Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 78 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A – Gươm Thiêng Hàm Tử (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 78 (Tiếp theo)

ANH HÙNG ĐÔNG A – GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ
* Tiểu Thuyết Lịch Sử
* Tác giả: Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
* Nguồn: Blog Trần Đại Sỹ (https://trandaisy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BẢY MƯƠI TÁM
Vũ điệu Trăm Hoa
(Tiếp theo)

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư hỏi:

– Gần đây trong hoàng tộc, cũng như trăm quan có nhiều điều thì thầm bàn tán về đức liêm khiết của Vũ Uy vương: một là khi bọn Ngột Lương Hợp Thai vào Thăng long cướp vàng, ngọc, châu báu không biết bao nhiêu mà kể. Thế lúc chúng được mở vòng vây cho về, ta có đoạt lại không? Nếu đoạt lại thì để đâu? Hai là, khi Vũ Uy vương bắt bọn đạo sĩ Hồi cương, thu không biết bao nhiêu vàng, ngọc, châu báu. Rồi lúc Vũ Uy vương tiến quân vào Văn sơn, Khâu Bắc, kho tàng của bọn Thân Long Vân súc tích. Thế kho tàng đó bây giờ ở đâu?

Vũ Uy vương biết người em nuôi này là một tham quan, nên thay vì thắc mắc về việc Mông Cổ tàn sát dân chúng ra sao, cô vợ Bạch Hoa còn sống hay chết thì lại chú ý đến chiến lợi phẩm. Vương trả lời:

– Chúng ta có tất cả ba trận thu được chiến lợi phẩm. Một là Đông bộ đầu. Hai là Thăng long. Ba là Kinh Bắc. Trận Đông bộ đầu do Hưng Ninh vương thống lĩnh, xin vương trả lời.

Hưng Ninh vương cười:

– Mông Cổ là bọn quỷ sứ giết người không gớm tay. Đi đến đâu chúng vơ vét cướp sạch của cải của vua, quan, dân chúng. Mỗi tên binh được cấp hai lao binh để hầu hạ, giữ của. Khi chúng tới Đại Việt thì chúng đã cướp phá Tứ xuyên, Thổ phồn (Tây tạng), Đại lý. Của cải đó chúng mang theo vào Thăng long. Rồi khi vào Thăng long chúng vơ vét, tàn sát kinh khủng. Lúc chúng dự trận Đông bộ đầu thì của cải của chúng để ở Thăng long. Thành ra binh tướng đánh trận Đông bộ đầu không thu được gì. Người lúc bấy giờ thống lĩnh quân giải phóng Thăng long là Thái tử. Bây giờ Thái tử thành Thiệu Long hoàng đế. Xin để hoàng đế trả lời.

Thiệu Long hoàng đế mỉm cười chỉ Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ. Thái sư Thủ Độ nói lớn:

– Khi tái chiếm Thăng Long, ta tịch thu được không biết bao nhiêu vàng ngọc mà kể. Tất cả được giao về công khố. Già này dùng những chiến lợi phẩm đó vào việc tái thiết Thăng long và giúp dân chúng Cánh đồng Văn, Cụ bản, Phù lỗ xây dựng lại nhà cửa. Vì vậy khi Mông cổ rút về Bắc Cương thì chúng không còn gì. Vũ Uy vương không thu được gì cả. Ta không nên hỏi Vũ Uy vương về vấn đề này.

Khành Dư vẫn chưa thôi:

– Thế còn vàng ngọc tịch thu của bọn thương gia Hồi cương? Kho tàng của Thân Long Vân?

Vương phi Ý Ninh trả lời:

– Chúng tôi dùng Đại đởm thập tam kiệt bắt con thuyền của đạo sư Mộ Hợp Mễ An Hat San (Mahomed Al Hassan). Kiểm kê lại trên thuyền có mấy vạn lượng vàng, mấy muôn lượng bạc. Vũ Uy vương ra lệnh sung vào Quốc khố. Nhưng sau các đạo sư Hồi cương trở thành người của mình, chịu làm Tế tác cho mình, thì của cải được trả về cho ông ta hết.

