Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 72 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 72 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BẢY MƯƠI HAI
Điều trị bệnh phong thấp
 (Tiếp theo)

Địa Lô giảng:

– Loại phong thấp thứ nhất là hành tý, còn có tên phong thấp chạy, tê thấp chạy, hầu tý, v.v… Khi ba tà xâm nhập, nhưng phong mạnh hơn.

Chủ chứng như sau:

Phát nhiệt ác hàn,
Mình đau, tay chân đau,
Khớp xương đau nhức,
Chỗ đau thay đổi không chừng,
Khớp xương hoặc hồng đỏ hoặc sưng,
Gân mạch co rút,
Khúc gập chận tay, cổ bất lợi,
Trong đó đầu gối, mắt cá, cùi chỏ, cườm tay tổn hại nhiều nhất.
Mạch: phù xác, phù khẩn
Lưỡi: lợt, bợn lưỡi trắng ướt (nhuận).

Đó là hiện tượng phong, thấp xâm nhập. Phong là dương tà, thấp là âm tà. Khi phong thấp nhập vào cơ biểu, kinh lạc, khớp xương, thì thấy phát nhiệt ác hàn. Khi dương tà xâm nhập gặp âm tà thì bị ngưng lại, nên khí huyết không thông được, bất thông tất thống vì vậy khớp xương mới sưng đỏ đau đớn. Khi kinh mạch không được thông, thì các khúc gập bất lợi. Khi phong tà mạnh thì có hiện tượng phong giả, thiện hành nhi đa biến. Phong tà thịnh thì khớp xương đau, và chạy khắp cơ thể. Phù xác và phù khẩn là hiện tượng của phong thấp xâm nhập, phong tà thịnh. Bợn lưỡi lợt trắng nhuận là hiện tượng biểu chứng, phong chứng.

Nguyên tắc thi trị: Sơ phong, Thông lạc, Lợi thấp, Xả cân .

Dược trị: 1. Khương hoạt, 2. Độc hoạt, 3. Phòng phong, 4. Quế chi, 5. Xuyên ô, 6. Đương qui, 7. Hương phụ, 8. Hoàng thị, 9. Đỗ trọng, 10. Cam thảo.

Lý Đảm lắc đầu:

– Tôi không ở trong trường hợp này.

Vương Văn Thống tỏ ra thích thú:

– Hôm nay gặp tiên sinh, tôi như được mở mắt to ra vậy.

Địa Lô giảng tiếp:

– Loại thứ nhì là thống tý hay phong thấp lạnh, tê thấp lạnh.

Chủ chứng như sau:

Phát nhiệt ác hàn,
Thân đau, tay chân lạnh,
Khớp xương đau nhức,
Chỗ đau nhất định,
Ngày nhẹ đêm nặng,
Người cảm thấy lạnh,
Gặp nhiệt thì cơn đau giảm,
Gặp lạnh thì đau hơn,
Chỗ đau thì da không hồng, không nóng.
Thường phát vào những ngày mưa, u ám.
Mạch: trầm khẩn hoặc trầm huyền.
Lưỡi: lợt, bợn lưỡi trắng hoặc trắng dầy.

Đây là trường hợp: phong, hàn, thấp xâm nhập, nhưng hàn mạnh, ứ đọng tại cơ biểu, khớp xương. Hàn thấp là âm tà, tính của nó là ngưng đọng nặng nề và đục làm cản trở kinh lạc, khớp xương, khí huyết, bế tắc, không thông được mà bất thông tắc thống cho nên khớp xương đau, chỗ đau nhất định, Hàn tà mạnh, tính của nó là “Thu và Dẫn”, cho nên khớp xương, khúc gập bất lợi. Nếu Hàn tà thịnh bên trong thì sợ lạnh, chân tay lạnh, khớp xương cảm thấy lạnh, trời mưa, âm u thì âm khí tăng, nên bệnh nặng. Hàn tà thịnh nên khi gặp nhiệt thì giảm đau, vì nàn bị tản đi, khí huyết thông được. Mạch tượng trầm khẩn, trầm huyền là chủ về hàn thấp. Bợn lưỡi trắng và trắng dầy là chủ về hàn thống.

