Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 71

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 71

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BẢY MƯƠI MỐT
Tơ lòng ngó ý (*)

(*) Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
(Đoạn trường tân thanh)

Vũ Uy vương hỏi A Lan Đáp Nhi:

– Thừa tướng! Từ đây về Hoa lâm, chúng ta phải đi mất bao nhiêu ngày? Theo đường nào?

– Trước hết chúng tôi phải về Yên kinh, giải tán triều đình của Hốt Tất Liệt. Yên Kinh đi Hoa lâm có thể theo đường phía Tây qua Lục bàn sơn. Hoặc từ Yên kinh lên Trường thành qua cửa Trương gia khẩu.

Ngột A Đa bàn:

– Nếu chúng ta dùng ngựa thì đi đường Lục bàn sơn, gần hơn. Ngặt vì còn thê tử, nô bộc, họ không biết cỡi ngựa, phải đi bằng xe, thì chúng ta nên đi theo đường Trương gia khẩu.

Tuy thủ lĩnh Hán pháp Liêm Hy Hiến đã bị thất bại, Hốt Tất Liệt mất toàn bộ quyền lực. Nhưng A Lan Đáp Nhi vẫn sợ bọn chủ trương Hán pháp tụ tập làm càn. Y bàn với Ngột A Đa:

– Đoàn của ta gồm gần trăm người, thêm vào vợ, con, nô bộc, trên trăm nữa. Ta cần một Thiên phu hộ tống. Vùng này vốn thuộc quyền của Hốt Tất Liệt, bọn tướng đều là người Hán. Ta không thể dùng quân của chúng hộ vệ.

Ngột A Đa cam kết:

– Đệ nghĩ là không cần. Chúng ta ba người gồm Đại ca, Lưu Thái Bình, đệ; thêm ba tướng Đi Minh Trinh, A Mít Lỗ Tề, Kim Đại Hòa. Bên sứ đoàn Đại Việt còn Vũ Uy vương, vương phi với đội kỵ mã Long biên. Như vậy đủ rồi.

Ngột A Đa ra lệnh:

– Đoàn chúng ta đi làm ba toán. Lỡ một toán bị phục kích thì hai toán còn lại cứu ứng.

Y trao cờ xanh cho tướng Đi Mi Trinh, A Mít Lỗ Tề:

– Hai tướng quân đi làm tiền quân, trương kỳ hiệu của Câu khảo cục. Nếu gặp kình dịch, thì dừng lại, chờ chúng tôi tiếp ứng. Đừng giao chiến vội.

Y nói với An Lan Đáp Nhi:

– Trung quân thì Đại ca với Lưu Thái Bình. Tất cả thê tử, nô bộc đi theo trung quân. Có La An với đội kỵ mã Long biên theo hộ tống.

Y nói với Vũ Uy vương, vương phi, Kim Đại Hòa:

– Chúng ta đi theo hậu quân.

Thấy Thanh Nga với Thúy Nga mặc chiến bào, cỡi ngựa như hai nữ tướng Mông cổ. Vương phi Ý Ninh mắng sẽ vào tai hai nàng :

– Các em đang làm cái truyện bán bò tậu ễnh ương. Các em có biết không?

Từ ngày rời Thăng long theo vương, vương phi, Thúy Nga, Thanh Nga chưa từng thấy phi nói nặng bao giờ. Đây là lần đầu tiên hai nàng bị quở. Thanh Nga kinh hãi hỏi nhỏ:

– Chúng em còn trẻ người non dạ. Tuy là vương phi, là đại phu nhân, nhưng hành sự có nhiều sơ xuất. Xin chị dạy bảo.

Vương phi nói rất chậm:

– Trước khi về Mông cổ, các em được dạy chi tiết về thuật bắt nai. Thầy Vũ Y, Vũ Dược, các cô Kim Bình, Ngân Bình giảng dạy hết sức cẩn thận. Mà mới đây các em đã quên hết rồi ?

– !?!

– Này nhé, thuật thứ nhì là Thủy tiên, dậy cách dùng y phục sao cho duyên dáng. Cô Kim Bình đã giảng:

Người đẹp như các con phải biết chọn y phục, chứ không phải bạ áo gì cũng mặc, váy gì cũng mang. Căn cứ vào lý Ngũ-Hành sinh khắc, phải trang phục như thế nào để:

Tinh thần thanh thản,
Hấp dẫn người ngoài,
Chinh phục trượng phu,
Giữ tình yêu lâu dài.

Nguyên tắc đầu tiên là y phục phải mềm, dài: dù lụa, dù vải phải thực mềm. Rộng, dài, chỉ để hở bàn tay và đầu. Những phi tần được quân vương sủng ái, những người đẹp danh tiếng đều thành công nhờ y phục mềm, dài tha thướt. Thời Tần Thủy Hoàng, Thái giám Triệu Cao cho các cung nữ mặc y phục cứng, khiến Tần Thủy Hoàng đã bị tuyệt đường phòng the lại càng nặng thêm. Gần đây Mai phi và Dương phi của Đường Minh Hoàng. Trong lần triều kiến nhà vua, Mai phi mặc y phục dầy cứng không hấp dẫn được nhà vua; trái lại Dương phi mặc y phục mỏng, làm nổi bật lên những đường cong, hút được hồn nhà vua.

