Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 47 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 47 (Tiếp theo)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BỐN MƯƠI BẢY
Cả nước là thành. Toàn dân thủ thành

(Tiếp theo)

Giữa lúc đó, đại binh Ngột-lương Hợp-thai tới. Nghe báo cáo tình hình, y tiến lên quan sát địa thế, rồi quyết định:

– Không khó. Trước hết tại cổng tiền, hãy chặt cây kết thành mấy lá chắn thực lớn, rồi sai lao binh đẩy đi trước, cho bộ binh đi sau. Tới cổng làng, bỏ lá chắn lăn xả vào đánh. Phía sau, ta đem mấy xe bắn đá theo, bắn vào trong.

Y chỉ vào mấy đoạn lũy tre làng:

– Có hai chỗ không có lũy tre tươi, chúng dùng tre khô, gỗ làm hàng rào. Ta cũng dùng lá chắn tiến tới, rồi đốt hàng rào khô.

Y gọi Phò-mã Hoài Đô và con trai là A Truật:

– Hai người hãy mang năm Thiên-phu binh Đại-lý, với ba Thiên-phu Lôi-kỵ, và làm như thế… như thế…

Mọi sự cụ bị. Quân sĩ, lừa ngựa được nghỉ ăn cơm trưa.

Trong khi ấy, tại chiến lũy Cụ-bản, Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân họp các tướng lại cùng nghị sự. Ông lên tiếng :

– Chúng ta được lệnh Hưng-Đạo vương lập chiến lũy tại đây, với năm nhiệm vụ chính. Một là cản bước tiến giặc cho cánh quân Bình-lệ-nguyên của Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần rút về Đông-bộ-đầu. Hai là quấy rối làm cho giặc cảm thấy không yên suốt thời gian tiến quân. Ba là làm cho giặc hiểu rằng Lôi-kỵ của chúng vô dụng đối với Đại-Việt. Bốn là cho chúng biết, “cả nước ta đều là thành, toàn dân ta đều giữ thành. Năm là cho chúng biết, không hy vọng gì kiếm được lương thảo trên đất nước này.

Ông mỉm cười:

– Nhiệm vụ khó nhất là làm cho giặc cảm thấy không yên trên đường tiến quân. Suốt hai ngày qua, Đô-thống Lê Phẩm đã dùng hiệu binh Tiên-yên phân ra thành từng Đô, nương vào địa thế rậm rạp bắn tỉa chết gần hết bọn chỉ huy Thiên-phu, Bách-phu. Việc này gặc kinh sợ đến độ, chúng không dám mặc y phục của mình, mà phải mặc y phục của binh sĩ. Rồi trong đêm, Đô-thống Phạm Long dùng hiệu Ngưu-binh đột nhập khu đóng quân, giết hại người ngựa… Làm cho chúng kinh hồn táng đởm.

Ông nhìn Đô-thống Nguyễn Bích:

– Đô-thống đã dùng kỳ mưu, đưa ba Bách-phu Lôi-kỵ vào trận địa phục kích của ta. Bách-phu đầu tiên bị bắt trọn. Bách-phu thứ nhì bị dân làng cùng quân của ta diệt. Bách-phu thứ ba bị Nỏ-thần bắn chết ngay cổng làng. Giặc dùng bộ binh tiến đánh đợt đầu, thất bại… Tóm lại, năm nhiệm vụ cả ta đã hoàn tất. Bây giờ đại quân của Ngột-lương Hợp-thai đã tới. Quân số chúng ta không đủ chống lại với chúng. Vậy chúng ta phải mau chóng rút về phía Đông Thăng-long, chờ lệnh phản công.

Tất cả các tướng đều ứng khẩu:

– Không!

Vị bô lão chỉ huy dân binh tên Vũ Mạc xua tay:

– Tướng quân ơi! Hôm trước tướng quân cùng chúng tôi bàn kế đánh giặc. Dân chúng trong làng đã đem tất cả những người tàn tật, những người quá già, và trẻ con dưới 10 tuổi sang làng khác lánh nạn, để chúng ta rảnh tay đối phó với giặc. Bây giờ giặc tới đầu làng, ta chỉ mới lừa chúng bằng mẹo vặt, chứ chưa đánh trận nào, mà đã rút lui sao? Nếu chư vị tướng quân sợ giặc thì cứ rút đi. Dân Cụ-bản của chúng tôi sinh ở đâu, thì chết ở đó. Chúng tôi nhất định liều mạng với chúng một trận, rồi muốn ra sao thì ra, chứ không rút chạy. Chạy nhục lắm.

Đô-thống Phạm Long nhăn mặt:

– Triều đình ra lệnh cho chúng ta đánh giặc thì chúng ta tuân. Nhưng ta đã đánh trận nào cho ra một trận đâu? Còn như triều đình bắt chúng ta rút chạy, thì… nhục quá. Chúng ta không thể thi hành. Hơn nữa binh sĩ của tôi toàn xuất thân từ mục đồng, ngút lửa yêu nước. Bây giờ được ra tuyến đầu đánh giặc, họ hãnh diện vô cùng. Thế mà bảo họ chạy ư? Thú thực tôi không thể mở miệng ra lệnh cho họ… làm như vậy.

