiếng Việt văn chương muốn hơn gã mục đồng này.

Như Lan thuật:

Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.1226, Bính Tuất), lo sợ bị Thái-sư Trần Thủ Độ hãm hại, vì vị thế trọng yếu của mình:

– Là con vua Anh-tông, em vua Cao-tông, chú vua Huệ-tông.

– Thân vương duy nhất nắm quyền hành.

– Chức tước cực phẩm Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc.

Vương âm thầm cùng Bình Hải công Lý Quang Bật từ căn cứ Đồn-sơn về Kinh Bắc, lạy ở lăng miếu Đình-bảng. Lại đến Thái-miếu mang bài vị, các tế khí ra trấn Đồn-sơn, rồi đem hết tông tộc hơn 6 nghìn người, xuống hạm đội ra đi.

Sau hơn tháng lênh đênh trên biển, thì gặp bão. Hạm đội phải ngừng lại một đảo (Đài-loan?) rồi tiếp tục lên đường. Một trong các con của vương là Thế-tử Lý Đăng Hiền cùng vợ con ở lại đảo. Hạm đội lênh đênh trên biển một thời gian, thì táp vào cửa Phú-lương giang, quận Khang-linh (Ong Jin-Gun) tỉnh Hoàng-hải (Hwang-hac) thuộc Bắc Cao-ly. Nơi hạm đội táp vào, dân chúng gọi là Nak-nac-wac có nghĩa là Bến của khách phương xa có đồ thờ cúng.

Theo gia phả của con cháu vương thì: Đêm hôm trước, vua Cao-tông (Kojong) của Cao-ly mơ thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lại đậu ở bờ Tây-hải. Tỉnh lại, vua sai người tới đó tìm kiếm, thì gặp hạm đội của Kiến-bình vương. Kiến-bình vương được bệ kiến. Vương dùng bút đàm với vua Cao-tông và các đại thần Cao-ly. Triều đình Cao-tông đối xử với vương rất tốt, chu cấp lương thực. Cho làm nhà ở Ung-tân phủ Nam-trấn sơn (Chin-sang). Thế là mấy nghìn người Việt trở thành thuyền nhân kiều ngụ tại Cao-ly.

Lý Long Tường cùng tướng sĩ, gia thuộc bắt đầu cuộc sống mới. Họ trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi làm kế sinh nhai. Vương mở trường dạy học: Thi phú, lễ nhạc, tế tự, binh pháp, võ thuật. Vương soạn sách Học vấn giảng hậu. Vì học trò đông, Vương cho xây Độc-thư đường, Giảng võ đường. Đệ tử của Vương lúc nào cũng trên nghìn người.

Tháng 7 năm Quý-sửu (1253) đời vua Cao-tông năm thứ 40, quân Mông-cổ xâm lăng Cao-ly, vượt Hỗn-đồng giang, chiếm Tây-hải, phá An-giang Tây-thành. Về mặt thủy, Mông-cổ chiếm các đảo Đại-thanh, Tiểu-thanh, Sáng-lân, rồi tiến chiếm Tây-đô (Giang-hoa). Thủ-đô Cao-ly bị đe dọa. Các tướng sĩ hầu hết bị tử trận.

Thấy tình hình Cao-ly nguy ngập, Kiến Bình vương đến gặp Thái-úy (tướng tổng chỉ huy quân đội) là Vi Hiển Khoan, cố vấn cho ông về binh pháp Đại-Việt. Đích thân vương cỡi bạch mã chỉ huy cuộc giữ thành: Đắp thành cao lên, đào hào đặt chông quanh thành. Trong thành đào giếng để có nước uống, tích trữ lương thảo. Vương đem tất cả binh pháp Đại-Việt trong những lần đánh Tống, bình Chiêm ra giúp Cao-ly.

Đánh nhau suốt 5 tháng, quân Nguyên bị tuyệt lương thảo, bị chặn đường rút lui, xin hàng. Tết năm ấy, toàn Cao-ly mừng chiến thắng. Triều đình khen ngợi Lý Long Tường, lấy tên ngọn núi ở quê hương vương là Hoa-sơn; phong cho vương làm Hoa-sơn tướng quân. Lại cho đổi tên ngọn núi nơi vương cư ngụ là Hoa-sơn. Nhà vua sai dựng bia ghi công vương trên núi Hoa-sơn, đích thân vua viết ba chữ “Thụ hàng môn” (Cửa tiếp thụ giặc đầu hàng)“.

Như Lan tiếp:

– Năm ngoái (1257), được tin Mông cổ đánh Đại Việt, phụ thân tôi lo lắng vô cùng. Người thường nói: “Đất nước của chúng ta là đất nước của vua Hùng, vua An Dương, vua Trưng, chư vị tiên đế Tiêu sơn để lại. Họ Lý ta làm vua hay họ Trần làm vua cũng vậy thôi, miễn sao mang hạnh phúc cho trăm họ là được”.