Phi ngừng lại, nhìn khắp triều đình rồi tiếp:

– Bọn họ Thân bóc lột dân chúng Văn sơn, Khâu Bắc có hơn trăm năm, của cải súc tích. Vũ Uy vương đã kiểm kê, gửi tấu chương về triều. Trung Vũ đại vương, Chiêu Minh vương chia tài sản đó làm ba phần. Một phần dùng trang bị cho hai hiệu binh Văn Bắc và Thiệu Hưng. Một phần dùng xây trường học, khai thác đất hoang cho dân Chiêu dương, Văn sơn, Khâu Bắc. Một phần chuyển về Quốc khố Bắc cương. Khi Bắc cương trao cho Chiêu Quốc vương thống lĩnh, chính vương kiểm nhận.

Chiêu Quốc vương móc trong bọc ra một tập sách mỏng:

– Đây là những gì Vũ Uy vương trao cho tôi, hiện còn nguyên trong Quốc khố Bắc cương:
Vàng 50 vạn lượng.
Bạc 440 vạn lương.
Ngà voi 45 cặp.
Da hổ 150 tấm.
Ngọc trai 50 cân.
Mật gấu khô 100 cái.
Tiền Nguyên phong thông bảo 100 vạn quan.
Tiền Tống đủ loại 150 vạn quan.
Lụa Trung nguyên 13 nghìn tấm,
Lụa, gấm Tứ xuyên 12 nghìn tấm.
Mật gấu khô tôi đã trao cho Y viện làm thuốc cho quân sĩ.
Còn lại tất cả cất ở công khố Bắc cương.

Một Lễ quan vào tâu:

– Thượng hoàng và Tuyên Thái phi, Nguyên Thái phi giá lâm.

Ban nhạc cử bản Nguyên thọ.

Từ hoàng đế đến các quan đều đứng dậy hành lễ. Thượng hoàng vào điện, ngài ngồi trên chiếc ngai, cao hơn ngai nhà vua ba bậc. Hai Thái phi ngồi trên chiếc ghế ngang với nhà vua.

Vũ Minh vương Trần Quang Húc (em của Vũ Uy vương) hiện là Uy Viễn đại học sĩ. Vương tóm tắt các sự kiện từ lúc thiết triều tâu lên Thượng hoàng. Thượng hoàng mỉm cười ban chỉ:

– Còn ai muốn chất vấn Vũ Uy vương nữa không?

Không ai lên tiếng. Thượng hoàng than:

– Người bình dân có câu ca:
Con mèo đánh giặc Đông Tây,
Con voi ngồi bếp ỉa đầy vùng gio

Thực đúng trong trường hợp này. Nhật Duy được phong tước vương từ năm 13 tuổi. Tước là vương, ăn lộc 2 vạn hộ, chức võ là Phụ quốc thượng tướng quân. Tính đến nay trải đã 10 năm. Vợ tước phong công chúa đã ba năm. Nếu một tá lĩnh thôi thì trong 10 năm cũng có của chìm của nổi. Nhật Duy tuy có thu thuế 2 vạn hộ, nhưng thu rất nhẹ, rồi dùng tiền đó trả lương bổng cho các quan thuộc phủ Vũ Uy, dùng làm đường, bắc cầu, xây trường học cho dân chúng. Vợ được ban cho 3 trăm mẫu nhất đẳng điền. Nhưng Ninh nhi cho tá điền là thương binh, tổ phụ liệt sĩ cấy, không thu tô. Vợ chồng thắt lưng buộc bụng chi tiêu bằng bổng của Phụ quốc thượng tướng quân. Vì vậy cả hai vợ chồng cùng thanh bạch. Hiện nay phủ Vũ Uy tại Cố trạch nghèo đến không có một con ngựa. Sáng nay phải mượn xe song mã của phủ Chiêu Quốc để về đây. Sau ba năm lĩnh đặc sứ toàn quyền, bổng lộc không thiếu, thế mà hôm qua về phủ phải nhờ mẹ là Thái phi, em dâu Chiêu Quốc vương phi mới có phương tiện làm tiệc tẩy trần. Vậy mà còn có lời ra tiếng vào về đức liêm khiết! Những người hiện diện hôm nay, ai tự hào rằng mình liêm khiết hơn Nhật Duy thì bước ra?

Cả điện Giảng võ im phăng phắc.

