Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 77

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 77

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BẢY MƯƠI BẢY
Nếu con tát cạn biển Đông,
Thì con mới hiểu được lòng mẹ cha.

Văn sơn Tử Địa Lô thuật tiếp: Hoàng Liên được nối gân chân tay, tái hồi với Tạ Quốc Ninh ra sao. Nàng được Vô Huyền bồ tát thu làm đệ tử rồi trả thù thế nào. Hiện Hoàng Liên đang cùng Tạ Quốc Ninh giúp quần hùng Đại lý cần vương.

Thuật xong, Tử trao thư, vàng, ngọc của Hoàng Liên cho ông bà.

Từ ngày song thân Thất liên được ban chức tước, được cấp ruộng canh tác không phải sưu thuế, thì cuộc sống rất nhàn nhã. Tuy nhiên vì con gái phải sang cống cho Thát đát, hung dữ khó lường, nên ngày đêm lo lắng. Bây giờ được biết con gái đều trở thành quý nhân, lại gửi vàng ngọc về phụng dưỡng thì mừng chi siết kể. Nhưng trong lòng 14 người ấy đều thao thức, ước vọng có ngày gặp lại con.

Vũ Uy vương phi nói:

– Các ông bà nên viết thư cho con, viết càng dài càng tốt, kể về cuộc sống yên ổn tại quê nhà. Trong thư cũng nên nhắc rằng những gì cha mẹ được hưởng là do ân huệ của triều đình ban cho.

Chiều hôm đó thư của cha mẹ Thất liên đã trao cho Địa Lô. Tử đệ lên cho vương phi Ý Ninh duyệt qua, vì sợ trong thư có thể họ vô tình tiết lộ quốc kế chăng. Cuối cùng Tử cho chim ưng mang đi.

Sáng hôm sau cả đoàn tiếp tục lên đường về Thăng long. Khi đoàn qua Gia lâm, Vũ Uy vương ban chỉ:

– Con người ta, gốc thân xác là cha mẹ. Trừ Dã Tượng, Yết Kiêu, Đội kỵ mã Long biên, các mã phu, đầu bếp; gia đình đều ở Thiên trường, thì đi cùng chú thím. Còn Cao Mang, Kha Li Đa; Đại Hành, Địa Lô; Thúy Hồng nhà gần đây, nên về thăm nhà một vài ngày, rồi phải về Cố trạch bái kiến Thượng hoàng. Địa Lô, Thúy Hồng nên đến thăm gia đình bốn con bé Đông hoa, trao thư, quà tặng chúng gửi cho gia đình

Vương phi Ý Ninh gọi Địa Lô lại gần:

– Ngay chiều nay, cháu phải làm lễ phát tang Như Lan, rồi làm cơm cúng nàng cho phải đạo. Việc xong, cháu về Thiên trường ngay.

Đoàn người ngựa vừa tới Bắc ngạn thì có sứ giả của Thượng hoàng truyền chỉ:

Vương, vương phi không phải vào thành Thăng long yết kiến triều đình, mà về thẳng Cố trạch yết kiến Thượng hoàng.

(*) Ghi chú: Cố trạch tức Thiên trường.
Đất Thiên Trường là miền họ Trần dựng nghiệp từ mấy trăm năm. Khi vua Thái Tông lên ngôi, cắt đất phong cho hoàng tộc, mỗi người một vùng. Sợ rằng tông tộc phân tán đi khắp nơi, thâm tình sẽ phai lạt, nên nhà vua phân chia vùng đất linh gần tháp Phổ Minh ra thành từng khu nhỏ, chia cho các vương hầu mỗi người một mảnh, cất dinh thự làm nơi cư ngụ chính thức tại quê hương. Đất này sử gọi là Cố Trạch. Hằng năm tất cả tông tộc nhà Trần phải về Cố Trạch giỗ tổ, cùng xum họp.
Vùng Cố Trạch bao gồm toàn huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản và thành phố Nam Định ngày nay. Hiện (2001) vùng Cố Trạch chỉ còn lại một khu nhỏ nơi có đền thờ Hưng Đạo vương, cùng đền thờ các vua Trần và công thần.

Nguyên Phong hoàng đế nhường ngôi cho con sau là vua Thánh tông. Tân quân tôn ngài là Thái thượng hoàng đế. Tuy đã nhường ngôi cho con, nhưng thượng hoàng vẫn nắm những quyết định lớn.

Đoàn người ngựa đổi hướng chạy về Nam. Vương phi thắc mắc:

– Chúng ta từ Mông Cổ về, lý ra triều đình cần nghe chúng ta tâu trình để biết tình hình. Thế sao phụ hoàng lại tuyên chỉ cho chúng ta về Cố trạch?

Vũ-uy vương trả lời vương phi:

– Anh nghĩ, khi được tin chúng ta trở về, đúng lý ra triều đình phải triệu hồi chúng ta để tường trình chư sự, thế mà phụ hoàng lại truyền chỉ chúng ta về Thiên Trường tâu lên người, như vậy thì cái vấn đề đối phó với Mông Cổ này do chính phụ hoàng định kế sách. Em nghĩ sao?

– Em thì em nghĩ khác. Có thể phụ hoàng nghi trong triều có tai mắt của giặc, nên người muốn chúng ta diện tấu, như vậy kín đáo hơn.

Vương vỗ tay vào thành xe:

– Chúng ta sang Trung Nguyên suốt ba năm liền, không biết ở nhà triều đình có gì thay đổi không?

– Em nghĩ thay đổi thì có, nhưng không nhiều, vì phụ hoàng vẫn nắm kỷ cương.

