Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 67 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 67 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ SÁU MƯƠI BẢY
Chia ly đoạn trường
(Tiếp theo)

Chiêu Minh Vương hỏi Vũ Uy vương :

– Thưa anh hiệu binh Văn Bắc đã sẵn sàng chưa?

– Xong rồi. Từ hôm huấn luyện, trang bị xong, cứ nửa tháng anh cho tập trận một lần. Phần tập trận quan trọng nhất là dùng Đao quất, Khiên mây, Nỏ thần, Lôi tiễn, Kị binh, Vạn thằng, phối hợp với bộ binh. Hiện hiệu này được coi như thiện chiến bậc nhất, khắc chế với Lôi kị Mông cổ.

– Thế anh đã bổ nhiệm các cấp chỉ huy chưa?

Vũ Uy vương cười lớn chỉ tay vào ngực Chiêu Minh vương:

– Thực sự thì chưa. Còn đợi lệnh của phủ Thái úy đã chứ. Nhưng trong khi luyện tập thì Dã Tượng làm thống lĩnh. Còn lại trao cho Ngũ hổ tướng Khâu Bắc. Phó thống lĩnh là Lý Đại. Quân đoàn trưởng quân đoàn một là Trần Nhị. Quân đoàn trưởng quân đoàn hai là Vũ Tam. Quân đoàn trưởng quân đoàn ba là Phạm Tứ. Quân đoàn trưởng quân đoàn yểm trợ là Hoàng Ngũ.

Chiêu Minh vương hài lòng:

– Có lẽ nên giữ nguyên các cấp chỉ huy, chứ không tạm thời nữa. Quân đoàn yểm trợ gồm những Vệ nào?

– Có bẩy vệ gồm: Vệ nỏ thần Lôi tiễn, Vệ Ngưu binh, Vệ Ngạc ngư, Vệ kị binh (Phi mã), Vệ Tế tác (tức Đại đởm), Vệ chuyển vận, Vệ Kỹ tác (công binh). Hiện tất cả Hiệu Văn Bắc mới tập trận xong, binh tướng đang mệt mỏi. Đợi năm ngày nữa anh sẽ mời em duyệt binh.

Chiêu Minh vương ngồi ngay ngắn lại:

– Phụ hoàng, Hưng Đạo vương, triều đình đã nghị sự. Cuối cùng đưa ra sách lược giữ nước tối mật gồm Ngũ sách như sau:

Đệ nhất sách Áp dụng ngoại viện.

– Trợ giúp Tống, Cao ly chống Mông cổ. Giúp các anh hùng Đại lý, Thổ phồn (Tây tạng), Trung nguyên trong vùng Mông cổ chiếm đóng khởi binh đuổi ngoại xâm.

– Mục đích gây bất ổn, để Mông cổ phải chia binh đánh dẹp.

– Đối với Cao ly, triều đình sẽ gửi Ngưu tướng, Ngạc tướng sang giúp Kiến bình vương huấn luyện các Vệ Ngưu binh, Ngạc binh.

– Đối với Tống, Đại Việt gửi hai hiệu binh Thiệu hưng, Văn Bắc trợ chiến tại Tứ xuyên. Phải thực kín đáo để gây bất ngờ cho Mông cổ.

Đệ nhị sách Áp dụng trong nước,

Lần lữa viện đủ lý do không thuận theo yêu sách vua phải vào chầu, cung đốn lương thảo, chịu binh dịch, đặt quan cai trị.

Đệ tam sách Áp dụng ngoài chiến trường.

Sứ đoàn Vũ Uy vương đã gây cho Đại hãn Mông Ca:

– Nghi ngờ Hốt Tất Liệt,

– Lập Câu khảo cục phá nát Hán pháp, giết những chân tay về cai trị, tướng lĩnh có tài.

Bây giờ cần:

– Vu cáo, xúi giục các quý tộc Mông cổ về việc Hốt Tất Liệt bỏ di chúc của Thành Cát Tư Hãn, bỏ truyền thống Mông cổ, dự định tổ chức một nước Mông cổ theo Trung nguyên.

– Hốt Tất Liệt đã bị Câu khảo cục làm tan rã quyền lực, thì y không làm phản được. Khi Mông Ca thu binh quyền, y phải về Hoa lâm. Bấy giờ dù Mông Ca không giết y, thì cũng không cho y nắm binh quyền.

– Tình trạng tại Đại lý, Thổ phồn (Tây tạng), Cao ly và các vùng chiếm đóng Trung nguyên; mặt trận phía Tây và Bắc bị Tống phản công, ắt Mông Ca sẽ thân chinh. Mà binh tướng Mông cổ ở Trung nguyên toàn người của Hốt Tất Liệt, thì sẽ hỗn loạn.

Đệ tứ sách Tế tác trong màn the.