Khâm thiên Đại vương Nhật Hiệu tâu:

– Thần thấy đức liêm khiết của Vũ Uy vương có gì không rõ ràng. Nếu nói rằng phủ Vũ Uy không có tiền tổ chức tiệc tẩy trần, thì sao vương phi lại có tiền mua lụa, mua gấm, mua ngọc, mua nữ trang về dâng cho Thái phi, ban thưởng cho hầu hết những người trong vương phủ. Ban nãy thần thấy Tổng thái giám Đại Lực có viên ngọc bích to bằng quả chanh gắn trên mũ. Thần hỏi mua ở đâu, thì Đại Lực khoe rằng vương phi Ý Ninh ban thưởng. Không những phi ban thưởng ngọc mà còn ban thưởng gấm Thục, lụa Tô châu nữa! Mong vương phi Ý Ninh trả lời cho!

Nghe ông em chồng hoạnh họe con, Mai thái phi nổi cơn thịnh nộ, bà đứng dậy nói lớn:

– Thưa Đại vương! Cái tiệc tẩy trần như thế này: nghe tin con về mà tôi phải chầu hầu cạnh Thượng hoàng, nên tôi sai vú Dư làm. Vú Dư xin tiền tôi mua sắm thực phẩm. Vì phủ khố Vũ Uy trống rỗng, không tiền, không bạc. Nghe tin này Chiêu Quốc vương cảm thương anh mình. Vương truyền vương phi đích thân đi với vú Dư ra chợ mua sắm thực phẩm, và trả tiền. Còn tiền đâu Ý Ninh nhi mua ngọc, gấm tôi để Ý Ninh trả lời.

Vương phi Ý Ninh đứng lên hướng Khâm thiên Đại vương Nhật Hiệu:

– Trong tám hoàng nam của phụ hoàng, khi tuyển chánh phi đều được ban thưởng. Người thì nghìn lượng vàng, người thì vạn lượng vàng cùng châu báu, ngọc ngà. Chỉ mình Vũ Uy vương, thì không được ban cho gì cả. Sự việc như thế này: phụ hoàng tuyển tôi làm phi cho vương trên một chiến thuyền, giữa lúc giặc kéo vào Thăng long. Khâm Thiên đại vương đại bại tại cánh đồng Văn. Thế nước như trứng trên đá. Mọi lễ nghi đều bỏ. Chúng tôi chỉ hướng về Thiên trường bái vọng Liệt tổ Đông A bốn lạy, bái lạy Phụ hoàng. Chúng tôi không được bái lạy Tuyên phi là mẫu thân của Vũ Uy vương đã đành, mà ngay mẫu thân của tôi cũng không biết con mình đi lấy chồng. Vì mẫu thân tôi đang ở Yên bang. Còn mẫu thân vương đang ở Thiên trường. Rời chiến thuyền, vợ chồng tôi xả thân vào trận chiến suốt mười ngày, mười một đêm, ngăn giặc không cho chúng thừa thắng kéo về Thiên trường. Nói ra thực muốn nghẹn lời: trong lịch sử kim cổ, chưa có đám cưới nào mà sau khi bái thiên địa, cả hai vợ chồng phải lăn mình vào chốn giươm đao, trăm phần chết mới có một phần sống. Khốn khổ thay lễ động phòng phải 18 ngày sau mới thực hiện. Mà động phòng trong một căn lều dưới chân núi Côi!

Nguyên thái phi Huệ Túc can thiệp:

– Khi Thượng hoàng định tuyển phi cho Vũ Uy vương. Người hỏi ý kiến tôi rằng có nên tuyển quận chúa Ý Ninh cho vương không. Tôi đã tâu: “Không những nên, mà cần thiết. Người con gái này có số Tử Vi cực kỳ tốt. Mệnh lập tại Tuất, Thái âm miếu địa thủ thì là người có nhan sắc diễm lệ. Vì tuổi Đinh nên hội đủ Tam hóa. Đây là ngưới đa tài, đa năng, sau này sẽ lập đại công với Xã tắc. Phi không nên buồn vì những gì đã xẩy ra, mà phải hãnh diện về những gì mình đã tạo được.

Vương phi Ý Ninh hướng Nguyên phi Huệ Túc:

– Đa tạ Thái phi dạy dỗ.