Vương phi nói tiếp:

– Có hằng nghìn, hằng vạn mầu sắc khác nhau. Người đàn bà phải biết lựa mầu sao tạo cho mình nét yêu kiều, duyên dáng, thu hút được đấng trượng phu. Những tướng Mông cổ say mê các con vì nhan sắc cũng có mà vì y phục Đại Việt thướt tha cũng có. Vậy tuyệt đối các con không nên mặc y phục giống như con gái Mông cổ. Các con mặc y phục giống con gái Mông cổ thì là Mông cổ giả. Ông chồng các con sẽ bỏ các con, tìm lại những có gái Mông cổ thực!

Thanh Nga, Thúy Nga rùng mình:

– Bọn em thực đáng chết.

Lập tức hai nàng trở về phòng thay áo tứ thân, khăn yếm, dây lưng bằng lụa mà triều đình ban cho khi lên đường. Khi hai nàng trở ra, thì A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa cùng mở to mắt nhìn, ngây ngất như người say rượu. Vương phi Ý Ninh nháy Thúy Nga một cái. Nàng hiểu ý, nói với chồng bằng tiếng Mông cổ:

– Anh ơi! Ngựa cao quá! Em mặc váy không lên được.

A Lan Đáp Nhi biết rất rõ rằng Thúy Nga, Thanh Nga đều học võ, khinh công không tầm thường. Nàng có thể tung mình lên ngựa, mà nàng không làm. Y nghĩ rất nhanh: nàng muốn chồng bồng lên, chắc là nhõng nhẽo. Y tiến tới sau lưng nàng, hai tay ép vào hông rồi nhắc nàng để ngồi ngang trên lưng ngựa. Gió thổi, y phục nàng bay phất phới, khiến viên đại tướng Mông cổ từng xung sát bao nhiêu trận, không kiềm được lòng. Y ôm lấy hai chân nàng rồi hôn lên gấu váy nàng với tất cả đam mê.

Trong khi đó Ngột A Đa cũng bế Thanh Nga lên lưng ngựa, hôn lên hai gối nàng.

Ngột A Đa cầm tù và thồi, đoàn người theo thứ tự lên đường. Suốt dọc đường không có biến cố gì xẩy ra.

Khi đoàn người qua Chu tiên trấn. Thanh Nga tách ra vào một chợ mua ít trái cây. Nhân dịp đó vương phi Ý Ninh nói nhỏ với Thúy Nga:

– Em biết không, trong những ngày tân hôn, mải say hạnh phúc, hai em Hồng Nga, Thúy Trang, suýt quên nhiệm vụ Tây Thi mà triều đình trao cho; nên gây với nhau. Anh chị phải nhắc nhở, can thiệp mới êm. Thế em với Thanh Nga ra sao?

– Cũng có đấy, may nhờ Tây Viễn vương là bậc trưởng thượng nhắc nhở, nên chúng em không đến nỗi. Nhưng từ khi vương rời chúng em, thì Thanh Nga ngụp lặn trong tình yêu, gần như quên hết nhiệm vụ của một Tây Thi.

– Nguy thực, vai trò của Thanh Nga nặng hơn em, mà Thanh Nga quên đi thì đáng sợ. Vậy thế này: khi tới Yên kinh, anh chị sẽ xin cho hai em ở chung, rồi chị với em tìm dịp nhắc lại mối tình Thanh Nga, Dã Tượng. Như vậy cô nàng mới thoát ra khỏi giấc mộng yêu thương.

Phải mất hơn tháng, đoàn Câu khảo cục mới về tới Yên kinh (Bắc kinh ngày nay).

Ngột A Đa kể cho Vũ Uy vương, vương phi nghe:

– Yên kinh là kinh đô của Liêu rồi Kim. Sau khi Thành Cát Tư Hãn chiếm được, thì triều đình Kim chạy xuống phương Nam. Mông cổ đặt Yên kinh làm tổng hành doanh của bộ tham mưu phương Đông: Nam đánh Tống, Đông đánh Cao ly, Bắc cai trị Liêu, Kim. Từ khi tuân chỉ Mông Ca đánh Tống, Hốt Tất Liệt đặt Yên kinh như kinh đô riêng, thiết lập một triều đình với hàng vạn quan chức .

Vương phi hỏi:

– Tôi nghe Yên kinh từng là bãi chiến trường, diễn ra nhiều trận đánh kinh thiên động địa giữa Kim với Mông cổ. Khi quân Mông cổ chiếm được thành đã tàn phá cung điện, giết hằng mấy chục vạn người. Không biết bây giờ ra sao?