Đã có Linh văn thất liên, Đông hoa leo cao, ngồi sâu trong hậu cung, hậu viện Mông cổ. Cần nắm chặt để có tin tức. Dùng thuật bắt nai, giam cọp, lưới ưng để trợ giúp cho sách 1-2-3.

Đệ ngũ sách Lấy của người làm của ta.

Ưu đãi, trợ giúp các đạo sư Hồi giáo do Mông cổ gửi sang Đại Việt làm Tế tác. Cho họ tự do truyền giáo, dễ dàng cho họ kết hôn với người Việt, giúp đỡ họ buôn bán, biến họ thành người thân của Đại Việt.

Vũ Uy vương, vương phi đang thảo luận với Chiêu Minh vương thì Thị vệ báo:

– Ba đại sư Huệ Đăng, Thiên Phong, A Hàm La cùng tùy tùng cầu kiến.

Nhị vương vẫy Dã Tượng, Địa Lô, Như Lan, Thúy Hồng, Linh Anh, Hồng Nga, Thúy Trang cùng ra đón.

Lễ nghi tất.

Phía sau ba đại sư có gần trăm người đều đi ngựa. Đầu tiên 5 thiếu niên tướng mạo hùng vĩ, mắt sáng long lanh và 7 thiếu nữ, thân thể thon đẹp, lưng ong, ngực nở, môi hồng, mắt chiếu ra tia hàn quang. Cả 12 người da đều ngăm đen. Các thiếu niên, thiếu nữ mặc võ phục áo mầu nâu, nam thắt lưng mầu đỏ; nữ thắt lưng mầu xanh lá mạ. Quần đen ống túm, dầy da trâu. Trước ngực đeo tù và, lưng dắt năm lá cờ ngũ sắc. Hông đeo kiếm. Phía sau còn có 9 vị sư còn rất trẻ, 18 võ sĩ, 50 kị mã trang phục như tướng sĩ Tống.

Trong khi Vũ Uy vương, vương phi trao đổi câu chuyện với sư Thiên Phong, Huệ Đăng, A Hàm La, thì Như Lan lên tiếng hỏi sẽ Địa Lô:

– Bẩy chị này là ai, mà vừa đẹp, lại vừa oai phong thế kia?

– Áy à! Đó là 7 bông hoa huệ, mà cũng là bẩy tổ ong bầu đấy.

– Cái anh này ỷ đầy bụng văn chương, rồi tưởng ai cũng nhiều chữ như mình. Anh trả lời thế thì sao em hiểu được!

– Công chúa ơi! Gọi bẩy cô là bẩy bông huệ vì các cô đều làm chủ tấm nhan sắc hiếm có, lại là những cô gái chí khí dọc ngang trời đất. Gọi bẩy cô là bẩy tổ ong, vì cả bẩy đều là nữ tướng từ hồi 12-13 tuổi, từng xông vào trận Mông cổ, đuổi Mông cổ như đuổi vịt. Những chàng trai thiếu khí phách mà đụng vào các nàng thì không khác đụng vào tổ ong bầu. Vì vậy dù bẩy nàng đẹp, đúng ra 13-14 tuổi đã lấy chồng. Thế mà nay 17-18 vẫn còn phất phơ giữa chợ đấy.

– Em vẫn chưa hiểu.

– Công chúa cứ chờ đi.

Bẩy nàng xuống ngựa đến trước Dã Tượng, Linh Anh chào hỏi ríu rít. Dã Tượng, Linh Anh người thì tát yêu, kẻ thì ôm lấy các nàng. Như Lan chợt hiểu:

– Các nàng này đang dậy thì, nam nữ hữu biệt, mà cái anh voi đồng quê kia còn tát yêu, dù họ không là em, thì cũng có giây liên hệ như em. À, có lẽ bẩy cô đều là Ngưu tướng.

Như Lan hỏi:

– Còn năm anh này?

Dã Tượng trêu Như Lan:

– Công chúa muốn chiêu Phò mã ư? Cả năm đứa võ công đều cao, dùng binh giỏi, can đảm có thừa. Thế nhưng chỉ hai đứa có vợ thôi. Còn ba đứa thì vẫn vớ ệ!

– Vớ ệ là gì?

– Nói lái của chữ ế vợ. Năm đứa này đều là Ngưu tướng. Cái thằng đen thui kia là Lý Long Đại, Ngưu danh là Trâu Đen. Nó mới cưới vợ, vợ nó là Vũ Trang Hồng, Ngưu danh là Cái Hồng. Cái thằng cao nghệu kia là Trần Long Nhất, Ngưu danh là Trâu Xanh. Vợ nó là Hoàng Trang Tiên, Ngưu danh Cái Tiên. Cái thằng lắc lắc đầu kia là Vũ Long Nhị, Ngưu danh là Trâu Điên. Vợ nó là Hoàng Trang Liên, Ngưu danh Cái Sen. Thằng da trắng như con gái là Phạm Long Tam, Ngưu danh Trâu Trắng. Thằng mập như cái trống kia là Hoàng Long Tứ, Ngưu danh là Trâu Mập. Trong hai thằng ế vợ Trâu Trắng, Trâu Mập, công chúa muốn tuyển tên nào?