Hĩm Còi đứng dậy:

– Các bác, các chú rút chạy thì cứ rút. Bọn cháu ở lại đây đánh một trận, ít ra bằng trận Bình-lệ-nguyên đã, rồi mới rút.

Cái Lan tiếp lời Hĩm Còi:

– Bọn Ngưu-binh làng này rắn mặt lắm. Trong trận đánh đêm qua, cháu phải thúc hai hồi tù và chúng nó mới chịu lùi.

Cu Méo hỏi Dã-Tượng:

– Chạy không mày?

Dã-Tượng để tay lên tai:

– Mày nói gì tao nghe không rõ. Trời ơi! Tự nhiên sao tai tao điếc đặc thế này. Mày bảo đóng trại à?

– Không phải đóng trại, mà là bỏ chạy!

– À, tao hiểu rồi ý mày muốn nói chiều nay ăn cơm cháy hẳn? Cơm cháy phải ăn với cá bống mít kho mới ngon.

– Khổ quá! Y tao muốn nói  chạy, là bỏ trốn ấy mà!

– Còn lâu. Vả tao có hô chạy, bọn lỏi cũng không chịu nghe đâu.

Đô-thống Lê Phẩm đứng dậy:

– Từ xưa đến giờ, hiệu binh Tiên-yên của chúng tôi chỉ học tiến chứ không học thoái. Hằng ngày họ luôn nhắc nhở nhau, thà chết, chứ không chịu chạy. Bây giờ bắt họ chạy thì e còn khó hơn bắc thang lên trời.

Giữa lúc đó thì chim ưng mang lệnh của Tiết-chế Hưng-Đạo vương tới. Phạm Cụ-Chích đọc cho chư tướng nghe:

Dân chúng Thăng-long được lệnh phải di tản ra khỏi thủ-đô. Nhưng cho đến nay chỉ mới được một nửa. Cần tới 5 ngày nữa mới xong. Vậy bằng mọi giá, phải ngăn bước tiến của giặc, cho dân chúng kịp chạy.

Các tướng reo mừng:

– Có vậy chứ.

Đến đó trống thúc vang dội. Quân báo:

– Giặc đang dàn hàng tiến vào bờ rào.

Phạm Cụ-Chích ban lệnh:

– Chúng ta hãy ra vị trí chiến đấu. Ta có 5 ngày cầm chân giặc.

Phạm Cụ-Chích chạy ra cổng chính. Ông phóng mắt nhìn:  Dọc theo các lũy tre, giặc dàn ngang mười hàng, tay cầm đao, tay cầm mộc, đông như kiến, đang tiến tới. Chúng lội xuống hào, kéo chông, lôi trà. Trong khi quân, dân nấp trong lũy dùng cung bắn ra. Tên này ngã, tên khác xông lên. Phút chốc chúng đã đứng trên bờ trong của con lạch, tay vung đao chặt tre. Lại có bọn chất rơm vào khu hàng rào tre khô màđốt. Quân dân bên trong kẻ dùng tên, người dùng giáo đâm giặc. Giặc cũng dùng tên bắn vào trong. Cuộc chiến đấu diễn ra cực kỳ ác liệt.

Tại cổng chính, người chỉ huy phòng thủ là Đô-thống Phạm Long. Lực lượng có ba dàn Thần-nỏ, hai Vệ Ngưu-binh, hai Vệ bộ binh. Phía Mông-cổ, người chỉ huy là Triệt Triệt Đô. Y cho lao binh nấp sau chiếc lá chắn bằng tre, nhét rơm tẩm bùn đang từ từ tiến theo con đường chính. Sau lá chắn, bọn cảm tử quân tay lăm lăm bảo đao cúi đầu nấp. Cung tên trong chiến lũy bắn ra, bị ghim vào lá chắn hết.

Bình tĩnh, Phạm Long ra lệnh cho Dã-Tượng:

– Diệt chúng!

Cánh cổng mở rộng. Dã-Tượng đứng trên lưng một con trâu, tay cầm tù và rúc lên. Mười con trâu lồng ra, phía sau có hai chục chiến sĩ cầm đao đi theo. Tiếp theo mười con khác do Cu Đen chỉ huy, với hai chục võ sĩ đi theo. Toán thứ ba, cũng mười trâu do Hĩm Còi chỉ huy làm hậu tập. Vừa gặp lá chắn, Dã-Tượng hú lên:

– Hô! Hô! Nghé họ hộ.