A Lan Đáp Nhi nói bằng giong điệu của người chiến thắng:

– Từ khi Thành Cát Tư Hãn đặt hệ thống cai trị như vùng Thảo nguyên, tái xây dựng thành quách, cung diện, thì dân chúng lại tụ về đông đúc hơn xưa. Dưới sự cai trị bằng luật thép của Mông cổ, Yên kinh không hề có nạn trộm, cướp.

Vũ Uy vương hỏi:

– Bây giờ Hốt Tất Liệt trở về Hoa lâm thì ai sẽ là người thống lĩnh đám quan lại này?

– Khi cầm quân đánh Tống, Hốt Tất Liệt tự coi như mình là vua, lập triều đình gọi là Trung thư tỉnh. Dưới Trung thư tỉnh là Tuyên phủ ty có 16 bộ. Y trao cho A Lý Hải Nha giữ chức Hành trung thư tỉnh Tả thừa tướng, tương dương với chức vụ của tôi ở Hoa lâm. Bây giờ Hốt Tất Liệt về Hoa lâm chịu tội. Chúng tôi sẽ thay Đại hãn phải giải tán cái triều đình này. Nay mai tôi sẽ họp triều đình, tùy nghi xét tài năng bọn quan chức này, bổ nhiệm vào chức vụ mới.

– A Lý Hải Nha là người thế nào?

– Y là cánh tay mặt của Hốt Tất Liệt, gốc người Hồi hột. Tài trí phi thường, trên thông thiên văn, dưới thông địa lý. Y tinh thông tất cả học thuật Mông cổ, Trung nguyên, là người đứng đầu khuyên Hốt Tất Liệt dùng Hán pháp. Tính tình thâm trầm ít nói, nhưng cực tàn bạo.

* Ghi chú: A Lý Hải Nha là quân sư cho Thoát Hoan, đánh Đại Việt lần thứ nhì (1285). Vì vậy tôi phải chú giải chi tiết về viên quan Mông cổ này.

Tên Mông cổ của y là Aric Khaya, Ariq Qaya. Nguyên sử phiên âm là A Lý Hải Nha, A lỗ Hải nha, A Lạt Hải Nha.

– Đại Việt sử ký toàn thư cũng phiên âm là A Lý Hải Nha như Nguyên sử.

– Năm 1300, Diêu Toại soạn bia mang tên Hồ quảng tả thừa thần đạo bi, phiên âm là A Lực Hải Nha.

– Đời Càn Long phiên âm theo tiếng Mãn thanh là A Nhĩ Cáp Nhã.

Nguyên sử loại biên xếp y vào vị trí một đại công thần triều Nguyên đứng thứ ba, ngang hàng với Ba Nhan (Bayan), Ngột Lương Hợp Thai (Uryiangqadai), Lý Hằng, A Truật (Ajou). Y cùng Bá Nhan, A Truật là ba tướng có công đầu diệt triều Tống: y đã hạ được Phàn thành, Tương dương, Ngạc châu, Giang lăng và chiếm 25 châu miền Nam Trung quốc như Tân, Dung, Khâm, Hoành, Ung và cả đảo Hải Nam.

Sở học của y rất uyên thâm các học thuật Trung Đông, Trung nguyên, mưu trí vào bậc nhất triều Hốt Tất Liệt. Về quân sự y rất giỏi binh pháp của Thành Cát Tư Hãn. Khi Thành Cát Tư Hãn đánh các nước Tây phương thu thái binh pháp của các nước này truyền lại cho các tướng Mông cổ, y học được. Y theo Hốt Tất Liệt đánh Trung nguyên, một lần nữa y học được binh pháp Hoa hạ.

Tuy nhiên y là một viên tướng khát máu, man rợ bậc nhất thời bấy giờ. Khi chiếm được Đàm châu, y thả cho binh lính tùy ý giết người, cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái rồi giết sạch. Tại Tĩnh giang, khi đánh bại quân Tống, y tập trung dân chúng rồi ra lệnh chôn sống hết, không phân biệt già, trẻ, trai, gái. Lúc tiến quân đến Tân sinh, y sai sứ chiêu hàng hai tướng Tống. Hai tướng mở cửa thành đầu hàng, nhưng y giết chết, lấy óc uống rượu, lại giết cả vợ con, gia thuộc hai tướng này.

Hầu hết các danh tướng triều Nguyên đều do A Lý Hải Nha đào tạo, cất nhắc như :

– Áo Lỗ Xích (Aguructri)
– Lưu Quốc Kiệt,
– Trình Bằng Phi,
– Tang gu tai (Đường Ngột Đải),
– Toa Đô,
– Triệu Tu Kỷ,
– Phàn Tiếp,
– Ô Mã Nhi,
– Bôn Kha Đa,
– Vân Tòng Long,
– Trương Vĩnh Thực.