Như Lan đánh sẽ vào vai Dã Tượng:

– Cái anh này!

Tất cả vào đại sảnh đường. Sau tuần trà, sư Huệ Đăng lên tiếng:

– Bần tăng lĩnh mệnh từ Kiến Bình vương về nước tế liệt tổ, tiên đế triều Lý, tìm vợ cho bẩy thế tử. Bần tăng rời Cao ly thoắt một cái đã ba năm. Bây giờ bần tăng phải về phục mệnh. Việc tế tiên đế bần tăng đã làm xong. Việc tu bổ lăng tẩm thì triều đình vẫn làm. Việc hỏi vợ cho bẩy thế tử cũng đã xong. Trước khi lên đường, bần tăng lên đây giã biệt vương gia, vương phi.

Vương phi Ý Ninh chắp tay hướng sư:

– Đệ tử cùng mấy chục vạn dân chúng ba châu Chiêu dương, Văn sơn, Khâu Bắc muôn vàn cảm tạ đại đức của đại sư. Nếu không nhờ Phật giá của đại sư giá lâm, thì họ chưa thể thoát bọn ác quỷ Thân Long Vân.

Công chúa Như Lan hỏi:

– Sư phụ! Sư phụ nói đã hỏi vợ cho anh-em của con. Vậy ba chị dâu, bốn em dâu của con là những cô nào?

Sư Huệ Đăng chỉ vào bẩy nữ Ngưu tướng:

– Con hãy nhìn bẩy nữ Ngưu tướng xem, dung nhan, khí sắc, thần thái ra sao? Bẩy người có đầy đủ nét đẹp của hương đồng, cỏ nội. Lại tiềm ẩn chí khí Trưng-Triệu, khí phách của các tổ cô triều Lý: Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh, Thiên Ninh, Đoan Nghi. Tục ngữ Việt có câu “Giặc bên Ngô không lo bằng bà cô bên chồng“. Con là chị, em chồng của bẩy cô dâu này. Liệu con có dám bắt nạt mấy cô Ngưu tướng không?

Như Lan mừng như chưa từng có trong đời:

– Thực nằm mơ con cũng không thể tưởng mình sẽ có bẩy chị-em dâu như thế này. Thưa thầy chúng con đều là con cháu của vua Trưng, lo quốc sự còn không có thời giờ, thì sao xẩy ra cái vụ chị dâu, em chồng được.

Bẩy nữ Ngưu tướng đã xuống ngựa, đứng xung quanh Như Lan. Sư Huệ Đăng cười mà không phải cười:

– Con thử nhìn sắc diện rồi đoán tên của từng người xem có đúng không? Thầy nhắc cho con biết mười nữ Ngưu tướng thời Nguyên Phong có 5 tên Ngưu binh là Hĩm, 5 tên Ngưu binh là Cái.

Sư chỉ vào bốn thiếu nữ:

– Đây là bốn người có tên Ngưu binh là Hĩm. Người thứ năm là Hĩm Còi thì con đã biết.

Như Lan reo lên:

– Con nghe nói 5 chị Hĩm, họ thì vẫn giữ nguyên, còn tên thì triều đình ban cho tên mới. Tên của Hĩm Còi là Lê Linh Anh con đã được làm quen với chị ấy gần năm nay. Còn chị Hĩm Cao là Trần Linh Trang, Hĩm Lùn là Vũ Linh Hương, Hĩm Rỗ là Phạm Linh Phong. Hĩm Hô là Hoàng Linh Thạch.

Như Lan nhìn Hĩm Còi rồi nhìn bốn Hĩm:

– Thưa thầy con đoán không ra! Vì chị Lê Linh Anh có tên là Hĩm Còi. Hồi còn nhỏ thì chị ấy còi. Chứ bây giờ thân thể nở nang, tươi hồng thế kia mà gọi là Còi thì không ổn.

Tuy nhiên Như Lan cũng liếc qua rồi reo lên:

– Đây rồi, chị này hơi hô một chút ắt là Hoàng Linh Thạch , Ngưu danh là Hĩm Hô. Chị này tuy da mặt tươi hồng, điểm vài nốt rỗ, ắt là Phạm Linh Phong, Ngưu danh là Hĩm Rỗ.

Nàng chỉ vào hai Hĩm còn lại:

– Chị này hơi cao, hẳn là chị Hĩm Cao Trần Linh Trang. Chị này thấp hơn là Hĩm Lùn Vũ Linh Hương.

Dã Tượng bật cười:

– Công chúa đoán sai rồi.

– Ủa?