Phi ngừng lại nhìn cử tọa một lượt rồi tiếp:

– Hôm nay hiện diện tại đây có đầy đủ các anh em ruột của Vũ Uy vương: xin hỏi có ai cưới vợ trong hoàn cảnh như anh Nhật Duy không? Sau khi đuổi giặc, quốc khố trống rỗng, dù phụ hoàng biết rằng chúng tôi có đại công, người sủng ái tôi cùng cực, song người không còn gì, thì lấy đâu ra mà ban thưởng cho chúng tôi? Tục ngữ có câu “con không chê cha khó, chó không chê chủ nghèo. Vì vậy tuyệt nhiên chúng tôi không nói một câu, không than một tiếng vì không được ban thưởng. Khi chúng tôi lên đường đi làm con tin, bái biệt Phụ hoàng với Tuyên phi. Nhị vị cũng chẳng có gì ban cho chúng tôi.

Phi tháo sợi dây truyền trên cổ có tượng Quan Thế Âm bằng ngọc:

– À cũng có đấy! Mai Thái phi ban cho tôi vật này. Đây chính là tín vật Thượng hoàng ban cho người trong lần gặp nhau đầu tiên, với lời chúc: mong được Quan Thế Âm che chở. Khi bái biệt sư phụ Vô Huyền bồ tát, người ban cho chúng tôi trăm nén vàng (1 nén = 10 lượng). Lúc bái biệt sinh mẫu, người cho tôi năm chục nén vàng làm của hồi môn. Nghĩa là tôi mang 150 nén vàng, theo chồng đi làm con tin. Vạn dặm quê người, chúng tôi thường đau xót trong lòng vì không được ở cạnh phụng dưỡng phụ hoàng, mẫu thân; nên chúng tôi mua ít quà về dâng mẫu thân, và tặng cho Đại Lực công công, vì mọi việc phụng dưỡng Phụ hoàng, mẫu thân đều trông vào Công công cả. Còn bổng lộc ư? Cũng có đấy, đúng ra bổng lộc ấy người ta dâng hiến cho chúng tôi vì nhớ ơn. Nhưng tôi nghĩ: ơn này do chúng tôi là sứ thần mà có. Vì vậy bao nhiêu bổng lộc tôi cho gửi về nước, sung vào quốc khố.

Phi đưa mắt nhìn Thái sư Thủ Độ. Thái sư nói lớn:

– Bổng lộc của sứ đoàn như thế này: khi Vũ Uy vương, vương phi đem hai con bé Thúy Trang, Hồng Nga gả cho A Truật, Hoài Đô. Hai người đó thâm cảm ơn tác thành cho cuộc hôn nhân. Họ đã tặng Vũ Uy vương, vương phi trăm nén vàng cùng hai viên hồng ngọc. Lại khi vương, vương phi đi Trường an hội kiến với thân vương lĩnh Bình chương chính sự Tả thừa tướng A Lan Đáp Nhi và Tham tri chính sự Ngột A Đa. Hai đại quan Mông cổ tạ ơn cho vương, vương phi về vụ tác thành cho hai người với Thúy Nga, Thanh Nga. Hai vị đó tặng vàng 200 nén vàng, cùng ngọc, châu báu. Quà đó là cá nhân A Truật, Hoài Đô, A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa tặng cá nhân Nhật Duy, Ý Ninh. Nhưng Ý Ninh lý luận: họ tặng cho hai người là vợ chồng chánh sứ. Chánh sứ là người đại diện cho triều đình thì quà đó phải sung vào quốc khố. Ý Ninh đã sai sứ đem về Thăng long. Già này truyền trao cho Hộ bộ cất.

Vương chỉ vào nhà vua:

– Khi Thượng hoàng tuyển quận chúa, thứ nữ của An sinh vương Liễu cho Thái tử. Trong tiệc cưới, già này truyền lấy hai viên hồng ngọc đó ban cho Thái tử cùng Thái tử phi. (*)

* Ghi chú: Có lẽ vì hai viên hồng ngọc này, mà huyền thoại kể rằng hoàng tử Trần Quốc Đĩnh cùng anh là Quốc Toán vào rừng săn bắn rồi tìm được hai viên hồng ngọc. Quốc Toán chọc mù mắt Quốc Đĩnh, đoạt ngọc!

Mọi người đều nhìn viên hồng bảo ngọc sáng chói trên mũ nhà vua.