Chính Hình bộ thượng thư Thôi Ức đã tâu với Hốt Tất Liệt như sau: “A Lý Hải Nha nắm trọng quyền văn võ, con cháu, phe đảng ra vào cửa y giữ hết chức quyền trọng yếu. Cần phải tước bỏ, đổi chân tay y khỏi Kinh hồ”.

Vũ Uy vương biết A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa cũng như Lưu Thái Bình dành cho Đại Việt cũng như mình nhiều thiện cảm. Thế nhưng cả ba thiếu suy nghĩ sâu xa, vô mưu bất trí, kém hiểu biết người nên hành sự nông cạn, sẽ nguy hiểm vô cùng. Vương thấy mình phải có bổn phận nhắc khéo ba người:

– Dù lý luận cách nào, tôi nghĩ khi về Yên kinh các vị phải cẩn thận. Cả ba vị đều phải công nhận bằng này điều.

Ngột A Đa hỏi:

– Xin vương gia dạy cho.

– Một là Đại vương Hốt Tất Liệt tài trí bao trùm hoàn vũ. Vương diệt Kim, biến lãnh địa Kim thành lãnh thổ riêng của vương. Vương đánh Tống, chiếm được phận nửa lãnh thổ. Phía Đông vương đánh Cao ly, bắt thần phục. Phía Tây chinh phục Tây hạ. Phía Nam bình Đại lý, Tây Tạng. Đây là lãnh địa vương tự tạo chứ không phải cắt của Đại hãn.

– Đúng thế.

– Hai là lãnh thổ của vương rộng hơn chính quốc Mông cổ. Vương dùng Hán pháp tổ chức hệ thống quan lại khác hẳn với Tống, lại càng không giống Mông cổ. Hệ thống này rất chặt chẽ, hợp với xã hội Trung nguyên. Vương ngồi trùm một vùng tài nguyên phong phú, quân lực hùng hậu. Uy của vương muốn áp Đại hãn.

– Đúng thế.

– Ba là vuơng có hùng tâm tráng chí, muốn chiếm luôn ngôi Đại hãn của anh. Vì vậy Đại hãn mới lập ra Câu khảo cục, tỉa bớt vây cánh của vương, thay vào đó những người mới. Nhưng bộ máy cai trị của vương vẫn còn đó. Tất cả quan lại đều do triều đình của vương điều động. Các vị chưa tháo gỡ được trọn vẹn. Thế mà bây giờ các vị chỉ có ba người với ba võ sĩ hộ tống mà định đến Yên kinh phá bỏ các cơ sở của Hốt Tất Liệt thì thực là thiên nan, vạn nan.

– Đúng thế.

– Bốn là vương về Hoa lâm không phải sợ Đại hãn. Vương biết rõ nếu Đại hãn đem quân đánh vương, chưa chắc đã thắng. Vì vậy vương về Hoa lâm để tìm cách loại Đại hãn, chiếm trọn vẹn Mông cổ. Khi vương về, vương tin chắc là chân tay ở Trung nguyên vẫn trung thành với vương. Nay các vị về Yên kinh, là nơi căn bản của vương, thì khó mà nắm được hết quyền bính. Hơn nữa tên A Lý Hải Nha đang điều khiển một nội các của vương, không dễ gì y chịu khoanh tay để ba vị hành động.

Cả bộ ba A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa, Lưu Thái Bình nghe Vũ Uy vương nói, cùng cảm thấy lo sợ.

Vương phi Ý Ninh hỏi:

– Tại Hoa lâm có bao nhiêu Hành trung thư tỉnh?

Ngột A Đa trả lời:

– Triều Mông cổ có bốn Thừa tướng. Một người phụ trách chính quốc Mông cổ. Một người phụ trách Kim trướng [Âu châu ngày nay]. Một người phụ trách Tây vực [Tây liêu, Tây hạ, Hoa thích tử mô, Pakistan, Afghanistan]. Một người phụ trách phương Đông [Kim, Liêu, Cao ly, Hoa Bắc, Tống, Đại lý, Tây tạng, Nhật bản, Đại Việt]. A Lan Đáp Nhi là Thừa tướng Trung thư tỉnh, tôi là Tham tri chính sự phương Đông.

Khi đoàn Khâm sứ sắp tới Yên kinh, thì A Lý Hải Nha thống lĩnh văn võ quan, cùng dàn một vạn Lôi kỵ ra ngoài thành hai mươi dặm đón rước cực kỳ long trọng.

Còn 10 dặm mới tới thành Yên kinh, mà nhà cửa, lâu đài, dinh thự tráng lệ lô nhô cả một vùng mênh mông. Trên đường phố, xe cộ, người ngựa đi lại tấp nập.

Phụ nữ dù Đông dù Tây, dù kim, dù cổ đều thích du ngoạn chốn phồn hoa ngắm cảnh, đều mê mua sắm y phục, nữ trang. Dù đã là đại phu nhân, lĩnh trọng trách nặng chĩu đôi vai, nhưng Thanh Nga, Thúy Nga vẫn chưa thoát khỏi tính tình của thiếu nữ mới lớn. Thanh Nga nói với chồng:

– Anh ơi! Anh từng ở đây lâu ngày, anh dẫn Vũ Uy vương với chúng em du ngoạn đất văn vật này đi.