– Mấy cô này lùn, cao là hồi còn nhỏ. Chứ bây giờ dậy thì rồi thì Lùn cao hơn Cao. Cao thấp hơn lùn. Bởi vậy trong hàng ngũ Ngưu binh có câu lùn thì cao, cao thì lùn. Hai cô này là hoa khôi trong Ngưu binh đấy. Chả biết thế tử nào của phủ Kiến Bình sẽ có diễm phúc làm chồng hai cô.

Như Lan vui vẻ:

– Nói đúng ra, thì phụ vương em có phúc nên mới tuyển được bẩy nàng dâu thế này.

Sư Huệ Đăng chỉ vào hai Ngưu tướng còn lại: đây là Lý Trang Lan, Ngưu danh là Cái Lan; Trần Trang Huệ, Ngưu danh Cái Huệ.

Như Lan nhìn bẩy ngưu tướng: người nào cũng ngực nở, lưng thon, mắt sáng, thần thái tinh anh, da bánh mật:

– Thưa thầy bao giờ thầy cho rước dâu?

– Vụ này do Hưng Ninh vương, Hưng Đạo vương đứng ra chủ trì. Triều đình đã ban chỉ phong cho bẩy Ngưu tướng tước Quận chúa, hàm Đô thống, gả cho các thế tử của Kiến Bình vương. Cha, mẹ được phong hàm, cấp ruộng đất. Thầy dẫn bẩy người lên bái yết Thái miếu họ Lý ở Kinh Bắc. Bây giờ cả bẩy đều là người họ Lý rồi. Các nữ ngưu tướng sang Cao ly có hai nhiệm vụ. Một là vu quy theo đúng đạo âm dương của trời đất. Hai là triều đình phong hàm Đô thống, tước Quận chúa để sang bên ấy huấn luyện Ngưu binh giúp Cao ly chống Mông cổ.

Chiêu Minh vương chỉ vào 9 sư, 18 võ sĩ và 50 tướng sĩ, hỏi sư Thiên Phong:

– Bạch đại sư! Các vị này là ai mà trông quen quen?

– Vương giá nhìn kỹ xem, những vị này vương gia đều biết tên cả mà!

Chiêu Minh vương nhìn kỹ các tướng Tống, rồi bật lên tiếng reo:

– À, các vị cao thủ Trung nguyên, chuẩn bị hồi hương đánh Mông cổ.

Sợ rằng nhiều người không nắm vững vấn đề, Vũ Uy vương phi giảng giải:

– Hồi Mông cổ sang đánh Đại Việt thời Nguyên Phong. Hốt Tất Liệt ra lệnh khống chế gia đình một số cao thủ võ lâm Trung nguyên, rồi ép họ theo quân. Khi Mông cổ chiếm Thăng long, chúng tàn sát Hoa kiều không gớm tay. Các vị võ sĩ không lý đến gia đình nữa, đã trở giáo chống lại chúng. Sau khi Mông cố rút chạy, Ngột Lương Hợp Thai xin với Thái sư Trần Thủ Độ thả hơn vạn tù binh bị Đại Việt bắt. Vũ Uy vương ra điều kiện: Đại Việt thả tù binh, đổi lại Mông cổ phải đem gia đình các cao thủ sang Đại Việt. Sau khi trao đổi, các cao thủ muốn về nước đánh ngoại xâm. Nhân thấy số thanh niên Hoa kiều ở Đại Việt uất hận Mông cổ đánh vào Trung nguyên tàn phá quê hương. Họ cũng muốn về nước đuổi giặc. Ba vị vương Hưng Đạo, Hưng Ninh, Vũ Uy xin triều đình tuyển cao thủ Trung nguyên, Hoa kiều thành lập hiệu binh Thiệu Hưng.

Chiêu Minh vương tiếp:

– Việc thành lập huấn luyện, trang bị cho một hiệu binh tốn phí lớn lao vô cùng. Tuy nhiên Đại Việt cũng phải cố gắng, vì lẽ Tống với ta như môi với răng. Môi hở, răng lạnh.

Công chúa Lý Như Lan hỏi:

– Xin vương gia giảng kỹ hơn, vì tại đây nhiều người không hiểu rõ tổ chức, binh chế Đại Việt ra sao?

Chiêu Minh vương giảng giải bằng giọng ôn nhu:

– Cô gia xin trả lời Công chúa, về tổ chức cơ bản thì đơn vị thấp nhất là:

– Ngũ, gồm bốn binh và một ngũ trưởng.
– Bốn Ngũ là một Lượng. Lượng có 20 người.
– Bốn Lượng là một Đô. Đô có 80 người.
– Mười Đô là một Vệ. Vệ có 800 người.
– Ba Vệ thành một Quân. Quân có 2400 người.
– Ba Quân thành một Hiệu.
– Mỗi Hiệu lại có một Quân yểm trợ gồm 7 Vệ là Nỏ thần Lôi tiễn, Ngưu binh, Ngạc ngư, Kị binh, Đại đởm (trinh sát), Chuyển vận, Kỹ tác (công binh). Quân này gồm 800 người. Tổng cộng mỗi Hiệu 26.000 người.