Cả triều đình đều im lặng, cảm thán cho một cặp vợ chồng vương giả có đại công, mà không được hưởng hồng ân. Mai thái phi nước mắt ròng ròng, xót xa nhìn dâu, nhìn con. Phi hỏi Thượng hoàng:

– Thượng hoàng ban thưởng cho dâu đi chứ!

Thượng hoàng tuyên chỉ:

– Nhật Duy, Ý Ninh! Các con túng thiếu, nhưng không vì thế mà oán hờn phụ hoàng bất công. Khi hai con thành vợ chồng, phụ hoàng chưa ban thưởng cho hai con, thì nay phụ hoàng ban thưởng cũng chưa muộn.

Thượng hoàng hướng Hộ bộ thượng thư:

– Hộ bộ thượng thư xuất công khố ban cho vợ chồng Nhật Duy một nghìn nén vàng, hai trăm tấm nhiễu Tam giang, một trăm tấm lụa Nghi tàm, mười con ngựa. Còn trâu, bò, gà vịt thì Mai thái phi lấy tại cung của trẫm tại Cố trạch, cho phủ Vũ Uy.

Ngài hỏi lớn:

– Còn điều gì cần triều nghị nữa không?

Thái sư Thủ Độ tiếp:

– Công lao diệt bọn thổ phỉ Thân Long Vân, hoàn toàn do vợ chồng Nhật Duy. Của cải thu được của chúng, vợ chồng Nhật Duy không tơ hào một đồng tiền, một đấu gạo. Đúng lý ra Nhật Duy có lấy hết, cũng không phạm tội. Già này xin Thượng hoàng xuất một nửa những gì tịch thu của bọn thổ phỉ Thân Long Vân cất tại Tòa Tổng trấn Bắc cương ban cho vợ chồng Nhật Duy.

Thượng hoàng chuẩn tấu.

Lễ bộ thượng thư tâu:

– Để lao tưởng đại công của năm tướng Thiên trường ngũ ưng. Hôm nay triều đình tổ chức lễ cưới cho bốn tướng. Sáng qua lễ nghi hai họ đã xong. Hoàng hậu thiết đại tiệc trong Hoàng thành để mừng bốn cặp tân lang, tân giai nhân. Kính thỉnh Thượng hoàng cùng chư vị đến điện Long an dự yến.

Hoàng hậu của Thiệu Hưng hoàng đế là con gái thứ năm của An sinh vương Liễu, tức em của Hưng Ninh vương và Hưng Đạo vương; tước phong Thiên Cảm hoàng hậu. Ngược lại vương phi của Hưng Đạo vương lại là công chúa con vua Thái tông (Thượng hoàng) chị ruột nhà vua.

Kể từ khi Hiển Từ hoàng hậu, tức công chúa Thuận Thiên của vua Lý Huệ tông băng, vua Thái tông không tái lập ngôi Hoàng hậu thay thế. Vì vậy hậu cung không có Thái hậu. Nhưng nhà vua cũng còn 4 bà tước phi: Tây phi, Nguyên phi, Thục phi, và Tuyên phi Mai Đông Hoa (sinh mẫu của Vũ Uy vương). Ngoài bốn bà phi, nhà vua còn hơn chục bà mỹ nhân tước Tiệp Dư, Tu Dung, Tu Nghi, Tài Nhân với mấy chục cung nga. Khi nhà vua nhường ngôi cho con, được tôn là Thái thượng hoàng thì các bà phi đều được tôn lên tước Thái phi. Các bà mỹ nhân cũng được tôn thêm chữ thái như Tu Dung thành Thái Tu Dung. Thượng hoàng lui về ẩn tại Cố trạch, thì cả các bà Thái cùng về đây hưởng gió đồng, hương nội. Duy cung nga thì nhà vua ban cho chức tước, được cấp công điền, được ban vàng bạc, rồi cho về quê lấy chồng.