– Dĩ nhiên. Muốn đi một vòng khắp Yên kinh thì ít ra phải 6 giờ xe ngựa. Còn đi bộ thì phải mươi ngày!

Ngột A Đa biết cô vợ trẻ của mình cũng như Thúy Nga với Vũ Uy vương phi, tuy bề ngoài là chúa tướng với thuộc hạ, nhưng tình còn sâu hơn mẹ con. Chàng biết rằng Khâm sứ chưa chắc làm chủ được Yên kinh, nên không muốn cho vợ vào thành. Chàng kiếm cớ sắp xếp cho hai nàng ở chung với sứ đoàn. Chàng nói với vương:

– Xin vương gia tạm dừng bước ở đây. Từ thời Liêu, Kim, triều đình đã kiến tạo một vùng gần sông Nhiệt hà, làm nơi tạm trú tiếp đón các sứ đoàn ngoại quốc. Vùng này có mười khu mang tên mười loại hoa: Đào hoa, Lan hoa, Quế hoa, Lý hoa, Cúc hoa, Quế hoa, Hồng hoa, Trà hoa, Đỗ quyên, Lưu ly. Tôi đã ban lệnh dành khu Lan hoa cho sứ đoàn Đại Việt. Tôi sẽ cử một viên quan thuộc bộ Lễ tiếp đón. Sứ đoàn cũng như đội kỵ mã Long biên được cung cấp mã phu, tỳ nữ, đầu bếp. Vương gia cần gì, cứ nói với họ. Xin vương gia cho tôi gửi Thanh Nga, Thúy Nga ở chung. Chứ phẩm hàm hai nàng cao nhất Yên kinh mà vào thành sẽ phải chung đụng với vợ con nhiều văn võ quan gốc Mông, Hán, Kim, Liêu, Tây vực rất phức tạp, e có điều không hay xẩy ra.

Ngột A Đa nói tiếng Việt với vương phi Ý Nhi:

– Từ hôm vu quy, hai nàng suốt ngày nhắc đến nhị vị. Bây giờ tôi để hai nàng ở với vương phi để chị em tha hồ đàm đạo.

Y nói với Thanh Nga:

– Em phải cẩn thận lắm mới được, vì tại Yên kinh này có đến mấy nghìn quan chức văn võ, gốc Mông cổ cũng có, gốc Tây vực cũng có. Nhưng phần đông là người Hán. Trong khi Thúy Nga là vương phi, coi như đệ nhất phu nhân. Em là phu nhân của Tham tri chính sự, là đệ nhị phu nhân. Bất cứ em gặp điều gì khó khăn, em cứ đưa Hổ phù của A Lan Đáp Nhi hay của anh ra, thì dù văn quan, dù võ tướng cũng phải răm rắp rạp người xuống.

Hơn giờ sau, một viên quan văn người Hán đi ngựa đến, hướng Vũ Uy vương hành lễ:

– Tiểu chức Phi Vinh, lĩnh Viên ngoại lang thuộc bộ Lễ, tuân lệnh Thừa tướng Trung thư tỉnh A Lý Hải Nha tiếp đón vương gia và sứ đoàn.

Nghe Phi Vinh nói, Vũ Uy vương biết A Lý Hải Nha vẫn dùng cái chức vụ Tể tướng của Hốt Tất Liệt, và coi bọn A Lan Đáp Nhi như một Khâm sứ mà thôi.

Phi Vinh liếc nhìn thấy hổ phù đeo trên cổ Thúy Nga với Thanh Nga thì kinh hoảng:

– Hai vị tiểu cô nương đây là…

Thanh Nga chỉ Thúy Nga nói tiếng Mông cổ:

– Đây là vương phi Thừa tướng, thân vương A Lan Đáp Nhi. Còn tôi là phu nhân của Tham tri chính sự Ngột A Đa.

Phi Vinh kinh hoảng vội cung tay hành lễ. Y ruổi ngựa dẫn đường. Qua con con lộ dài hơn năm dặm tới một cái hồ ước ba mẫu. Giữa hồ có một cù lao lớn. Cù lao nối với bờ bằng con đường lát đá. Hai bên đường trồng rất nhiều hoa. Trên mặt hồ có đàn ngỗng, đàn vịt trời đang bơi lội kiếm ăn. Tọa lạc trên cù lao là một ngôi nhà cột đỏ, ngói xanh. Phi Vinh chỉ bãi đất rộng cạnh hồ nói với La An:

– Khu tiếp sứ này tên Lan hoa. Ngôi dinh thự trên cù lao dành cho sứ đoàn. Tướng quân với các kỵ mã nên đóng trên bãi đất này.

Y chỉ một người đàn ông tuổi trung niên:

– Đây là người trông coi khu tiếp sứ này tên Cung Yên.