Vương phi đưa mắt nhìn vào dẫy núi Côi, trong tâm tưởng tượng lại trận đánh cánh đồng Văn, rồi than:

– Anh à, Mông Cổ phá rồi, phụ hoàng đã nghe theo lời tâu của Hưng Đạo vương rằng: Nước mình đất hẹp, dân thưa, so với Trung Nguyên chưa bằng một phần trăm, mà Trung Nguyên còn bị Mông Cổ đánh bại. Vậy mình cũng chẳng nên vì tự ái, đem ít lễ vật, sai sứ sang nói lời nhũn nhặn mà tránh được chiến tranh thì hơn. Không biết ai đi sứ?

– Tướng quân Lê Tần. Trong trận đánh Bình Lệ nguyên, tướng quân Lê Tần tả xung hữu đột giải cứu phụ hoàng bao phen. Vì vậy sau trận ấy, người ban cho Lê tướng quân cái tên Lê Phụ Trần. Lê Phụ Trần lại được phong tước hầu, trao cho chức Ngư Sử đại phu, rồi gả… rồi gả… công-chúa Chiêu Thánh cho.

Nghe chồng nói, vương phi Ý Ninh mở to mắt tỏ vẻ bực mình:

– Công chúa Chiêu Thánh! Anh mà cũng nói như vậy sao? Làm gì có vụ… sư phụ lấy chồng!!!

– Anh biết rõ là không có cái vụ ấy. Nhưng Thái sư Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ muốn mọi người phải tin như vậy thì anh cũng phải chịu thôi.

– Nhưng em không chịu. Em phải nói ra sự thực. Bằng không, thanh danh của sư phụ bị ô uế.

Xe đã đi vào địa phận Cố-trạch. Để kéo vương phi ra khỏi cơn giận, vương chỉ về ngọn tháp phía xa xa:

– Kìa là tháp Phổ minh. Một trong Nam thiên tứ đại thần khí.

* Ghi chú: Tháp và chùa Phổ minh ở xã Tức mặc, nay là Lộc vượng, ngoại thành Nam định. Tháp và chùa được dựng từ đời Lý. Tại đây có cái vạc lớn do Bồ tát Minh Không đúc là một trong Nam thiên tứ đại Thần khí:
– Tượng Phật Quỳnh lâm,
– Chuông Quy điền,
– Đỉnh tháp Báo thiên,
– Vạc Phổ minh.
Hồi thứ bẩy, đã thuật về Cố trạch, bây giờ xin thuật tiếp về chùa và tháp Phổ minh.
Niên hiệu Thiệu-long thứ nhì (1262) đời vua Trần Thánh-tông, dựng cung Trùng-quang ở gần và cho tu sửa chùa, làm chỗ nghỉ ngơi của Thái-thượng hoàng.
Niên hiệu Hưng-long thứ 13 (1305) đời vua Trần Anh-tông, cho xây tháp 14 tầng trên 12 bậc gạch, cao hơn 20 mét bằng đá quý, gạch nung trang trí hình rồng lượn, với chữ Hưng-long thập tam niên.
Sau khi vua Trần Nhân-tông băng hà, nhục thể đem thiêu, triều đình đem bẩy viên xá lợi đặt trong tháp để thờ phụng. Chính vua Trần Minh-tông có thơ đề:
“Đề Phổ-minh tự thủy tạ”.
Huân tận hương đầu mãn tọa hương,
Thủy lưu sơ khởi bất đa lương.
Lão dung ảnh lý tăng khai bế,
Đệ nhất thiền thanh thu tứ trường.
Đào Thái-Tôn dịch như sau:
Đề ở nhà thủy tạ chùa Phổ-minh.
Hương cháy ngàn tăm khắp chốn thơm,
Nhẹ trôi dòng nước khói lan nồng.
Đa già rợp bóng, sư cài cửa,
Một tiếng ve kêu, thu rộn buông.
Năm 1426, Vương Thông bị Bình-Định vương Lê Lợi đánh bại, có người mách với y rằng: sở dĩ người Việt nổi lên bại được quân Minh là do Nam-thiên tứ khí. Vương Thông sai quân hủy vạc Phổ-minh cùng với đỉnh tháp Báo-thiên, tượng phật Quỳnh-lâm, nói thác rằng để đúc súng đạn.
Tiến-sĩ Bùi Huy-Bích (1744-1818) có bài thơ Du Phổ-minh Tự dưới đây:
Loạn hậu trùng tầm đáo Phổ-minh,
Nhàn hoa dã thảo mãn nham quynh.
Bi văn tước lạc hòa yên bích,
Phật nhãn thê lương chiếu dạ thanh.
Pháp giới dữ đồng thiên quảng đại,
Thổ nhân do thuyết địa anh linh.
Liêu liêu cổ đỉnh kim hà tại?
Thức đắc vô hình thắng hữu hình.
Ngô Đức-Thọ dịch như sau:
Sau loạn tìm về đến Phổ-minh,
Hoa đồng cỏ nội ngút trời xanh.
Văn bia sứt mẻ nhòe mây khói,
Mắt Phật âu sầu chiếu ngũ canh.
Cõi phép cùng trời bao rộng lớn,
Người đây vẫn nói đất linh thiêng.
Não lòng đỉnh cổ rầy đâu tá?
Mới biết vô hình thắng hữu hình.
Hiện nay vạc không còn nữa, nhưng tháp, chùa Phổ-minh vẫn còn đó. Chùa, tháp cùng với đền thờ các vua Trần, đền thờ Hưng-Đạo vương ở cạnh nhau.
Du khách muốn hành hương, trước hết tới thành phố Nam định rồi dùng xe, đi về hướng Bắc thành phố, qua khu Lò-trâu, quẹo phải, tới những đoạn sông Vỵ-hoàng chỗ còn, chỗ bị lấp, rồi quẹo trái là đến khu di tích lịch sử này. Đầu tiên là cái sân ngoài, có cây đa cổ. Qua lần cổng thứ nhất tới cái hồ. Đi vòng qua bờ phải hồ tới đền thờ đức thánh Trần. Vòng qua trái hồ là đền thờ các vua Trần. Bên trái đền thờ vua Trần là tháp và chùa Phổ-minh. Trong đền thờ đức thánh Trần cũng như các vua Trần. Hai đền, chùa, tháp còn giữ được khá đầy đủ tượng, câu đối, hoành phi cổ.
Tháp Phổ-minh hiện được các nhà sản xuất tranh sơn mài, các họa sĩ dùng làm cảnh tiêu biểu cho di tích lịch sử, văn hóa Việt Nam. Nếu đi sâu vào Tức-mạc còn có lăng đức thánh Trần và vương phi, nhưng lăng này là lăng vọng, chứ không phải lăng thực.
Độc giả muốn thâm cứu về chùa, tháp Phổ-minh, có thể đọc thêm các sách (bằng chữ Hán):
Trung-quốc:
– Quách-thị Nam-chinh,
– Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký,
– Giao-chỉ linh thần kỷ sự.
Việt-Nam:
– Đại-Việt sử ký toàn thư (đệ ngũ kỷ),
– Hoàng-Việt nhất thống địa dư chí,
– Đại-Việt địa chí,
– Nam-định tỉnh địa dư chí,
– Phương-đình mạn hứng tập,
– Tồn thi cảo,
– Đại-Nam nhất thống chí,
– Đồng-Khánh địa dư chí lược,
– Toàn Việt thi lục.