Trong tất cả các bà Thái phi, thì Tuyên phi Mai Đông Hoa là bạn tri âm của Thượng hoàng nên được gần ngài nhiều nhất. Hồi trước trận giặc, Thượng hoàng được Hoàng Bính là một đại thần Tống sang tỵ nạn Mông cổ dâng con gái được phong tước Huệ Túc phu nhân. Huệ Túc phu nhân là người thông kim, bác cổ. Phu nhân đã dùng khoa Tử Vi khuyên triều đình không chịu khuất phục Mông cổ. Sau trận giặc phu nhân được thăng lên tước Nguyên phi. Nguyên phi được Thượng hoàng coi như cố vấn trong việc bổ nhiệm thân vương, đại thần, vì phi tính số Tử Vi biết kẻ trung, người nịnh. Nguyên phi Huệ Túc là bà phi trẻ nhất của Thượng hoàng. Nhưng phi là thầy dạy Tử Vi, Phong Thủy cho tất cả các hoàng tử. Nên phi được kính trọng nhất trong nội cung. Ngay chính Thái sư Trần Thủ Độ là người uy quyền áp chế cả nhà vua, mà cũng phải nể nang phi.

Hôm nay là ngày triều đình làm lễ cưới cho bốn đại tướng có nhiều huân công với xã tắc, thì tất cả các bà Thái đều được thỉnh về Thăng long dự tiệc. Các thân vương đại thần đều xúm nhau quanh Nguyên phi Huệ Túc để hỏi về vận hạn, hỏi về hướng nhà, hỏi về để mộ. Là người học thức uyên bác, Nguyên phi luôn tươi cười với mọi người.

Tiệc được tổ chức trong điện Long an tại Hoàng thành. Trong điện, bàn thờ uy nghiêm được thiết lập: cao nhất là bài vị thờ các vua Hùng, vua An Dương, vua Trưng cùng 162 tướng. Kế tiếp là bài vị thờ tám vị vua triều Lý và Liệt tổ giòng họ Đông a.

Triều Trần không quá khắt khe lễ nghi khi anh em trong nhà hội họp ăn uống. Bàn tiệc ở vị thế cao nhất, gần bàn thờ dành cho Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ, rồi tới Thượng hoàng, các vương ngang vai với Thượng hoàng như Trần Nhật Hiệu, Trần Di Ái. Cỗ của nhà vua, hoàng hậu, thứ phi ngang với cỗ của Hưng Đạo Vương, Hưng Ninh vương, Chiêu Minh vương, Chiêu Quốc vương, Vũ Uy vương.

Một cái đài kết hoa thành hình con Lân giữa điện, cao ước hơn trượng (1 trượng = 2 mét), với một sân khấu rộng vuông vức tới 30 trượng (60 mét) phủ màn gấm. Chủ hôn cũng là người điều khiển lễ chính là Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ. Vương hiện là người có vai vế, cũng như cao niên nhất trong giòng họ Đông a. Vương là vai ông của Ngũ ưng. Hơn nữa chính vương từng là người đầu tiên tìm ra năm thiên tài trong Thiên trường ngũ ưng, từng là cấp chỉ huy đầu tiên của Ngũ ưng. Rồi cũng chính vương quyết định làm đám cưới này.

Quan Lễ bộ tham tri (tương dương với ngày nay là Thứ trưởng giáo dục và đào tạo kiêm Thứ trưởng Ngoại giao) Chu Bác Lãm bước lên đài. Ba hồi chiêng trống dứt, ban nhạc triều đình, hơn trăm nhạc công cử bản Đại hỷ. Chu Bác Lãm xướng:

– Hôm nay triều đình tổ chức lễ thành hôn cho bốn đại tướng trí, tín, dũng, mưu từng có đại công với Xã Tắc. Trung Vũ đại vương là người vai vế cao nhất trong dòng họ Đông A, cũng như cao niên nhất làm chủ hôn. Triều đình thỉnh Thái thượng hoàng từ Cố trạch về quang lâm chủ tọa. Kính thỉnh Trung Vũ đại vương lên đài.

Thái sư Trần Thủ Độ lên đài, ông vận nội lực nói lớn:

– Âm Dương là đạo của trời đất. Nữ thập tam, nam thập lục. Gái 13 tuổi, trai 16 tuổi thì phải dựng vợ, gả chồng. Thế nhưng năm đứa cháu yêu của già này, từ năm 13 tuổi đã lăn mình vào những trận đánh kinh hoàng để giữ nước, bảo dân. Hết giặc vì quốc sự, lại lo hết truyện này đến truyện khác, lần lữa mãi, đến nay tuổi đã 22, 23 mà chưa thành hôn. Năm đứa cháu yêu được Thượng hoàng ưu ái ban cho mỹ danh Thiên trường ngũ ưng. Chúng kết thành bạn, thề có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu. Tình nghĩa với nhau hơn cả Tam kiệt thời Tam quốc là Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi. Hôm qua gia lễ đã cử hành. Bây giờ là Quốc lễ. Nào, người đứng đầu Ngũ ưng đâu?