Thúy Nga lấy trong bọc ra hai lượng vàng. Nàng trao cho Phi Vinh, Cung Yên:

– Gọi là một chút bổng của Thừa tướng ban thưởng cho hai vị.

Hai người rạp mình xuống bái tạ, rồi chỉ một căn nhà nhỏ bên hồ:

– Anh em tiểu nhân túc trực tại ngôi nhà kia. Nếu vương phi cần gì xin cứ ra lệnh.

La An điều khiển mười đầu bếp, bộc phụ chuyển hành trang xuống khỏi xe. Sau một ngày hành trình vất vả, mọi người tắm rửa rồi ra đại sảnh họp. La An sai thả chó, chim ưng ra canh phòng thực cẩn mật.

Vừa an vị xong, vương phi Ý Ninh vuốt tóc Thanh Nga, Thúy Nga:

– Từ khi hai em rời Văn sơn tới giờ hơn năm rồi còn gì! Bây giờ chị em mình mới được truyện trò thoải mái. Hôm rồi tuy tái hồi tại Trường an, nhưng xung quanh, tai mắt Mông cổ rất nhiều. Nào chúng ta họp chợ.

Vũ Uy vương phì cười:

– Này, nói cho chị em biết, Thúy Nga là vương phi Thiên quốc Mông cổ. Thanh Nga là phu nhân phó Thừa tướng. Còn Ý Ninh là vương phi Đại Việt. Ai đời vương phi, đại phu nhân mà lại họp nhau như quạ vỡ tổ coi sao được!

Nói rồi vương ra sân ngắm hoa.

Vương phi tát yêu Thúy Nga, Thanh Nga, bắt hai nàng đứng trước mặt, ngắm nhìn từ đầu đến chân:

– Hai em tôi đẹp quá. Đẹp như thài lài.

Thúy Nga ngơ ngác:

– Rau thài lài có gì đẹp đâu mà chị ví với bọn em!

Thanh Nga cười khúc khích:

– Chị Ý Ninh gọi chồng chúng mình là cứt chó đấy.

–?!?

– Tục ngữ có câu:

Gái phải trai như thài lài phải cứt chó

Trai phải gái như cò bợ phải nước mưa.

Vương phi giảng:

– Rau thài lài dù tưới bằng phân gì cũng không thể lớn mau bằng phân chó. Nên người ta ví rau thài lài với các cô gái mới lấy chồng trổ mã xinh đẹp hơn bao giờ cả. Còn ngược lại con trai mới lấy vợ thì mặt mày xơ xác, thần trí mơ hồ, ngơ ngác ủ rũ như cò bợ bị trúng mưa.

Vương phi bẹo má Thúy Nga:

– Em tôi đẹp quá. Hát cho chị nghe một bài đi.

Phi đánh trống mảnh. Thanh Nga kéo nhị, Thúy Nga bật trống cơm. Thúy Nga cất tiếng ca theo điệu Quan họ:

Em là con gái Bắc ninh,
Em nghiêng nghiêng nón, mái đình cũng nghiêng.

Vũ Uy vương từ ngoài vào:

– Xinh đẹp, ôn nhu văn nhã, tay tiên tấu nhạc, ca như hạc bay đêm, mà chỉ nghiêng mái đình thôi à? Hai em là con cháu Tây Thi phải làm cho đại quốc Mông cổ rung rinh mới xứng đáng.

Được khen, má hai nàng đỏ hây hây. Thúy Nga mỉm cười:

– Dù đẹp như Tây Thi, dù ca hát hay đến đâu, chúng em cũng vẫn là cô gái Thăng long, là con cháu vua Trưng, là em ngoan của anh chị.

Thanh Nga ca tiếp:

Tha hương dạ những bồi hồi,
Thương cha nhớ mẹ, ai người cậy trông?
Trời nam ngút tỏa mây hồng.
Chữ trung, chữ hiếu một lòng sắt son.
Tình riêng một chút con con,
Đã lìa ngó ý, tơ còn hay không?

Vương phi Ý Ninh dùng Lăng không truyền ngữ rót vào tai Thúy Nga: “Cô nàng Thanh Nga đang say tình. Em ca mấy câu tình ca, móc Thanh Nga như chị em mình đã bàn. Trêu cho cô nàng xúc động, thì cô nàng mới tỉnh.

Thúy Nga nguýt Thanh Nga:

– Chỉ thương cha, nhớ mẹ thôi sao? Trước đây nàng Tô Thị trách chồng vui duyên mới, quên vợ con. Em còn nhớ không?

– Em không nhớ rõ.

Thúy Nga hát theo điệu Xẩm:

Tay cầm bầu rượu nắm nem,
Mảng vui quên hết lời em dặn dò.
Gánh vàng đi đổ sông Ngô,
Đêm đêm tơ tưởng đi mò sông Tương.