Nguyên tắc thi trị: Ôn kinh, Thông lạc, Tán hàn, Trừ thấp,

Dược trị. 1. Quế chi, 2. Ô đầu, 3. Xuyên ô, 4. Sinh khương, 5. Ma hoàng, 6. Độc hoạt, 7. Đương qui, 8. Sinh địa, 9. Trần bì, 10. Nhân sâm, 11. Đỗ trọng, 12. Cam thảo.

Lý Đảm reo lên:

– Đây đúng là bệnh của tôi.

Vương Văn Thống hỏi tiếp:

– Còn loại phong thấp thứ ba, tư?

– Loại thứ ba là phong thấp tê, tê thấp tê, trứ tý.

Chủ chứng như sau:

Toàn thân cảm thấy ớn lạnh,
Chân tay, khớp xương đau nhức ê ẩm, nặng nề,
Cơ nhục cảm thấy như tê hoặc sưng phù lớn lên,
Người nặng nề đi đứng khó khăn,
Hoạt động bất tiện,
Đau tại từng khu vực nhất định, thấp kết có nước,
Khi nằm trở mình khó khăn,
Ăn uống đầy ứ,
Mạch:trầm hoạt hoặc nhu hoãn.
Lưỡi: lợt, bợn lưỡi trắng trơn hoặc trắng đầy.

Đây là trường hợp phong, hàn, thấp xâm nhập mà thấp mạnh hơn. Các hiện tượng trên là do thấp, hàn xâm nhập bì phu, cơ nhục cùng khớp xương. Thấp hàn là âm tà, tính của nó là nặng nề và đục, cản, ứ đọng không tản đi được, cho nên chân tay mình mẩy nặng nề, tê tái, đau nhức hoặt động bất tiện, da bị sần sùi. Thấp tà thịnh bên trong, dương khí không thể chuyển thông, thì sinh ra phù thủng. Hàn thấp làm cho tỳ vị bên trong khốn khó vận hoá, cho nên ăn uống vào đầy ứ, vùng bao tử lồng ngực nghẽn. Thấp kết lại là do hàn thấp ứ đọng ở kinh lộ, không phân tán đi được. Mạch trầm-hoạt, nhu-hoãn. Bợn lưỡi trắng dầy, trắng trơn là hiện tượng của hàn chứng.

Nguyên tắc thi trị như sau: Trừ thấp xả cân, Tán hàn, Thông lạc.

Dược trị. 1. Khương hoạt, 2 Độc hoạt, 3 Xuyên khung, 4. Phòng phong, 5. Cam thảo, 6. Thương thuật, 7. Bán hạ, 8. Quế chi, 9. Tế tân.

Lý Đảm lắc đầu:

– Tôi không ở trong trường hợp này. Còn loại thứ tư?

– Loại thứ tư còn gọi là phong thấp nhiệt, tê thấp nhiệt, nhiệt tý,

Chủ chứng như sau:

Toàn thân phát nhiệt ác phong,
Miệng khô khát,
Hoặc nhiệt quá thịnh phiền khát,
Phiền táo bất an,
Ngày nhẹ đêm nặng,
Nước tiểu vàng, đỏ, tiện bí,
Khớp xương sưng hồng, nhức nóng,
Đau như lửa đốt dao cắt,
Gân mạch căng thẳng,
Hoạt động khó khăn, tay không dám đụng vào chỗ đau.
Gặp Hàn lạnh thì giảm đau,
Gặp ấm, nóng thì cơn đau tăng,
Phù thủng tăng mau
Hoặc thấy những vết hồng ban, ẩn chẩn,
Khớp xương nhiều chỗ đau nhức
Mạch: hoặc Phù xác hoặc Thoát tật, Hoạt xác.
Lưỡi: Chất hồng dầy vàng và trơn, hoặc vàng trắng lẫn lộn hoặc vàng táo hoặc vàng dầy.

Đây là chứng thấp nhiệt ứ đọng mà nhiệt tà thịnh, hoặc Phong thấp nhưng nhiệt thịnh cho nên phát nhiệt miệng khô, lồng ngực căng, đó là thắng. Khớp xương sưng đỏ mà đau, đó là nhiệt ứ tại khớp xương, thực chứng cho nên gặp hàn lạnh thì giảm. Làm việc quá độ, vệ khí không đủ bảo toàn cơ thể, kinh lạc ô trở, khí huyết vận hành không tốt, cho nên đau khốn khổ. Bợn lưỡi vàng, mạch Hoạt xác, Phù xác là chủ nhiệt chứng.