Như Lan than:

– Chà! Nào nuôi ăn, nào huấn luyện, nào võ trang vũ khí, nào quân phục, nhất là chi cho Quân yểm trợ, thực tốn kém vô cùng. Đại Việt phải hy sinh sức người, tài vật không nhỏ.

Thiên Phong đại sư trả lời:

– Đúng như công chúa nói. Nhưng nhờ đức kiên nhẫn, các Hoa kiều tại Đại Việt đều khá giả, nhất là tình yêu quê hương cao. Họ xung phong đóng góp hầu hết chi phí cho hiệu binh Thiệu Hưng. Thành ta triều đình chỉ tốn sức huấn luyện mà thôi.

Vũ Uy vương mỉm cười chỉ 9 vị tăng:

– Hôm trao đổi tù binh, cô gia được biết 9 vị tiểu sư phụ này, cùng 18 cao thủ đều là đệ tử chùa Thiếu lâm mà ân sư là đại sư Thiên Phong, thủ tọa La Hán đường. Nay cả 27 vị đều chuẩn bị về nước chiến đấu.

Vương tiếp:

– Mông cổ là cái họa chung cho Thiên hạ. Đại Việt giúp Tống đánh Mông cổ trên đất Trung nguyên trước, thì sau khỏi phải đánh Mông cổ trên đất Đại Việt. Công chúa ơi, triều đình gửi ngưu tướng sang cho Kiến Bình vương giúp Cao ly chống Mông cổ, cũng với mục đích ấy.

Chiêu Minh vương tiếp:

– Đối với thanh niên Hoa kiều thì Binh bộ chỉ tuyển trong lớp tuổi 17 tới 35. Còn các cao thủ Tống dưới 40 tuổi thì được nhập vào hiệu binh Thiệu Hưng. Các vị cao tuổi hơn thì vẫn đi theo, song giữ nhiệm vụ giết tướng giặc, hộ vệ các tướng Tống.

Chiêu Minh vương chỉ 50 tướng sĩ Tống:

– Đây là những người lĩnh nhiệm vụ chỉ huy trong hiệu binh Thiệu Hưng, gồm bộ tham mưu, các Quân trưởng, Vệ trưởng, Đô trưởng. Triều đình đưa họ lên đây thực hiện hai mục đích. Một là để sống với các cấp chỉ huy tương đương của Hiệu Văn Bắc, hầu sau này cùng nhau chiến đấu. Hai là cùng học bộ Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tông bí truyền thư của Hưng Đạo Vương.

Sư Huệ Đăng nói với Như Lan:

– Triều đình ban chỉ Văn sơn Nam Nguyễn Địa Lô làm sứ giả đưa bẩy Quận chúa sang Cao ly. Tuần sau chúng ta lên đường về Tiên yên, rồi dùng thuyền đi Cao ly. Thầy với con là người nhà trai rước dâu.

Vũ Uy vương chỉ Địa Lô:

– Cháu xuất tiền trong công khố làm tiệc lớn tiễn đưa bẩy cô dâu về nhà chồng. Nhớ, tiệc cho lớn nghe.

– Tuân chỉ.

Địa Lô nói với Thúy Trang, Hồng Nga:

– Tại châu Văn sơn này anh có gần mười đầu bếp rất giỏi, nhưng tài nghệ thua hai em xa. Anh muốn nhờ hai em ra tay tiên giúp các đầu bếp làm tiệc tiễn đưa dâu về Cao ly.

Thúy Trang kinh ngạc:

– Anh không nhờ Thúy Hồng ư?

– Nay mai Thúy Hồng thành bà Dã Tượng, là chị dâu của anh. Anh đâu dám sai!

Mặt Thúy Hồng đỏ au lên, nàng đánh sẽ vào vai Địa Lô:

– Em tình nguyện làm cỗ chay cúng dàng sư phụ của em là Bồ tát A Hàm La, tiễn đại sư Huệ Đăng, Thiên Phong, cùng 9 tiểu sư phụ Thiếu lâm. Em sẽ dạy công chúa Như Lan nghệ thuật làm cơm chay của chùa Chiêu Thiền, chùa Trấn Quốc, chùa Tiêu Sơn, chùa Hoa Yên. Khi Như Lan về Cao ly sẽ đem nghệ thuật nấu chay Đại Việt truyền lại, để chư tăng Cao ly được thưởng thức. Còn cơm chay chùa Thần Quang thì em không dám qua mặt vương phi Ý Ninh.

Sư Huệ Đăng kinh ngạc:

– Suốt từ hôm bần tăng gặp Quận chúa Thúy Hồng đến giờ, bần tăng từng được Quận chúa cho ăn cơm chay nhiều lần, không lần nào giống lần nào cả. Quả thực nghệ thuật nấu chay của Quận chúa hơn hẳn Ngự trù ở Thăng long. Thế sao Quận chúa lại khiêm tốn rằng thua vương phi Ý Ninh?