Nắng chiều vàng úa dọi vào tháp, hiện ra ánh hào quang rực rỡ. Viên đội trưởng kỵ-mã hộ tống tới trước xe cung tay hành lễ:

– Khải vương-gia. Vương gia định về vương-phủ hay đến triều kiến thượng-hoàng?

– Ta cần triều kiến phụ-hoàng rồi mới về phủ.

Đoàn xa giá hướng tháp Phổ Minh, qua tháp thì tới hành-cung là nơi thượng-hoàng ở. Đoàn xe vừa dừng lại, đã có viên thái-giám Đại Lực cúi đầu hành lễ:

– Khải vương gia! Thượng hoàng đang mong vương gia, vương phi.

Ý Ninh hỏi:

– Công công! Có ai nữa không?

– Khải, có Trung Vũ đại vương, Hưng Ninh vương, Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương, Chiêu Quốc vương, ngự sử đại phu Lê Phụ Trần, và tham tri bộ Lễ Chu Bác Lãm.

Trung Vũ đại vương là tước phong của Thái sư Trần Thủ Độ, Hưng Ninh vương là tước phong của Thượng tướng Trần Quốc Tung, anh Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương là tước phong của Thái úy Trần Quang Khải, con thứ vua Thái tông. Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc được cử trấn nhậm Bắc cương thay Vũ Uy vương sang Mông Cổ làm con tin.

Vũ Uy vương cùng vương phi xuống ngựa, đi trước, phía sau là Dã Tượng, Yết Kiêu, Vương Chân Phương. Tất cả leo lên chín bậc thềm, vào trong chính điện quỳ gối:

– Thần nhi khấu đầu vấn an phụ hoàng.

– Các con bình thân, an tọa. Thế nào đường xa có mệt lắm không?

– Đa tạ phụ hoàng! Hoàng nhi chỉ cần thấy long thể phụ hoàng thì dù mệt gì cũng hết.

Vương quay sang Trung Vũ đại vương khấu đầu:

– Chúng con kính cẩn vấn an ông trẻ.

Thái-sư Thủ Độ vẫy tay:

– Miễn lễ.

Thấy Thái sư cột giải khăn tang ngang cánh tay, vương phi kinh hãi:

– Thưa ông trẻ! Trong nhà mình có tang ư?

– Đúng vậy, năm trước sau khi đi Văn sơn họp với hai cháu; trở về thì Tuyên minh thái hoàng thái hậu, rồi Linh từ quốc mẫu băng!

Thái-sư Trần Thủ Độ là người tạo ra triều Trần, là chú vua Thái tông, là vai ông của Vũ Uy vương, uy thế cực kỳ lớn, nhưng ông không thích lối xưng hô theo cung đình, vì vậy Vũ Uy vương phải xưng hô theo lối bình dân. Vũ Uy vương cùng vương phi quay sang Hưng Ninh vương, Hưng Đạo vương:

– Đệ kính cẩn ra mắt nhị vị vương huynh.

Thượng hoàng đưa mắt nhìn vương phi Ý Ninh, rồi vẫy tay, chỉ vào ghế cạnh ngài:

– Hà, ba năm qua, con vì quốc sự phải bôn ba nắng mưa. Thực thực xứng đáng con cháu vua Trưng. Con ngồi đây.

Cử chỉ sủng ái con dâu của Thượng hoàng không qua được con mắt của Trung Vũ đại vương: Thượng hoàng có hằng mấy chục con dâu, ngài chưa từng tỏ ra cử chỉ sủng ái như vậy với ai. Nay trước mặt số đông người, ngài tỏ ra như vậy, chỉ vì Ý Ninh là học trò yêu của Vô Huyền bồ tát (Chiêu Hoàng). Ngài tuy đã cao niên, mà vẫn không quên được người từng đầu gối tay ấp xưa.