Nguyên tắc thi trị như sau: Thanh nhiệt, Trừ thấp, Sơ phong, Thông lạc.

Dược trị. 1. Thương thuật, 2. Hoàng bách, 3. Ngưu tất, 4. Dĩ nhân, 5. Hải đông bì, 6. Tần gia, 7. Phòng kỷ, 8. Mộc thông, 9. Xuyên khung, 10. Nhũ hương.

Vương Văn Thống hỏi:

– Vậy bây giờ thầy cho Đảm dùng thang thuốc Hàn tý phải không? Dùng bao nhiêu thang thì khỏi?

– Trường hợp Lý vương gia đây dùng thuốc vô hiệu.

– Ủa?!?

– Vì cả một khu vai, nửa cánh tay, phía sau lưng bị độc tố, hợp với Phong, Hàn Thấp kết lại, thì kinh khí bế tắc, thuốc không phá vỡ được thấp kết lại. Trường hợp này dùng thuốc thì vô hiệu. Vì vậy trước hết dùng châm cứu phá kết đã. Sau đó dùng thuốc mới có hiệu quả.

Nói rồi Địa Lô móc trong bọc ra một hộp bằng bạc, có bốn ngăn, mỗi ngăn đựng một loại kim dài ngắn khác nhau. Chàng châm một lúc ba huyệt phong là Phong phủ, Phong trì, Phong môn, rồi xoay kim. Vương Văn Thống hỏi:

– Lý của ba huyệt này ra sao?

– Đây là chứng Thống tý, tức Phong thấp lạnh. Căn bản của bệnh là do ba tà phong, hàn, thấp, mà hàn mạnh. Tuy nhiên phải sơ phong trước, vì vậy tôi châm ba huyệt Phong phủ, Phong trì, Phong môn.

Chàng lại châm tiếp huyệt Thận du, rồi quay kim, giảng:

– Tôi dùng huyệt Thận du, để đem dương khí của thận ra làm tan hàn.

Địa Lô châm các huyệt: Kiên trinh, Nhu du, Thiên tông, Liêm phong, Khúc đởm, Kiên ngung; rồi quay kim. Cuối cùng châm huyệt Hậu khê.

Vương Văn Thống gật đầu:

– Lý những huyệt này thì tôi biết, mục đích đánh tan hàn, độc chất tại khu bệnh. Nhưng huyệt Hậu khê thì tôi không hiểu!

– Sau khi sơ phong, tán hàn, phá kiên thì phải có huyệt thông kinh. Các khu đau đều nằm trên Thủ Thái dương tiểu trường kinh. Vì vậy dùng Hậu khê là huyệt thông kinh của kinh này.

Trong khi Địa Lô ngồi viết đơn thuốc, Vương Văn Thống hỏi Lý Cán Đại:

– Không biết đại nhân có nói được tiếng Hán không?

Lý Cán Đại chắp tay đáp bằng tiếng Hán âm Yên kinh:

– Tôi có thể nói tiếng Hán vùng Quảng Đông, Hàng châu, Lâm an, Yên kinh và cả Triều châu.

Vương Văn Thống xá một xá:

– Tôi nghe hoàng đế Cao ly được một vị đại vương của Đại Việt cùng chư đệ tử của ngài giúp đỡ mà đánh tan đội quân xâm lăng của Mông cổ. Ngài là trưởng tử của vương thì phải. Không biết đại nhân tới Yên Kinh có việc gì trọng đại không?

– Sứ giả Mông cổ tới Cao ly ép nhà vua đem Thái tử tới Yên kinh làm con tin. Tôi được chỉ dụ theo phò giúp Thái tử.

Vương Văn Thống chỉ Lê Linh Anh:

– Xin phu nhân tha cho tội đường đột. Lão phu có một thắc mắc là phu nhân còn trẻ, tuổi chưa quá 20 mà có sắc tướng rất lạ. Thứ nhất, thần thái tinh anh, mắt chiếu ra tia hàn quang cực mạnh. Thứ hai, toàn thân chắc như tượng đồng. Thứ ba, bước đi chậm mà uy nghiêm. Không biết phu nhân đã luyện tập loại võ công gì?