Người nhấn mạnh:

– Nay Mông cổ sang đánh, chúng sẽ tàn phá đến ngọn cỏ cũng không còn. Bố định mang hạm đội trở về Đại Việt tham chiến. Bố cần một gia tướng thân tín về nước thám thính tình hình. Nhưng các anh của con đều làm đại thần cho Cao ly cả rồi. Anh cả Lý Cán Đại lĩnh Đề-học nghệ văn quán, Kim-tử quang lộc đại phu. Anh thứ nhì Lý Huyền Lương, Tham-nghị lễ tào, Chính-nghị đại phu. Anh thứ ba Lý Long Tiền lĩnh Chiêu văn quan đại học sĩ, Giám-tu quốc sử. (Tể tướng).

Người nhìn tôi than:

– Tại sao con không là con trai, để lĩnh nhiệm vụ này?

Tôi thưa:

– Ngày trước trong 162 tướng thời vua Trưng thì có đến 99 nữ tướng. Con là con cháu của vua Trưng, tại sao con không làm được cái việc cỏn con này? Bố đừng coi thường con gái của bố.

Phụ thân tôi mừng lắm. Tôi thưa:

– Giòng họ Lý nhà ta từng có công chúa Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh, Thiên Ninh, Đoan Nghi, một thời trấn ngự biên cương, khiến người Tống kinh sợ. Không lẽ bây giờ con không làm được việc này?

Nghe đối đáp giữa Dã Tượng với Như Lan, trong lòng Thúy Hồng ngùn ngụt hối hận:

Hỡi ơi, mình chưa biết gốc tích Như Lan, đã tỏ vẻ ghen, thực đáng trách. Vả dù gì chăng nữa thì Dã Tượng cũng là chồng của Thanh Nga rồi, mình có ghen cũng vô ích, chỉ làm mất tư cách mà thôi. Nhưng liệu cô này có thực là giòng giống vua Lý không? Ta phải dò mới được

Nàng nói với Như Lan:

– Quận chúa có nhớ hành trạng của các công chúa Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh, Thiên Ninh, Đoan Nghi không?

– Cái chị xinh đẹp này thử tôi đấy à? Các công chúa ấy đều là tổ cô của tôi, mà tôi không nhớ hành trạng thì phụ vương sẽ đánh đòn. Này nhé công chúa Bình Dương khuê danh Mỹ Linh hạ giá với phò mã Thân Thiệu Thái; công chúa Kim Thành hạ giá với phò mã Lê Thuận Tông; công chúa Trường Ninh hạ giá với phò mã Hà Thiện Lãm. Cả ba công chúa đều là con của vua Thái Tông. Ba công chúa trấn ngự Bắc cương, đánh những trận kinh thiên động địa, khiến Tống bỏ ý định xâm lăng Đại Việt. Công chúa Thiên Ninh tức bà chúa Kho con vua Thánh Tông, gọi ba vị công chúa trên là cô. Còn công chúa Đoan Nghi hạ giá với phò mã Trần Thủ Huy. Công chúa là sinh mẫu Thái sư Trần Thủ Độ, là cô ruột tôi. Tôi với Thái sư Thủ Độ là con cô con cậu.

Thúy Hồng khen:

– Giỏi! Trí nhớ của quận chúa tốt lắm. Mời quận chúa nghe một bài hát này nghe.

Thúy Hường vẫy tay, Hoàng Hoa kéo nhị, Bạch Hoa vỗ trống cơm, Huyền Hoa đánh đàn đáy, Thanh Hoa thổi sáo, Hồng Hoa đánh đàn bầu, Tử Hoa đánh trống mảnh, Lan Hoa gõ phách. Nàng cất tiếng hát theo điệu ca trù:

Nực cười châu chấu đá xe,
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng
Thời Chiêu-Thắng (1), mùa Xuân năm Đinh Tỵ (2)
Tống Thần-tông đem tướng sĩ Nam xâm.
Phong Quách Quỳ với Triệu Tiết, làm nguyên soái, cầm quân. (3)
Đến Như-nguyệt (4) vượt sông, như thác đổ.
Nam-quốc sơn hà, Nam đế ở,
Bắc-cương địa giới, Bắc vương cư.
Lũ giặc kia, bay dám đến đây ư?
Trận Cổ-pháp phơi thây dư chục vạn.
Bọn Miêu Lý, Lưu Mân, Trương Thế-Cự (5)
Bị quần thoa, yếm thắm, đánh tan hoang.
Thương thay cái mộng họ Vương! (6)

* Ghi chú:
(1) Chiêu thắng, tức niên hiệu Anh Vũ Chiêu thắng thời vua Lý Nhân Tông.
(2) Đinh Tỵ, tức năm 1077.
(3) Quách Quỳ, Triệu Tiết, tướng tư lệnh, tư lệïnh phó quân Tống sang đánh Đại Việt.
(4) Như nguyệt là một đoạn sông Cầu, nay thuộc Bắc Ninh, nơi ngài Lý Thường Kiệt làm phòng tuyến chống Tống.
(5) Miêu Lý, Lưu Mân, Trương Thế Cự là các danh tướng Tống vượt qua chiến lũy Như nguyệt tiến về Thăng long bị công chúa Thiên Ninh đánh bật về Bắc Như nguyệt.
(6) Vương để chỉ Vương An Thạch, Tể tướng của vua Tống Thần Tông, chủ xâm lăng Đại Việt.

(Còn tiếp – Hồi 60)

Share this post