Vương phi Ý Ninh cảm động, khép nép ngồi bên phụ hoàng, rồi chỉ Vương Chân Phương tâu trình lý lịch nàng. Trung Vũ đại vương tuyên chỉ:

– Chân Phương mới học tiếng Việt, thì dự buổi thiết triều vô ích. Chân Phương coi như vợ Yết Kiêu thì là con dâu Hưng Đạo vương. Hãy đưa về phủ Hưng Đạo bái kiến vương phi.

Cung nữ dẫn nàng rời đại điện.

Hưng Đạo vương đưa mắt cho Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân, Khâu Bắc bá Dã Tượng:

– Con kiểm soát an ninh lại một lần, trước khi khai hội.

– Tuân chỉ phụ vương.

Dã Tượng lui ra khỏi điện, kiểm lại toán thị vệ canh gác một lượt, rồi trở vào cung tay:

– Khải phụ vương, hoàn toàn cơ mật.

Thượng hoàng lên tiếng:

– Trẫm triệu chư khanh về đây để chúng ta duyệt lại tình hình đất nước, rồi đưa ra kế sách sao cho xã tắc được toàn vẹn.

Thời vua Thái tông còn tại vị, niên hiệu Nguyên Phong thứ ba (1253) phong cho em ruột là Khâm Thiên đại vương Nhật Hiệu lĩnh chức thái úy. Chức thái úy tương đương với ngày nay là Tổng tư lệnh quân đội. Thế nhưng trong trận giặc Mông Cổ sang đánh lần thứ nhất, quân thua Bình Lệ Nguyên, hai ải Phù Lỗ, Cụ Bản đều vỡ, triều đình rút khỏi Thăng Long, giặc nhập kinh thành đốt phá tàn sát dân chúng. Trước thế nước chông chênh như trứng chồng trên đá, Hưng Ninh vương, Hưng Đạo vương, Vũ Uy vương, Nhân Huệ vương đang cùng chư tướng xuất lĩnh quân dân xả thân chống giặc; vua hỏi thái úy Nhật Hiệu kế sách phá giặc, thì vương run rẩy đến nỗi nói không ra lời, tay cầm cái sào viết lên mặt nước hai chữ “Nhập Tống“, ý khuyên nhà vua nên trốn sang Tống. Nhà vua kinh hoảng hỏi thái sư Trần Thủ Độ. Thái sư khẳng định “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ-hạ đừng lo. Rồi Khâm Thiên đại vương còn trái lệnh của Tiết Chế Hưng Đạo vương, dàn quân tại cánh đồng Văn chọi nhau với giặc, làm thiệt hại mấy vạn binh mã. Hết giặc, vương xấu hổ xin từ chức. Thiệu Long hoàng đế phong em kế là Chiêu Minh đại vương lĩnh chức thái úy, thay thế ông chú vô tài, lại nhát gan.

Chiêu Minh đại vương nghe phụ hoàng ban chỉ, liền đứng dậy vỗ tay hai cái, hai viên tá lĩnh mang ra ba cuốn trục vải treo lên ba cái giá. Vương chỉ vào cái thứ nhất:

– Tâu, về thiệt hại của dân chúng rất ít. Khi giặc nhập Bắc biên, Vũ Uy vương cho ém quân, vì vậy chúng không phá phách gì cả. Tại chiến trường Bình Lệ nguyên, chúng tàn phá đốt hơn hai nghìn nóc gia, nhân mạng dân chúng không thiệt hại gì, vì đã di chuyển sang vùng lân cận. Tại chiến lũy Phù Lỗ, cũng như Cụ Bản, toàn bộ hai làng này, nhà cửa, lũy tre bị đốt sạch. Dân chúng cương quyết ở lại cùng chống giặc, nên thiệt hại lên đến 1234 người.

Hưng Ninh vương ngắt:

– 1234 xuất đinh hay tính chung?

– Thưa vương huynh, tính chung. Nam chết 675 người, còn lại 559 là nữ. Trong số 1234 người thì người già trên 55 tuổi và trẻ dưới 16 tuổi là 447.

Yết Kiêu đứng hầu sau Hưng Đạo vương xin tâu. Thượng hoàng vui vẻ nói với Yết Kiêu như cha nói với con:

– Con tử chiến tại Phù Lỗ, Cụ Bản chống giặc, chắc con biết rõ tình hình hơn.

Giọng nói của thượng hoàng đầm ấm, khiến Yết Kiêu cảm động:

– Tâu, các hoàng nam được huấn luyện chiến đấu, họ biết tiến lùi nhịp nhàng, họ còn biết sợ giặc. Chứ người già, đàn bà, trẻ con, họ chỉ biết liều mạng giữ làng, họ chiến đấu như hổ đói gặp mồi. Triều đình không đủ vũ khí phát cho họ. Họ tự tạo vũ khí. Vũ khí của họ là gậy gộc vót nhọn, là dao bổ củi. Có người dùng gạch, dùng đá ném vào giặc. Khi ra lệnh rút quân, họ không tuân, cứ đánh. Có người ruột lòi ra, một tay nhét ruột vào, ôm bụng, một tay cầm dao xông vào chém giặc. Tất cả tù binh Mông Cổ bị bắt, chúng khai, chúng không sợ quân, sợ tướng của ta, mà sợ người già, đàn bà, trẻ con.