Lê Linh Anh cười dòn dã:

– Tiên sinh tinh mắt thực. Thế này, từ bẩy tuổi tôi đã đi chăn trâu, cắt cỏ. Mười tuổi học thêm nghề cấy lúa. Mười ba tuổi tập cỡi trâu đánh trận. Mười bốn tuổi đang cấy lúa, chăn trâu, thì giặc đến. Đức vua ban chỉ xung quân. Hết giặc, đức vua ban thưởng rồi cho về làng, vừa làm ruộng vừa tập trận cho đàn em.

Nàng chỉ vào Lý Cán Đại:

– Năm mười tám tuổi thì tuân chỉ đức vua, tuân lệnh cha mẹ vu quy sang Cao ly quốc không phải nâng khăn sửa túi cho ông chồng đầy bụng chữ nghĩa này, mà dạy cọp, dạy gấu, dạy chó, dạy trâu đánh trận.

Đến đây, Địa Lô nhổ kim khỏi người Lý Đảm, rồi tay phải xòe ra án vào đỉnh vai phải, tay trái nâng cánh tay phải Đảm lên cao, hạ xuống. Sau mười lần cánh tay Đảm đã dơ thẳng lên cao bình thường.

Vợ Đảm reo:

– Khỏi rồi!

– Vương phi ơi! Cánh tay vương gia mới chỉ dơ lên được thôi chứ chưa hoạt động bình thường đâu. Cần phải trị liên tiếp bốn ngày nữa. Trong bốn ngày đó, mỗi ngày uống một thang thuốc như sau: Quế chi, 3 tiền; Đương qui, 4 tiền; Ô đầu, 3 tiền; Sinh địa, 3 tiền; Xuyên ô, 3 tiền; Trần bì, 2 tiền; Sinh khương, 4 tiền; Nhân sâm, 3 tiền; Ma hoàng, 5 tiền; Đỗ trọng, 5 tiền; Độc hoạt, 3 tiền; Cam thảo, 1,5 tiền.

Lý Đảm cầm cái hộp bằng gỗ, hai tay kính cẩn trao cho Địa Lô:

– Trong hộp này có mười nén vàng (100 lượng) xin tạ đại phu. Thưa đại phu, còn bốn lần điều trị nữa, chúng tôi kính thỉnh đại phu tới chỗ chúng tôi trọ, để tiếp tục. Chúng tôi hiện ở tại khu Đào hoa dành cho sứ quán Cao ly. Khu này ở cách phía Nam thành 10 dặm. Hoặc nếu có thể, xin đại phu cho chúng tôi đón đại phu ở Nam thiên đường.

Địa Lô tiếp hộp, cười phơi phới:

– Chúng tôi hiện đang phải trị cho nhiều thân chủ, nếu để vương gia cho người đón e bất tiện. Vậy thì thế này, trong bốn ngày liền, kính mời vương gia đến khu Lan hoa, nơi sứ đoàn Việt cư ngụ, tôi sẽ đến đó vào lúc giờ Dậu để trị cho vương gia.

Vương Văn Thống đứng dậy hướng sứ đoàn Đại Việt:

– Vương gia! Vạn dặm xa cách, hôm nay được vương gia, vương phi dạy cho những điều vàng ngọc. Nguyện không bao giờ quên. Chiều mai chúng tôi sẽ tới khu Lan hoa nhờ vả vương gia.

Nói dứt y cùng con gái, con rể, cháu ngoại xuống lầu.

Vũ Uy vương đang định hỏi Chiêu dương tử Địa Lô những gì đã diễn ra từ khi Tử tiễn đưa bẩy nữ Ngưu tướng về Cao ly, thì La An đẩy cửa bước vào báo:

– Tả Thừa tướng A Lan Đáp Nhi cùng Tham tri chính sự Ngột A Đa sai sứ báo: giờ Thân chiều nay hai người sẽ tới khu Lan hoa đón phu nhân vào thành.

Vương nhìn ra ngoài, có lẽ sang giờ Ngọ rồi. Vương hô mọi người trở về gấp.