Chiêu Minh vương đỡ lời Thúy Hồng:

– Bạch thầy, mấy năm trước, tuân chỉ phụ hoàng, con đi sứ Thần Quang tự, đã được Vô Huyền bồ tát cho ăn cơm chay, mà cơm chay do chính chị Ý Ninh nấu. Nói ra thực xấu hổ, phụ hoàng vốn sùng kính Phật pháp, nên trong cung có nhiều Ngự trù giỏi, thế mà khi ăn cơm chay chùa Thần Quang, con muốn nuốt cả lưỡi vào. Ba món canh thiên lý, hoa bí ngô luộc, rau dền hấp ngon quá. Vì vậy sau ngày cưới của anh chị, con làm xấu, thường bắt chị dâu làm ba món này dâng lên phụ hoàng, nhưng sự thực là con được ăn chực.

Hồng Nga hỏi lại Địa Lô:

– Còn những món mặn. Anh muốn bọn em nấu những món gì?

– Từ hôm 5 cô Đông hoa lên đây, bọn anh được ăn không biết bao nhiêu món ăn quê hương Kinh Bắc, Thiên trường. Nhất là thời gian học vừa qua, các em thống lĩnh ông Táo, bà Táo, thành ra tuy học vất vả mà không ai mệt cả. Này các em! Vùng Văn sơn này núi cao, rừng rậm, lắm thú hoang. Vậy các em làm tiệc thịt rừng như nai, heo, hoẵng, chim công, chim trĩ, chim sẻ, chim bồ câu.

– Được rồi, em sẽ làm 7 bữa tiệc với các món khác nhau. Mỗi bữa 9 món. Trong bẩy bữa tiệc có 3 bữa thịt rừng, 2 bữa chay, 3 bữa cá. Cá thì phải nhờ mấy anh Ngạc ngư ra suối Nam tuyền bắt. Chứ cá mua ở chợ không ngon. Hôm nay là ngày rằm, tiệc chay đầu tiên do vương phi Ý Ninh với Thúy Hồng đứng bếp.

Như Lan nhắc Địa Lô:

– Văn bác thượng tướng quân, Chiêu dương Nam định đãi các cô dâu những món thịt rừng. Đối với người Việt trong nước thì thịt rừng là những món trân quý. Những món đó ở Cao ly không thiếu. Tướng quân phải đãi những món gì mà Cao ly không có thì mới quý.

Địa Lô tỉnh ngộ:

– Ừ nhỉ, không biết món gì mà Đại Việt có, Cao ly không có nhỉ? Không lẽ là thịt chó?

Buột miệng nói câu đó, Địa Lô vội bịt mồm lại, vì trước mặt đang có ba vị tăng đạo cao đức trọng. Không ngờ Như Lan cười dòn dã:

– Đúng như Chiêu dương nam nói. Trước kia thì Cao ly không ăn thịt chó. Khi Kiến Hải vương cùng hạm đội đến Cao ly, đã mang theo vài chục cặp chó. Sau vài năm, đám chó lưu vong sinh sản thành cả mấy trăm con. Vào mùa đông giá lạnh, nhóm họ Lý Tinh Thiện nghĩ đến ăn thịt chó, để có sức chống lạnh. Thế là từ ngày ấy người Cao ly cũng ăn thịt chó. Nay thịt chó trở thành món ăn bình dân. Vì vậy người Cao ly nuôi chó hàng đàn như chúng ta nuôi vịt. Món thịt chó rất phổ thông! Nhưng…

– !!!???

– Người Cao ly không coi thịt chó là món dơ bẩn. Ai cũng ăn hết. Cao ly là xứ lạnh, không trồng được riềng, lá mơ, thành ra thuật nấu thịt chó không bằng bên mình; thiếu món rựa mận. Dồi chó không có lá mơ, mùi vị kém. Ngay luộc, không có riềng, ăn thiếu đậm đà. Kỳ này tôi phải mang giống riềng, lá mơ sang trồng thử xem sao.

* Ghi chú: Cho đến nay, tại cả hai vùng Nam, Bắc Hàn quốc, đều nuôi chó như nuôi gà, làm thực phẩm. Cách nấu nướng hoàn toàn khác Việt Nam. Từ khi Đại Hàn gửi quân sang tham chiến tại Nam Việt Nam, họ nhập cảng phương pháp nấu giả cầy, nướng, xáo về nước. Gần đây, gần mười vạn cô dâu Việt lấy chồng Hàn quốc lại một lần nữa cách nấu thịt chó theo Bắc Việt được theo cô dâu như của hồi môn! Không biết thịt chó Hàn quốc có ngon như thịt chó Việt không?