Tất cả cử tọa đều nhắm mắt tưởng tượng lại cuộc chiến khủng khiếp tại ải Phù Lỗ, Cụ Bản. Hưng Đao vương tiếp lời Chiêu Minh vương:

– Tại sao trong lịch sử Trung Nguyên, với biết bao nhiêu cuộc chiến, trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biết bao nhiêu lớp sóng phế hưng; nhưng chưa có thời nào dân chúng lại một lòng chiến đấu như vậy? Tộc Việt ta, cũng chưa có thời nào mà dân chúng lại tỏ khí phách cùng với triều đình chống giặc như vậy?

Vương ngùng lại cho cử tọa suy nghĩ, rồi tiếp:

– Binh tướng can trường khi lâm chiến, một lòng với triều đình thì bên Trung nguyên không thiếu. Bên Đại Việt ta, thời Hùng từng thắng giặc Ân, thời Âu Lạc từng thắng quân Tần Thủy Hoàng. Thời Lý từng thắng Tống. Nhưng đấy là do triều đình, tướng sĩ thắng giặc, chứ dân chúng thì không hề tham dự. Duy thời Lĩnh Nam, vua Trưng cùng 162 anh hùng, nhân cái nhục bị giặc Hán tàn bạo chiếm nước, mà cùng nhau tuốt gươm khởi binh. Trong 162 anh hùng đều xuất từ dân chúng; các ngài khích cho dân biết cái nhục bị trị, mà cùng nổi lên. Sau khi đuổi dược giặc, triều Lĩnh Nam thể theo ý dân mà lập nền cai trị. Dân chúng cảm thấy đất nước là của họ chứ không phải của triều đình. Vua Trưng từng ban chỉ cho tướng sĩ rằng:

Đất nước này là của toàn dân. Vua và triều đình là người lo cho dân, chứ không phải ngồi trên đầu dân mà ban phát ân huệ. Triều đình, tướng sĩ do dân mà ra. Bất cứ làm gì cũng phải tâm niệm: Việc này dân chúng có ưa thích không? Dân chúng được hưởng gì? Làm những điều mà lòng dân oán đối thì vua, quan không khác gì đạo tặc“.

Vì vậy mà đất nước Lĩnh Nam tuy nhỏ, hẹp, cũng đánh cho quân Hán trước sau năm trận kinh thiên động địa. Tài như Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí mà phải năm năm mới thắng được. Vừa rồi cuối đời Lý, vua thì hôn ám, triều đình thì gồm toàn các quan ù lý, quyền vào tay hậu cung. Do vậy khi ngôi vua chuyển sang giòng họ Đông A nhà ta, dân không hề hồi tưởng. Khi Thượng Hoàng tiếp ngôi từ họ Lý, trên vua không quá phân biệt xa cách anh em giòng họ. Đối với dân chúng ban hành chính sách lắng nghe nguyện vọng của họ mà lập nền cai trị. Vì vậy dân chúng coi đất nước là của họ, làng ấp là của họ. Rồi trong cuộc chiến, ta gửi quân về hương đảng cùng dân chúng chống giặc. Sau này, và mãi mãi, dù Mông Cổ có mạnh tới đâu, nhưng ta giữ được cái vũ khí cả nước là thành, toàn dân là quân; thì ta không sợ Mông Cổ nữa.

Chiêu Minh đại vương tâu tiếp:

– Sau khi giặc rút đi, triều đình đã phủ tuất, truy phong cho tất cả dân chúng Phù Lỗ, Cụ Bản. Dân các làng xung quanh kéo sang giúp hai làng này tái thiết. Trong vòng hơn tháng, những gì bị tàn phá đều được phục hồi. Còn Thăng Long, cánh đồng Văn…

Vương chỉ vào trục vải thứ nhì:

– Khi giặc tới biên giới, triều đình đã kêu gọi dân chúng rời khỏi Thăng Long. Nhưng phân nửa dân chúng không nghe, nhất là người Hán; vẫn ở lại. Giặc nhập thành đốt hết cung điện, nhà cửa, giết sạch dân chúng. Phủ thừa Thăng Long ước tính có hơn bốn vạn người bị giết. Còn vùng cánh đồng Văn, khi dân chúng thấy Khâm Thiên đại vương dàn quân, họ đã bỏ chạy về vùng núi Côi, thành ra thiệt hại nhân mạng coi như không có. Duy nhà cửa, thì giặc đốt sạch hai xã.

Vương chỉ vào trục vải thứ ba:

– Tổng kết tình hình toàn quốc, từ trước đến nay, qua tin tức của thương nhân, qua người Hán, dân chúng nghe nói đến Mông Cổ đều khiếp đảm. Nhưng qua trận chiến vừa rồi, dân, binh, tướng của ta không còn sợ chúng nữa. Một điều cực quan trọng là những dư luận, những chủ trương phục hồi Lý triều không còn. Thần nhi có thể khẳng định triều đình với dân chúng hiện giờ là một khối.

Thượng hoàng nói:

– Từ nghìn xưa, triều đại nào của Bắc phương cũng vậy. Họ luôn tìm đủ cớ sang đánh ta. Hưng Đạo vương đã tâu với trẫm rằng: Các triều đại trước cứ sau mỗi lần đuổi giặc, lại hậu lễ, lời khiêm mà yên được xã tắc. Vậy triều đình đã sai tướng quân Lê Phụ Trần làm chánh sứ, Tham tri bộ Lễ là Chu Bác Lãm làm phó, sang sứ Mông Cổ xin thần phục, triều cống. Ta những tưởng triều đình Mông Cổ sẽ không chịu. Nào ngờ họ nhũn như con chi chi!