Về tới khu Lan hoa, vương phi sai đầu bếp chuẩn bị tiệc đãi khách. Phi nói với Thúy Nga, Thanh Nga:

– Tục ngữ có câu: Người đàn bà chưa thể gặp trượng phu nếu chưa trang điểm. Hai em cần trang điểm, thay y phục để đón chồng.

Vũ Uy vương hỏi Địa Lô:

– Công việc đưa dâu về Cao ly ra sao?

– Tuân chỉ triều đình, thần theo đại sư Huệ Đăng và công chúa Lý Như Lan tiễn bẩy cô dâu về Cao ly. Từ Chiêu dương đi Tiên yên bằng ngựa, rồi dùng một thương thuyền lớn lên đường. Lênh đênh trên biển suốt 37 ngày thì tới Cao ly. Kiến Bình vương tổ chức lễ cưới linh đình bẩy cặp một lúc. Sau lễ cưới người dẫn bẩy cô dâu vào hoàng thành bái kiến đức vua. Đức vua cực vui vẻ. Ngài ban chỉ cho Thái úy Vi Hiển Khoan, Kiến bình vương tổ chức Ngưu binh như Đại Việt. Sau sáu tháng đã huấn luyện, tổ chức dược bẩy Vệ Ngưu binh. Thần đang chuẩn bị về nước thì nhận dươc chỉ dụ của triều đình:

Lãnh hải, lãnh thổ Cao ly giáp với vùng Sơn Đông Trung nguyên. Mà vùng Sơn Đông hịện do sứ quân Lý Đảm đang biên thùy một cõi với cả Tống lẫn Mông cổ. Cần phải giúp Cao ly kết thân với Lý Đảm trong thế môi với răng, môi hở thì răng lạnh; hầu chia bớt mũi nhọn Mông cổ. Nếu như Mông cổ đánh Lý Đảm, thì Cao ly khởi binh đánh vào phía Đông Mông cổ. Ngược lại Mông cổ đánh Cao ly, thì Lý Đảm đánh vào sau lưng Mông cổ“.

Thần bàn với Kiến Bình vương. Vương khen là diệu kế. Vương tâu với đức vua Cao ly, tìm cách gửi sứ sang kết thân với Lý Đảm. Giữa lúc đó thì Hốt Tất Liệt lại sai sứ sang thôi thúc nhà vua phải tuân theo 6 điều:

Một là đích thân quốc vương phải vào chầu,
Hai là đem trưởng nam làm con tin,
Ba là kê biên dân số,
Bốn là phải chịu quân dịch,
Năm là phải nộp thuế, lương thảo.
Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri) .

Vương phi Ý Ninh lắc đầu:

– Sáu điều kiện giống hệt như đã bắt Đại Việt tuân theo!

– Sau khi nghị sự với triều đình, đức vua Cao ly nghe lời Kiến Bình vương, phỏng theo Đại Việt, chỉ chịu cho thái tử, thái tử phi sang làm con tin mà thôi. Sứ đoàn gồm thái tử Điển, thái tử phi, bồi sứ có Lý Cán Đại, lĩnh Đề học nghệ văn quán, Kim tử quang lộc đại phu và phu nhân. Đấy là bề ngoài, nhưng thực sự sứ đoàn sẽ tìm cách liên lạc với Lý Đảm. Nhân đó thần xin theo giúp Thái tử. Tới Yên kinh, sứ đoàn được ở trong khu Đào hoa. Khu này gần khu Lan hoa của mình. Thần thuê một căn nhà ngoài thành, yết bảng “Nam thiên đường, trị bệnh cho dân chúng, để thu lượm tin tức.

Vương phi hỏi Địa Lô:

– Có phải gã phu xe An Xa do Lô an bài không?

– Thưa phi vâng! Thần nhận được tin của Khu mật viện trong nước báo rằng sứ đoàn sắp tới Yên kinh. Thần sai thị vệ An Xa thuê cỗ xe của một phu xe bị bệnh, giả làm phu xe lảng vảng tại sáu khu quán sứ. Bốn hôm trước An Xa báo rằng sứ đoàn đã tới, ở tại khu Lan hoa. Thần ra lệnh: hễ thấy sứ đoàn đi đâu thì cố dành đón cho được rồi báo với thần.

Phi mỉm cười:

– Thì ra thế! Rồi sao nữa?