Địa Lô nói bằng giọng thiết tha, nhưng trêu Như Lan:

– Công chúa! Công chúa đẹp như tiên, môi công chúa hồng, mắt công chúa như mắt phượng, da công chúa như tuyết. Xin công chúa cho gã đồ gàn này biết, ở Đại Việt có món gì mà Cao ly coi như châu bảo?

Như Lan cười toe toét:

– Chiêu dương Nam nịnh hay thực. Thôi tôi vì bẩy cô dâu mà nói: trước khi về nước, phụ vương, vương mẫu đã giảng cho tôi rằng bất cứ thịt gì, cá gì mà Đại Việt có Cao ly cũng có. Nhưng những món sau đây đối với Đại Việt là món ăn dân dã, hương thơm mùi vị đậm đà mà Cao ly không có là:

– Cà pháo chấm mắm tôm,
– Canh cua đồng rau đay,
– Canh mồng tơi tép riu,
– Canh rau ngót thịt bằm,
– Rạm rang, mực khô nướng,
– Chả mực, chả quế, nem,
– Giả ba ba nấu ốc,
– Giả cầy nấu với riềng,
– Chả rươi với vỏ quít.
– Rùa ram muối, nấu chuối.

Trừ sư Huệ Đăng, còn lại cử tọa đều mở to mắt ra kinh ngạc. Thúy Hồng tiếp lời Như Lan:

– Hôm mới gặp Như Lan ở Ô giang, em thấy Như Lan đòi ăn cà muối mắm tôm, canh cua rau đay. Em ngạc nhiên vô cùng. Thì ra ở Cao ly quá lạnh, không có rau đay cũng chẳng có cà pháo. Suốt gần năm qua sống với Như Lan, em thấy Như Lan luôn đòi những món đồng quê. Bây giờ em mới hiểu.

Chiều hôm đó Văn sơn Nam Địa Lô hẹn Như Lan ra bờ suối Nam tuyền để hỏi về phong tục cũng như triều đình Cao ly. Nhưng thực sự để tâm tình. Nàng tới bờ suối thì Địa Lô đã ngồi chờ đó từ bao giờ. Nam nhìn sắc diện tươi sáng, đẹp lồ lộ của Như Lan: ngực nở, lưng thon. Bất giác Nam nghĩ:

– Mình phải mở lời trước mới được.

Nghĩ vậy Nam nói bằng giọng đầm ấm, ngọt ngào:

– Công chúa! Đại Việt gả bẩy nữ Ngưu binh sang Cao ly, thì Kiến bình vương phải hồi môn một cô công chúa bác học đa năng, võ công tuyệt đỉnh, thêm nhan sắc tươi như hoa lan, hoa huệ mới đúng câu đổi hột, lấy hạt. Không biết vương gia có chấp thuận cho cô công chúa bảo bối về ở luôn bên Đại Việt không?

Bị Địa Lô trực tiếp tấn công, Như Lan run lên bần bật, nàng muốn ngộp thở:

– Phụ vương em tuy vạn dặm tha hương, nhưng lúc nào cũng tưởng nhớ cố hương. Nếu như con gái người được gả về nước thì người sẽ vui lòng lắm.

Sắc mặt tươi hồng, ánh mắt lung linh, thân thể thon đẹp của Như Lan làm Địa Lô không tự chủ được, Nam nắm lấy hai tay nàng. Như Lan ngã vào lòng chàng. Một bên là đấng tài hoa, nổi danh Nam thiên đệ nhất mỹ nam tử, một bên là công chúa sắc nước hương trời. Hai người như lịm đi trong cảnh suối rừng.

Đâu đó chim hót véo von. Cứ như vậy, hai người không rời nhau, cho đến hoàng hôn. Như Lan tỉnh trước, nàng nhỏ nhẹ:

– Chết rồi! Mình ở ngoài này cả nửa buổi, ở nhà đi tìm mình.

Nhưng Địa Lô đang say tình, Nam bế bổng Như Lan lên, đặt nàng ngồi trên một tảng đá cao ngang vai. Không cầm lòng được, Nam ôm nấy hai chân nàng, hôn lên gấu váy nàng. Cả hai cùn run lên bần bật. Họ như hòa lẫn vào nhau. Nhưng cả hai đều là những anh hùng, được giáo huấn cực kỳ khắt khe, nên họ biết dừng lại, không thể vượt quá lễ giáo.

Mặc cho vương phi Ý Ninh cùng đám đầu bếp làm tiệc. Vũ Uy vương triệu tập tướng sĩ của hiệu Văn Bắc, của ba châu Chiêu dương, Văn sơn, Khâu Bắc từ cấp Đô trở lên để học binh thư cùng hiệu binh Thiệu Hưng. Tất cả tướng sĩ từng nghe nói đến bộ Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Nhưng chưa một ai được biết nội dung ra sao. Nay được học thì mừng chi siết kể. Sĩ số tổng cộng có 117 người. Lớp học cực kỳ nghiêm trang. Hai vương Chiêu Minh, Vũ Uy phụ trách giảng dạy.