Lê Phụ Trần tâu:

– Khi thần lên đường, Hưng Đạo vương có ban chỉ dụ cho thần rằng việc đi sứ tuy quan trọng, nhưng đó là hư. Thực là giữa ta với Mông Cổ hiện tiếp giáp với nhau ở phía Tây. Còn phía Đông thì có Tống ngăn cách. Mông Cổ đã chiếm hằng trăm nước, hiện binh lực của họ mạnh bất khả đương. Trước sau gì họ cũng sẽ diệt Tống. Diệt Tống xong, họ sẽ đánh ta để trả thù. Vậy phải tìm hiểu rất kỹ tình hình Mông Cổ để có thể tìm ra phương lược giữ nước. Thế nhưng khi sứ đoàn tới biên giới thì họ cho Lôi Kỵ hộ tống tới Yên Kinh. Dọc đường sứ đoàn cũng không được tiếp xúc với dân chúng. Rồi khi tới Yên Kinh, sứ đoàn được cấp nơi ở, được cung phụng ăn uống cho đến khi về. Sứ đoàn không được triều kiến Đại hãn Mông Ca. Vì vậy sứ đoàn không biết gì cả.

Thượng hoàng cười:

– Chính vì vậy mà trẫm đã cử Vũ Uy vương cùng vương phi đi Mông Cổ làm con tin để dò xét tình hình. Nào chúng ta hãy nghe vương tâu trình.

Cử tọa hướng mắt nhìn Vũ Uy vương, vương phi. Vũ Uy vương tâu chi tiết:

– Cuộc trao tù binh, đổi lấy gia đình các võ sĩ Tống.

– Thu nhận năm thiếu nữ Đông hoa, làm kế bắt nai.

– Kết thân với Tống qua vụ cứu Vương Kiên.

– Tống nhượng cho Đại Việt khu đất Bắc, diệt bọn thổ phỉ Thân Lợi lập ra ba khu Văn sơn, Khâu bắc, Chiêu dương.

– Thành lập hai hiệu binh Thiệu hưng, Văn bắc.

– Cứu Tô lịch thất tiên. Gửi sang làm Tế tác tại triều đình Mông Cổ. Thành công trong việc hạ bệ Hốt Tất Liệt. Phá tan triều đình Hốt Tất Liệt.

– Kết thân Cao ly, Hồi cương, Đại lý, Sơn Đông cùng chống Mông Cổ.

– Hiện Mông Ca thân chinh đánh Tống.

Lễ bộ tham tri Chu Bác Lãm hỏi:

– Khải vương gia, thần xin vương gia cho biết chi tiết về một trong Tô lịch thất tiên. Nàng tên Tô Kim Huệ, tức Thanh Hoa. Vì nàng là thứ thiếp của thần.

Vũ Uy vương đưa mắt nhìn vương phi:

– Sứ đoàn làm quá nhiều việc, vì vậy vụ Tô lịch thất tiên, cũng như Đông hoa ngũ tiên tôi trao cho vương phi đảm trách. Vương phi trả lời cho Chu tham tri đi.

Vương phi Ý Ninh mỉm cười:

– Truyện bảy nàng Tô Lịch gồm chi tiết vừa vui, vừa buồn; vừa đau lòng vừa phấn khởi.

Phi nhìn thẳng vào mặt Chu Bác Lãm:

– Thanh Hoa hiện đang ngồi ở địa vị cực kỳ cao sang. Nàng được Đại hãn Mông Ca sủng ái nhất trong hằng nghìn giai nhân Tây vực, Tống, Hồi, Liêu, Kim. Nàng được Mông Ca phong tước Tuyên phi. Mông Ca đang đốc xuất quân chính quốc Mông Cổ cùng các nước Tây vực đánh Tống. Hậu cung của ông ta có đến ngàn mỹ nữ, thế mà cuộc đánh Tống này, ông ta chỉ mang mình nàng theo thôi. Vừa rồi Chu Tham tri theo Lê tướng quân đi sứ là đi sứ với Hốt Tất Liệt. Chứ Chu tham tri đi sứ Hoa lâm thì e đã bị giết rồi!

– Xin Phi nói rõ hơn!

– Chu Tham tri là chồng cũ của Tuyên phi Thanh Hoa. Khi Tham tri tới Hoa lâm thì thế nào nàng cũng biết. Biết tất nàng sẽ tìm cách liên lạc với Tham tri. Việc lộ ra thì Tham tri với nàng ắt bị xử lăng trì (xẻo thịt).

Thế rồi phi thuật: bẩy nàng bị Ngột Lương Hợp Thai bắt đem gửi tên thổ phỉ Thân Long Vân. Được Vương Kiên sai Hoa sơn ngũ hiệp cứu thế nào. Cuối cùng được Dã Tượng, Thúy Hồng cứu đem về Khâu bắc, rồi bị xử tội voi dầy, được Tuyên minh Thái hoàng thái hậu ân xá, đưa sang Mông Cổ. Nàng lập đại công, cha mẹ được phong tặng, nàng được phong tước quận chúa.

Thượng hoàng phán:

– Đúng ra Tô lịch thất tiên phạm tội làm Tế tác cho Mông Cổ thì chồng của họ sẽ bị xử tử, cách hết chức tước. Trong đó có Chu tham tri. Nhưng vì bẩy người đới tội lập công nên chồng cũng được ân xá. Chu Tham tri không bị truất giáng gì cả. Khi sự thể xẩy ra, Vũ Uy vương, vương phi từng thượng biểu về triều. Thái sư Thủ Độ không muốn tin này lộ ra ngoài, vì lộ ra chỉ thêm đau lòng cho các ông chồng. Vì vậy vụ này chỉ Thái sư, Linh Từ quốc mẫu với trẫm biết mà thôi.