– Ba hôm trước thì sứ đoàn Lý Đảm sai người mời thần tới tửu lầu Anh vũ để chữa bệnh cho ông ta, vì ông ta không muốn tới Nam thiên đường, sợ tai mắt Mông cổ biết ông ta bị liệt tay thì nguy tai. Thần hẹn gặp nhau giờ Tỵ ngày hôm nay.

– Còn người phóng phi tiễn là ai?

– Y là một đệ tử của Kiến Bình vương, theo sứ đoàn Cao ly.

Vương thắc mắc:

– Chắc tướng quân được An Xa báo chúng tôi đang ngao du Yên kinh, nên sai người phóng phi tiễn hẹn chúng tôi tới để cùng gặp Lý Đảm. Có phải thế không?

– Đúng như vương gia đoán.

– Giỏi.

Thúy Nga, Thanh Nga đã trang điểm xong. Nhìn hai nàng, Địa Lô suýt xoa:

– Ôi hai tiên nữ giáng trần. Hai em tôi đẹp hơn hồi còn ở trong nước nhiều. Một người thì phơi phới như hoa lan, một người thì tươi như hoa huệ ban mai. Áy à! Cái anh voi đồng quê mà có mặt ở đây thì sẽ khóc hu hu vì để sổng mất con chim Thanh Nga.

Bị Địa Lô trêu, Thanh Nga hỏi móc:

– Thế nào? Bây giờ anh là phò mã trong phủ Kiến Bình vương rồi phải không? Công chúa Như Lan đã cho anh mấy công tử?

Mặt Địa Lô sa sầm xuống, toàn thân hiện ra cái buồn, cái xót xa:

– Trời ơi! Cô em tôi hạnh phúc quá rồi hóa lẫn. Nếu muốn có con thì phải một năm sau khi cưới. Thế mà anh mới rời Đại Việt hơn năm sao mà có mấy con? Còn công chúa Như Lan ư?

Địa Lô thở dài, lắc đầu:

– Đức vua Cao ly tuyển Như Lan cho thái tử Điển. Như Lan bây giờ là thái tử phi. Nàng cũng theo thái tử tới Yên kinh làm con tin. Hai em muốn gặp nàng thì anh sẽ mời nàng tới. À! Không cần, bốn hôm nữa A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa tiếp kiến các thái tử, thế tử, công tử đang làm con tin ở đây. Họ sẽ mang thê tử vào bái kiến vương phi A Lan Đáp Nhi, phu nhân Ngột A Đa. Bấy giờ nàng phải quỳ gối bái kiến hai em đấy. Hiện Như Lan ở với chồng tại khu Đào hoa, không xa đây làm bao.

– Thái tử Điển là người thế nào?

– Vô học, bất thuật. Võ công bình thường, văn học càng bình thường hơn. Cái khó chịu là y không đồng ý với vua cha về vấn đề Mông Cổ. Y chủ trương chấp nhận tất cả điều kiện do Mông Cổ đưa ra. Y thuyết phục đức vua để cho y sang Mông Cổ làm con tin. Vì vậy Công chúa Như Lan với y thường cãi nhau. Nàng hoàn toàn bất phục chồng.

Thanh Nga hỏi:

– Thế khi nàng lấy chồng anh có buồn không?

– Trời sầu đất thảm. Núi khóc sông rên cũng không thể đau buồn bằng người yêu đi lấy chồng. Ai ở vào trường hợp của anh thì cũng đứt ruột ra được. Tuy nhiên anh phải nói thực: anh vừa buồn, vừa vui.

Thanh Nga dí ngón tay vào trán Địa Lô:

– Cái anh này bị thất tình rồi sinh lẩn thẩn. Vui là vui, buồn là buồn. Có đâu vừa vui vừa buồn?

Địa Lô cười rung cả đôi vai:

– Này! Này! Đừng ỷ ta đây đẹp như tiên nữ rồi bắt nạt ông anh nghe! Để ông anh giải thích cho mà nghe. Ta buồn vì bất cứ một cô gái nào mà ta quen biết, khi nàng đi lấy chồng ta cũng buồn. Trước đây, Thúy Nga, Thanh Nga đi lấy chồng ta cũng buồn vậy, huống hồ nay người yêu, người từng cùng mình rung động con tim suốt hơn năm trời. Còn vui vì một cô gái Việt sắp làm hoàng hậu Cao ly.