Dã Tượng dạ một tiếng từ ngoài điện khoan thai đi vào hành lễ rồi ngồi trên ghế trước bàn thờ. Nhạc cử bài Chiến thắng. Trung Vũ đại vương tiếp:

– Đứng đầu Ngũ ưng, là một trẻ chăn trâu ở Thiên trường. Trước trận đánh Bình lệ nguyên, lĩnh chức Vệ úy chỉ huy một Vệ ngưu binh. Thượng hoàng ban cho mỹ danh là Dã Tượng. Hưng Đạo vương nhận làm nghĩa tử, ban cho tên Trần Quốc Kinh. Dã Tượng dự tất cả bẩy trận đánh Mông cổ thời Nguyên Phong, được thăng hàm Đô thống, thống lĩnh Ngưu binh toàn quốc. Hết giặc, theo sứ đoàn Vũ Uy vương sang làm con tin ở Mông cổ. Được đặc phái đàm phán với Tống, đòi lại được ba châu Khâu Bắc, Văn sơn, Chiêu dương. Khi Thiệu Hưng hoàng đế đăng quang, tất cả văn võ đều được thăng lên một cấp. Dã Tượng được thăng Tả thiên ngưu vệ thượng tướng quân, tước Tử. Dự trận diệt thổ phỉ Lý Long Vân, thăng lên Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân, Khâu Bắc bá. Hiện thống lĩnh hiệu binh Văn Bắc. Trong sứ đoàn còn có giai nhân Lý Thúy Hồng, từng lập nhiều công lao, được phong Trang văn, Hồng anh công chúa. Nay lão phu quyết định kết hợp nam hùng, nữ kiệt cho thành đôi giai ngẫu, để sớm tối bên nhau, chung lo quốc sự.

Tám cung nga đi hai bên, Thúy Hồng đi giữa từ ngoài điện vào hành lễ rồi đến trước bàn thờ ngồi cạnh Dã Tượng. Cả điện đều xuýt xoa vì sắc đẹp chói chang của Thúy Hồng.

Trung Vũ đại vương tiếp:

– Người thứ nhì trong Thiên trường ngũ ưng là con một ngư dân trên biển Đông. Sớm có tài bơi lội, lặn sâu dưới nước hằng giờ. Được tuyển vào đội Ngạc ngư, lĩnh hàm Vệ úy. Thượng hoàng ban cho mỹ danh Yết Kiêu, được Hưng Đạo vương thu làm nghĩa tử, ban cho tên Trần Quốc Vỹ. Trong trận Bình lệ nguyên, đội Ngạc ngư đánh chìm, phá phân nửa bè vượt sông của giặc được thăng lên Tá lĩnh. Dự trận Đông bộ đầu, làm giặc kinh hoàng, hết giặc được thăng hàm Đô thống, thống lĩnh toàn thể Ngạc ngư toàn quốc. Tước phong An biên Nam. Khi Thiệu Hưng hoàng đế đăng quang, tất cả văn võ đều được thăng lên một cấp. Yết Kiêu được thăng Hữu thiên ngưu vệ thượng tướng quân. Dự trận tái chiếm Văn sơn, Chiêu dương, Khâu Bắc. Hiệu binh Thiệu hưng thành lập, được phong thống lĩnh hiệu binh này thăng tước An biên Tử. Lĩnh nhiệm vụ theo hỗ trợ sứ đoàn, xả thân cứu tiểu thư Vương Chân Phương. Được phụ thân nàng là danh sĩ Vương Văn Thống gả Chân Phương. Nay già này quyết định làm lễ cưới cho Quốc Vỹ với Chân Phương.

Nhạc Đại hỷ lại cử lên, Yết Kiêu với Chân Phương được mười cung nga, mười Ngạc binh phò vào điện hành lễ, rồi ngồi trên 2 ghế trước bàn thờ, cạnh Dã Tượng, Thúy Hồng.

(Hết Hồi 78)

Share this post