Mồ hôi Chu Bác Lãm vã ra như tắm.

Trung Vũ đại vương Thủ Độ bàn:

– Trong ba năm qua, Vũ Uy vương, vương phi đã làm được những truyện xẻ núi, lấp sông. Truyện cực kỳ hệ trọng là đòi được vùng đất đã mất trên ngàn năm từ Tống, mà không phải tốn sức, tốn tiền tài gì cả. Cuối thời Đinh sang đầu thời Lê; Tống từng gửi binh sang đánh ta. Bị ta phá. Rồi đến thời vua Lý Nhân tông, do tham vọng của tên cuồng nho Vương An Thạch, mưu đánh ta, bị ta ra tay trước (1066) rồi họ kéo binh nghiêng nước sang trả thù (1077), bị ta phá. Từ hồi đó đến giờ 80 mươi năm có dư, giữa ta với Tống trải qua một thời gian dài hòa hoãn với nhau. Năm trước triều đình ủy cho Vũ Uy vương lĩnh đặc mệnh toàn quyền sang làm con tin ở Mông cổ, rồi đưa đến ta với Tống kết thân. Tống đã lờ đi cho ta diệt bọn thổ phỉ Thân Long Vân, lại đồng ý cắt ba vùng cựu địa Chiêu dương, Văn sơn, Khâu bắc trả cho ta. Đổi lại Vũ Uy vương hứa ta tiếp cứu khi Tống lâm nguy. Thế rồi ta thành lập, huấn luyện trang bị cho hai hiệu binh Văn Bắc, Thiệu Hưng.

Vương ngừng lại một lát rồi hỏi:

– Bây giờ Mông Ca đem quân nghiêng nước đánh Tống, ta cần quyết định: có nên giúp Tống hay không? Nếu giúp thì giúp như thế nào?

Chiêu Quốc vương tâu:

– Thần nhi nghĩ hứa với Tống là Vũ Uy vương, chứ không phải triều đình. Tội vạ gì ta phải giúp Tống, để gây hấn với Mông cổ! Bây giờ mình nên kết thân với Mông cổ để được yên thân. Nếu muốn khởi binh, thì ta cần khởi binh liên hợp với Mông cổ, đánh vào sau lưng Tống thì hơn.

Nhân Huệ vương ngắt lời Chiêu Quốc vương:

– Chú Ích Tắc đưa ra đề nghị đó, không còn đạo lý nào nữa! Một là ta kết thân với Mông cổ ư? Thì ta đã gửi sứ sang Mông cổ, cũng như Mông cổ gửi sứ sang ta đòi sáu điều: Một là đích thân quốc vương phải vào chầu; Hai là đem trưởng nam làm con tin; Ba là kê biên dân số; Bốn là phải chịu quân dịch; Năm là phải nộp thuế, lương thảo; Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri). Như vậy có khác gì ta bị Mông cổ cai trị? Chính vì thế mà thời Nguyên phong, ta bác sáu điều trên, Mông cổ mới vào phá nước ta, bị ta đánh bại. Hai là triều đình đã ủy cho Vũ Uy vương lĩnh đặc mệnh toàn quyền, thì vương hứa với Tống là triều đình hứa. Ta không thể, không nên, nuốt lời. Ba là, vùng đất Chiêu dương, Văn sơn, Khâu bắc bị Trung nguyên chiếm đã nghìn năm, thế mà bây giờ họ chịu trả cho ta, thì ta phải biết thiện chí của họ như thế nào rồi. Ta cần giữ lời hứa.

Thượng hoàng đưa mắt nhìn Hưng Đạo vương như hỏi ý kiến. Vương tâu:

– Sở dĩ Mông Cổ chưa kéo quân sang trả thù vì người bị ta đánh bại là Hốt Tất Liệt. Hiện y mất hết uy quyền. Còn Mông Ca thì đang dồn hết lực lượng diệt Tống. Tống ở phía Bắc ngăn Mông Cổ cho ta. Nếu Mông Cổ diệt xong Tống, chúng sẽ thừa thế, đánh ta, lập nền cai trị như Hồi cương, như Tây tạng, như Đại lý. Vậy ta phải giúp Tống. Tống tồn tại thì ta mới yên. Thà ta đánh Mông Cổ trên đất Tống, còn hơn đánh Mông Cổ trên đất Việt. Vũ Uy vương từng hợp với Đại lý, Hồi cương, Cao ly, Liêu Đông, Tống cùng liên hợp chống Mông cổ. Thì bây giờ là lúc ta phải thi hành.

Trung Vũ đại vương Thủ Độ quyết định:

– Trước hết ta giúp Tống lương thảo. Lương thảo ta chuyên chở ra mặt trận phía Tây là nơi chủ lực Mông Cổ mạnh nhất. Lương thảo của ta giúp gồm gạo, ngô, khoai, sắn khô. Gạo của ta ngon hơn gạo Trung nguyên. Ta lại giúp cá khô, tôm khô, mực khô. Thứ đến ta gửi hai hiệu binh tinh nhuệ cứu Tống, khi họ lâm nguy. Ta đã thành lập, vũ trang, huấn luyện hai hiệu binh Văn Bắc và Thiệu Hưng hơn năm truớc. Suốt thời gian qua ta vẫn luyện hai hiệu binh phương cách phá chiến thuật Thành Cát Tư Hãn. Còn tướng? Ta nên gửi tướng nào qua?