Vương phi Ý Ninh mỉm cười:

– Này thím cảnh cáo Lô một điều nhé. Bây giờ hai cô này không còn là hai con bé lọ lem ăn quà như mỏ khoét ở Chiêu dương nữa đâu nhé! Một cô là vương phi Thừa tướng A Lan Đáp Nhi, một cô là phu nhân quốc công Tham tri chính sự Ngột A Đa của Thiên quốc Mông cổ. Còn cháu chỉ là Chiêu dương tử của nước Việt, nhỏ bằng hạt vừng, hạt đậu so với Mông cổ. Giả như một trong hai cô không bằng lòng Lô, chỉ cần nàng nháy mắt là các ông chồng sẽ đem Lô ra chặt đầu ngay.

Văn sơn Tử Địa Lô là người thông minh tuyệt đỉnh. Tử nghĩ thầm:

– Vì mình mang cái hư danh Nam thiên đệ nhất mỹ nam tử nên Vương phi nhắc mình rằng: coi chừng hai ông chồng của hai nàng ghen thì nguy.

Tử cười chắp tay hướng Ý Ninh:

– Thưa vương phi! Thần quên mất, thần cứ tưởng như hồi ở Chiêu dương.

Tử hướng Thúy Nga:

– Thần lỡ miệng xin vương phi xí xá cho.

Thúy Nga xua tay:

– Chị Ý Ninh nói đùa mà anh tưởng thực sao? Dù em có là hoàng hậu Mông cổ thì em vẫn là con dân Đại Việt, vẫn là cô em của anh mà.

Thanh Nga mỉm cười bí hiểm:

– Chị Ý Ninh làm Vũ Uy vương phi, bọn em làm vợ A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa; Hồng Ngát làm vợ A Truật, Thúy Trang làm vợ Hoài Đô; vậy mà yên tâm, vì được chồng sủng ái. Còn ai vô phúc thì làm vợ cái anh Nam thiên đệ nhất mỹ nam tử này…

Địa Lô phì cười:

– Thưa phu nhân ngài Phó Thừa tướng. Nô tài đang ế vợ, mà phu nhân phán như vậy thì suốt đời nô tài phải phất phơ giữa chợ đấy.

Thanh Nga lại dí ngón tay trỏ vào trán Địa Lô:

– Nói ngược! Anh ỷ ta đây văn hay, chữ tốt rồi nói ngược. Anh được đời tặng cho mỹ danh Nam thiên đệ nhất mỹ nam tử. Đã vậy còn kinh luân gồm tài, tám thuật xạ, ngự, thư, họa, nho, y, lý, số đều nức danh. Bên cạnh đó lại đàn ngọt, hát hay. Nhất là cái mỏ dẻo quẹo. Cho nên dù bà già lụ khụ, dù thiếu nữ đương xuân, thấy anh đều động lòng xuân.

– Oan uổng!

– Oan uổng cái gì! Nghe Thúy Hồng nói, khi gặp anh tại bến Ô giang cả Tô lịch thất tiên, lẫn công chúa Như Lan đều động lòng xuân. Đến nỗi một nàng Hoa phải giả đau bụng kinh để được anh sờ mó. Hôm nay, chính mắt em thấy bà vợ của Lý Đảm, với cô em đẹp như hoa nở cùng nhìn anh như mơ, như tỉnh. Bởi vậy em mới nói: ai là vợ anh thì cả đời chạy theo anh, chứ anh có yêu ai đâu? Tô lịch thất tiên bị đem cống cho Mông cổ, anh rửng rưng không một chút tiếc thương. Công chúa Như Lan lấy chồng, anh chỉ tiếc một chút chút thôi, đó mới đáng tội.

– Tất cả những người đẹp em nói, anh không hề theo đuổi họ. Cũng không hề có lời dâng hoa, bắt bướm.

Thúy Nga hừ một tiếng:

– Vì vậy Thanh Nga mới nói: ai yêu anh thì yêu, ai chạy theo anh thì chạy, chứ trong tâm anh chẳng có ai cả.

(Hết Hồi 72)

Share this post