Hát xong nàng cười:

– Tô Thị trách chồng mải vui quên hết lời vợ dặn dò. Có người mới hôm nào thề non hẹn biển trên bến Bắc ngạn. Nay thành đại phu nhân, vui duyên mới nên đã quên người xưa rồi. Nàng là ai nhỉ? Chả biết cái anh Dã Tượng có trách ai không. Ai lấy chồng, mải vui ném lời thề ở bến Bắc ngạn xuống sông Tương rồi. Hỡi ơi, giờ này đại phu nhân của Thiên quốc Mông cổ đang ngụp lặn trong tình yêu, đâu còn nhớ đến cái anh chăn trâu voi đồng quê?

Nghe Thúy Nga trêu, hai mắt Thanh Nga đỏ hoe. Thúy Nga càng trêu già, nàng ca mấy câu trữ tình trong Kinh thi, mô tả anh chàng thất tình, đứng nhìn người yêu đi lấy chồng:

Yến yến vu phi,
Si trì kỳ vũ,
Chi tử vui qui,
Viễn tống vu dã,
Chiêm vọng phất cập,
Thế khấp như vũ.
Yến yến vu phi,
Hiệt chi hàng chi,
Chi tử vu qui,
Viễn vu tương chi,
Chiêm vọng phất cập,
Trữ lập dĩ khấp.
Yến yến vu phi,
Hạ thượng kỳ âm,
Chi tử vu qui,
Viễn tống vu Nam,
Chiêm vọng phất cập,
Thực lao ngã tâm.

Rồi nàng ca sang tiếng Việt:

Kìa trông yến bay
Cánh lên, cánh xuống.
Nàng đi theo ai?
Tiễn nàng ra đồng,
Trông theo chẳng thấy,
Khóc lóc như mưa.
Kìa trông yến bay,
Hàng lên, hàng xuống.
Nàng đã theo ai?
Nhìn theo không kịp,
Theo nàng đi xa,
Đứng nhìn nhỏ lệ.
Kìa trông yến bay,
Tiếng kêu đau thương.
Nàng đi lấy chồng,
Tiễn nàng về Nam,
Nhìn theo chẳng hịp,
Lòng này khổ đau.

Thanh Nga òa lên khóc. Nàng ôm lấy vương phi Ý Ninh:

– Chị ơi! Sông Hồng có thể cạn. Núi Tản có thể mòn. Em… Em không bao giờ quên anh Dã Tượng đâu. Khi anh ấy tiễn em đi, anh ấy hứa sẽ cưới chị Thúy Hồng rồi mà.

Vương phi tát yêu Thanh Nga:

– Em với Dã Tượng yêu nhau, gần nhau hơn năm mà em không hiểu Dã Tượng chút nào cả. Tội cho Dã Tượng đã gánh vàng đi đổ sông Ngô thực sự rồi.

Thanh Nga thút thít:

– Em ngu tối qua! Chị giảng cho em nghe đi.

– Em phải biết năm ông chim ưng Thiên trường, lớn nhất là Dã Tượng, nhỏ nhất là Địa Lô đều là những người khí hùng, trí dũng, lại đang gánh vác trọng trách của đất nước trên vai; nên trong tâm trí của họ coi quốc sự là trên hết mọi sự. Tuy nhiên họ vẫn là một người con trai, họ cũng rung động trước sắc đẹp, họ cũng dễ bị tiếng đàn, câu ca làm cho say đắm. Dã Tượng gặp em, dự tuyển phu, yêu thương em, say mê em, nhưng không để lộ cái yếu mềm ra. Trong suốt gần năm bên em, lúc nào đôi mắt Dã Tượng cũng hiện ra nét nhu mì, lời nói ngọt ngào.

Thúy Nga tiếp:

– Trong lần chúng mình làm thịt quay, gà hấp, nướng cá cho các anh ấy ăn, anh Dã Tượng chẳng từng gọi em là vợ đó ư? Chỉ có em là người vô tình không nhận ra mối tình sâu đậm trong lòng anh ấy mà thôi!

Thanh Nga tỉnh ngộ. Nàng khóc òa lên:

– Em ngu quá! Em ngu quá, sao chị không nói cho em biết.

Thúy Nga nói rất chậm, lạnh như băng:

– Tất cả mọi người đều cảm nhận được, chỉ duy mình em mải vui duyên mới, nên nào có biết lòng người quân tử.

Vương phi thấy Thanh Nga đã tỉnh, phi giáng thêm một đòn nữa:

– Nếu Dã Tượng không yêu em say đắm đời nào y cùng Thúy Hồng trốn ra ghềnh núi tiễn em riêng biệt. Thế mà em cũng không hiểu lòng y!

– Tại sao anh ấy lại rủ chị Thúy Hồng ra ghềnh núi tiễn em, mà không rủ người khác?

Phi thở dài:

– Thông minh như em mà không nhận ra ý của Dã Tượng sao?

– !?!