Chiêu Quốc vương đề nghị:

– Đã gửi tướng qua thì nên gửi những tướng kinh nghiệm sẵn có. Tướng kinh nghiệm sẵn có thời Nguyên Phong, võ công họ cao, tài điều binh như thần. Kỵ binh thì Lý Tùng Bách. Xung phong đánh trực diện thì Trần Đình Biên, Nguyễn Tha, Trương Đình Khá. Uyển chuyển mưu trí thì Đỗ Thanh, Bùi Hoán, Hoàng Vui, Nguyễn Thiên Sanh. Vậy ta nên chọn tướng nào?

Vũ Uy vương xua tay :

– Dĩ nhiên các tướng thời Nguyên Phong kinh nghiệm, tài ba. Nhưng hiện tuổi họ trẻ nhất cũng 33, già nhất đã 60 rồi. Nếu dùng họ vào việc viễn chinh thì e lực không đủ. Ấy là chưa kể hiện các tướng Mông Cổ đều có võ công cao, chứ không như các tướng hồi đánh sang ta thời Nguyên Phong đâu!

Thượng Hoàng đưa mắt nhìn Vũ Uy vương phi. Phi biết phụ hoàng hiểu tài năng cũng như kinh nghiệm của mình. Phi kính cẩn tâu:

– Mông Ca trao cho Hốt Tất Liệt việc tuyển tướng, luyện binh. Hốt Tất Liệt rút kinh nghiệm trong các trận đánh với Tống, với Cao ly, với Đại Việt. Y thấy tất cả những trận Mông Cổ bị bại do tướng của họ khi lâm trận bị các tướng võ công cao giết chết, khiến hàng ngũ rối loạn. Vì vậy thay vì cử người Mông Cổ vào các chức vụ Bách phu, Thiên phu, Vạn phu; y tuyển các cao thủ không phân biệt người Tống, Cao ly hay bất cứ nước nào, rồi cho huấn luyện thành Bách, Thiên, Vạn phu.

Thượng Hoàng hiểu ý con dâu:

– Vậy ta cần gửi những võ lâm cao thủ đi theo trong quân. Khi xuất trận, các cao thủ ấy tìm cách giết tướng Mông Cổ. Hai cao thủ sẵn sàng theo quân là Lê Ngân Sơn, Lê Kim Sơn của phái Sài sơn, vì phu nhân của hai bị bị Mông cổ bắt. Ngoài việc vì nước, hai vị ấy còn thêm thù nhà nữa. Phu nhân hai vị đó hiện ra sao?

Vương phi Ý Ninh tâu:

– Tử Hoa sau cải là Tử Liên, nhũ danh Cao Đại Nhu, thứ thiếp của Lê Kim Sơn, chưởng môn phái Sài sơn. Hiện là vương phi của Cáp Thiết Sáp Nhi. Lan Hoa, nhũ danh Cao Thiếu Nhu, thứ thiếp của Lê Ngân Sơn, phó chưởng môn phái Sài sơn. Hiện là vương phi của Ngọc Mộc Hốt Nhi. Hai người này là con của Mông Ca.

Nghe nói đến đây Thượng hoàng nhìn vương phi Ý Ninh:

– Việc đây xong, con nên về chùa Thần quang, thăm sư phụ. Ta sẽ gửi sứ theo, xin người cho mươi đội kiếm trận Mê linh viện Tống.

Ngài quyết định:

– Ta không thể gửi các tướng thời Nguyên Phong. Phải để họ ở với quân cơ hữu, giữ nhà. Tre già, măng mọc. Ta nên gửi các tướng trẻ thì hơn.Tướng trẻ ta không thiếu.

Mọi người đều hướng mắt vào Dã Tượng, Yết Kiêu. Trung Vũ đại vương mỉm cười:

– Năm đứa Thiên trường ngũ ưng đều là những tinh hoa của Đại Việt. Mỗi cháu đều có biệt tài riêng, hình như năm cháu kết hợp với nhau bằng lời nguyền. Yết Kiêu, con nhắc lại lời nguyền đó cho Thượng hoàng nghe đi.

Yết Kiêu khoan thai đọc:

Một là trung với Xã tắc,
Hai là xả thân cứu nước,
Ba là phẩm giá, đạo đức,
Bốn là tài trí, dũng, mưu,
Năm là hiếu kính phụ mẫu.

Thượng hoàng hài lòng:

– Vậy ta gửi cả Ngũ ưng theo trong quân giúp Tống. Nhật Huy con! Con định trao cho họ giữ nhiệm vụ gì?

Vũ Uy vương tâu:

– Dã Tượng hiện là thống lĩnh hiệu binh Văn Bắc. Yết Kiêu là thống lĩnh hiệu binh Thiệu Hưng. Thần nhi đề nghị gửi Đại Hành tiếp tục sang Mông cổ. Vì Đại Hành được Mông cổ tuyển làm Phi mã đại tướng quân, lĩnh Vạn phu trưởng. Thần nhi sẽ nói với Thúy Nga xin với chồng là Thân vương Tháp Sát Nhi cho Đại Hành được chỉ huy đội Cấm vệ hộ tống Mông Ca. Như vậy Đại Hành sẽ chuyển tin tức của Thanh Hoa về cho ta. Địa Lô thì sẽ là quân sư cho hai hiệu binh Thiệu Hưng, Văn Bắc. Còn Cao Mang thì thần nhi đề nghị gửi sang Hồi cương, giúp Hồi cương chống Mông Cổ.

Trung Vũ đại vương nói:

– Trời về chiều rồi. Vũ Uy vương vừa trải qua đoạn đường dài từ Bắc cương về đây, cần nghỉ ngơi. Mai ta bàn tiếp.

Buổi thiết triều tạm ngưng.

(Còn tiếp Hồi 77)

Share this post