Khai mạc Vũ Uy vương lược qua tất cả những binh gia:

– Trước khi học Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, chúng ta phải lược qua các bộ binh thư của Hoa-Việt. Nói về Kinh, Sử, Tử, Tập thì binh thư thuộc về Kinh học. Trong Kinh học có rất ít bộ về binh thư. Bộ cổ nhất là bộ Lục thao, Tam lược của Khương Thái công, viết vào đầu đời Chu (1120-1110 tcn). Song Lục thao, Tam lược là bộ sách triết lý quân chính hơn là binh thư. Hơn năm trăm năm sau vào thời Chiến quốc mới nảy ra một nhà quân sự tài quán kim cổ là Tôn Võ (khoảng 570- 505 trước Công nguyên). Ông theo giúp vua Ngô Hạp Lư thống lĩnh chư quốc hồi đó, thành bá chủ. Ông soạn ra bộ Binh pháp thập tam thiên, gồm có 13 thiên lưu truyền cho hậu thế. Hậu thế gọi là Tôn tử binh pháp. Sau Ngô Khởi có hiệu đính bộ Binh pháp thập tam thiên, hậu thế gọi chung là Tôn Ngô binh pháp. Văn trong bộ Tôn Ngô binh pháp là văn cổ, rất uẩn súc, nên sau này nhiều nhà chú giải. Tựu trong có 13 danh gia chú giải còn lưu truyền. Trong các nhà chú giải, nổi danh nhất là Ngụy Võ đế Tào Tháo (155-220 scn),

Địa Lô hỏi:

– Thưa chú, Bình Ngô đại tướng quân, công chúa Thánh Thiên soạn ra bộ Dụng binh yếu chỉ. Vậy bộ Dụng binh yếu chỉ với Tôn Ngô binh pháp, bộ nào ra đời trước?

– Tôn Võ sống vào thời Xuân Thu, tương đương với Khổng Tử. Còn Công chúa Thánh Thiên làm tướng cho vua Trưng triều Lĩnh Nam. Triều Lĩnh Nam tương đương với nhà Đông Hán. Như vậy bộ Dụng binh yếu chỉ soạn sau bộ Tôn Tử gần 600 năm.

Vương giảng tiếp:

– Bộ Tôn tử binh pháp, được tất cả tướng sĩ Trung nguyên thời Tần Thủy Hoàng nghiên cứu xử dụng. Trong cuộc chiến tranh Hán Sở, Trương Lương, Hàn Tín là hai người học rất sâu sa bộ này. Lại khi cuối đời Tây Hán, trong cuộc chiến giữa các tướng của Vương Mãng với Hán Quang Vũ, bộ Tôn Ngô binh pháp lại được nghiên cứu. Khi Quang Vũ thành công, đúng lúc vua Trưng cùng 162 tướng khởi binh tại Lĩnh Nam, lập nền tự chủ. Vua Quang Vũ sai bọn tướng tài nhất là Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí mang quân nghiêng nước sang đánh Lĩnh Nam. Tại Lĩnh Nam, công chúa Thánh Thiên lĩnh ấn Bình Ngô đại tướng quân thấy bộ Tôn tử Binh pháp không hợp với khí hậu, địa thế Lĩnh Nam. Ngài soạn ra bộ Dụng binh yếu chỉ 36 thiên. Các tướng Lĩnh Nam dùng phương pháp của công chúa đánh những trận nghiêng trời lệch đất, giết chết, đánh bại 12 đại tướng quân Hán bằng binh pháp của ngài.

Yết Kiêu hỏi:

– Khải vương gia 12 tướng đó là những tướng nào?

– Đó là các tướng:

Phục-ba tướng quân, Tân-tức hầu Mã Viện.
Phiêu-kị đại tướng quân, Phù-lạc hầu Lưu Long.
Lâu-thuyền tướng quân, Nam-an hầu Đoàn Chí (bị giết).
Chinh-tây đại tướng quân Chu Long (bị giết).
Chinh-nam đại tướng quân Trịnh Sư (bị giết).
Uy-viễn đại tướng quân Ngô Anh (bị giết).
Trấn-uy đại tướng quân Vương Hùng (bị giết).
Long-nhương đại tướng quân Sầm Anh (bị giết).
Chinh-di đại tướng quân Phùng Đức (bị giết).
Hổ-nha đại tướng quân Mã Anh (bị giết).
Trấn-viễn đại tướng quân Mã Huống (bị giết).
Bình-man đại tướng quân Mã Dư (bị giết).

Song tiếc rằng bộ binh pháp Dụng binh yếu chỉ thất truyền, chỉ còn lại 5 thiên là Thủy chiến, Đoản binh, Hư thực, Dụng gián, Trận pháp. Khi bà Triệu khởi binh, chỉ dùng có hai thiên Đoản binh, Trận pháp mà làm cho quân Ngô nghiêng ngả.

(Hết Hồi 67)

Share this post