– Thúy Hồng tuy chưa thọ giới, nhưng đã giác ngộ vào đạo đức Thế tôn, nên trong tâm nàng trong sáng, không gợi chút bụi trần, giống như một ni sư. Dã Tượng muốn em quên đi những sợi tơ vương với y, để em yên tâm với duyên tình mới, yên tâm làm Tây Thi, nên mới nhờ Thúy Hồng cùng tiễn em. Nghiã là Dã Tượng đành câm nín chịu đau đớn, cho em hạnh phúc. Mà hỡi ơi em vô tình quá.

Thanh Nga hướng về Nam lậy ba lậy nước mắt lã chã:

– Anh Dã Tượng! Thanh Nga này trọn kiếp không bao giờ quên anh đâu. Em nguyện hết sức mình làm Tây Thi để không phụ tấm lòng hy sinh cao cả của anh.

Đến đó La An vào trình cho vương một ống đựng thư do chim ưng mang tới. Vương mở ra. Thư của Đại Hành:

Hốt Tất Liệt bị Đại hãn nghi ngờ không cho cầm quân. Tuy nhiên vì là Thân vương. Y được Đại hãn trao cho phụ trách việc cải cách, huấn luyện toàn quân. Y tâu với Đại hãn rằng: Muốn thắng Tống thì phải nắm được võ lâm Trung nguyên.

Từ trước tới giờ các tướng Mông cổ thường được tuyển dụng bằng cách:

– Mỗi thiên phu có một toán huấn luyện đào tạo cấp Thập phu. Được nhập trường này phải là kỵ mã có khả năng. Sau khi học sẽ được thăng lên Thập phu trưởng.

– Mỗi vạn phu có một trường huấn luyện, đào tạo cấp Bách phu. Được nhập trường này phải là Thập phu có chiến công, hoặc có tài. Sau khi tốt nghiệp được thăng lên Bách phu trưởng.

– Mỗi Hãn địa có một trường huấn luyện, đào tạo cấp Thiên phu. Được nhập trường này phải thuộc giòng quý tộc, hoặc con cháu các Thân vương, hoặc Bách phu có công trạng, tài năng.

Như vậy việc xung phong, hãm trận thì các Thập, Bách, Thiên phu tuy giỏi, nhưng dễ bị các tướng Tống võ công cao sát hại.

Hốt Tất Liệt nhấn mạnh: kinh nghiệm trong các trận Mông cổ thất bại đều do các tướng Tống dùng người có võ công cao, hoặc những cao thủ võ lâm theo giúp trong quân. Khi giao chiến, các cao thủ ra tay sát hại tướng Mông cổ cấp Vạn phu, Thiên phu, Bách phu, thậm chí Thập phu. Vì vậy trận thế Mông cổ bị rối loạn. Muốn thắng Tống, cần tuyển bọn võ lâm, rồi huấn luyện thành Thập, Bách, Thiên phu trưởng.

Đại hãn Mông ca nghe lời Hốt Tất Liệt ban chỉ đi khắp nơi mở võ đài tuyển người có võ công cao, tùy công lực cao thấp, tùy khả năng cho nhập thẳng vào trường đào tạo Bách phu, Thiên phu, Vạn phu.

Việc này thu được hai lợi ích: Một là tăng tài năng các tướng Mông cổ. Hai là chiêu dụ hết nhân tài sung quân. Các nơi khác muốn nổi loạn thì không còn người tài.

Đấy là bề ngoài, nhưng thực ra Hốt Tất Liệt muốn thu hết các cao thủ trong thiên hạ làm chân tay. Hiện y cho mở võ đài tại Hoa lâm. Anh hùng, võ lâm Đông, Tây đang ùn ùn kéo nhau về Hoa lâm tranh tài.

Đọc xong Vương đưa thư cho Vương phi đọc, rồi than:

– Chà! Tên Hốt Tất Liệt quả là một nhân tài kiệt hiệt. Kế hoạch này ta không thể nào phá nổi. Từ trước đến giờ từ thời Hán, thời Tống, cho đến Mông cổ. Khi xẩy ra chiến tranh với ta, bao giờ ta cũng phải chấp nhận một chọi mười. Sở dĩ ta thắng là nhờ chư tướng có võ công cao. Nếu như Hốt Tất Liệt chiêu mộ hết các cao thủ xung quân thì hai người của họ chọi với một của ta là ta khó đương nổi rồi. Chỉ cần ba đến năm năm nữa các Thập phu, Bách phu, Thiên phu của họ đều là người võ công cao thì Tống bị nuốt dễ dàng. Nuốt Tống xong, thì tụi Mông cổ đâu có để ta yên?

Vương phi rùng mình:

– Bây giờ chỉ có cách cho người của mình dự tuyển võ, rồi thành tướng của họ. Sau này sẽ âm thầm giúp nước.

– Được, chúng ta đi Hoa lâm xem cuộc tuyển võ này. Ta đứng trong bóng tối nghiên cứu võ công các gia, các phái, rồi đưa ra phá cách như Vạn Tín hầu khi xưa.

– Đành thế.

(Còn tiếp – Hồi 71)

Share this post