Năm trâu đi hàng đầu húc mạnh, lá chắn bay tung đi. Năm trâu kế tiếp lao vào đội võ sĩ, tốc thẳng vào đội hình giặc. Giặc kinh hãi tách làm đôi. Dã-Tượng vẫn thúc trâu chọc vào hậu quân địch. Cu Đen hú lên, mười trâu của nó tách làm đôi. Năm con đánh vào phía trái. Năm con đánh vào phía phải. Các võ sĩ Mông-cổ còn bỡ ngỡ, thì đến mười trâu của Hĩm Còi tiến lên tiếp viện cho Dã-Tượng. Võ sĩ Việt, cùng trâu xung trận, phối hợp nhịp nhàng. Bọn võ sĩ Mông-cổ dù là đệ tử của các võ phái Trung-nguyên. Tuy võ công cao, nhưng họ bị bỡ ngỡ. Họ chỉ biết nhảy nhót, dùng đao chém trâu. Trâu húc, người chém, tiếng người la hét, tiếng trâu rống vang dội. Không đầy một khắc, đám lao binh, đám võ sĩ Mông-cổ bị giết sạch.

Một tiếng tù và rúc lên. Võ sĩ Việt, trâu lùi trở về chiến lũy. Trâu của Dã-Tượng, Cu Đen, Hĩm Còi lùi sau cùng.

Phạm Long hỏi Dã-Tượng:

– Cơ chừng này, chúng sẽ cho hàng chục toán, nấp theo hàng chục lá chắn xông lên. Em sẽ nghênh chiến bằng cách nào?

– Dễ ợt! Đường hẹp, chúng chỉ có thể đi hàng ba, hàng bốn. Ta cũng dùng trâu, dùng võ sĩ đi trên đường như ban nãy. Toán thứ nhất nghinh chiến trên đường xông vào hậu quân địch làm rối loạn hàng ngũ. Toán thứ nhì, thứ ba tiếp ứng. Toán thứ tư, thứ năm lội xuống ruộng đánh vào hông phải. Toán thứ sáu, thứ bẩy cũng lội ruộng đánh vào hông trái. Nhưng bốn toán lội ruộng này thì không thể dùng võ sĩ, vì võ sĩ không quen lội ruộng. Phải dùng dân chúng mới được.

Không đợi lệnh Phạm Long, nó vẫy tay gọi 4 đội dân chúng. Mỗi đội hơn trăm người, hỗn hợp trai gái, ông già, bà lão, trẻ con, vũ khí toàn mác phát dậu, liềm, gậy:

– Lên lưng trâu!

Nhanh nhẹn, 4 đội dân chúng lên lưng trâu. Phạm Long dặn họ:

– Nhớ ! Sau khi thắng giặc phải lùi vào đây ngay. Chớ ham chiến, lỡ tui Lôi-kỵ tới thì nguy lắm.

Quả nhiên, thất bại lần đầu, Triệt Triệt Đô rút kinh nghiệm, y ra lệnh cho lao binh, võ sĩ dàn thành mười lớp. Mỗi lớp có một lá chắn đẩy đi trước, phía sau 3 chục võ sĩ núp.

Cổng chiến lũy lại mở rộng. Một đội trâu hai chục con, cùng ba chục võ sĩ tiến ra. Trên lưng trâu, Dã-Tượng đi trước, rồi tới toán của Cu Đen, Cu Rỗ.  Cu Đen đứng cầm tù và rúc lên tu tu. Cũng như lần trước, trâu húc lá chắn, rồi lao vào hậu quân địch. Toán thứ nhì, Cu Rỗ, Cu Méo theo sau.Võ sĩ hai bên kịch chiến. Các lá chắn của toán thứ ba, thứ tư bị Ngưu-binh húc văng đi.

Hĩm Còi cầm tù và rúc một hồi. Bốn Ngưu-binh do Hĩm Cao, Lùn, Rỗ, Hô lên đường. Trên lưng mỗi trâu mang một dân binh. Vừa ra khỏi cổng chiến lũy, thì trâu lội xuống ruộng, nhanh chóng tiến lên, đánh vào hông hai đội võ sĩ Mông-cổ.

Ngột-lương Hợp-thai đứng xa xa quan sát trận chiến, y rởn tóc gáy, miệng chửi thề:

– Tổ bà nó! Mình đã đánh khắp từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, dân chúng hễ nghe thấy Lôi-kỵ là đã chết khiếp rồi. Thế mà bọn đàn bà, bọn trẻ con, bọn già nua ở đây dám xông ra đánh nhau với quân mình đã là điều kinh hãi. Đây dường như chúng thích thú xông trận mới kinh dị.

Đô-thống Phạm Long đứng thúc trống cổ võ cho đội Ngưu-binh, dân chúng đánh nhau với giặc. Cuộc hỗn chiến cực kỳ ác liệt. Gần một khắc qua, thế thắng nghiêng về phía Ngưu-binh. Phạm Long đang sung sướng thì có nhiều tiếng reo hò phát ra từ phía bên trái: Quân Mông-cổ đã phá hàng rào lọt vào trong chiến lũy. Đô-thống Lê Phẩm đang chỉ huy cuộc phản công. Đội Ngưu-binh do bọn Trâu Đen, Trâu Xanh, Trâu Điên, Trâu Trắng, Trâu Mập xông vào đội hình giặc. Sau hơn khắc, giặc bị đẩy bật ra khỏi chiến lũy. Nhưng lớp khác lại xông vào.

Giữa lúc chiến cuộc trước cổng, cùng cánh trái đang diễn ra khủng khiếp, thì một dân binh chạy lại báo:

– Thưa tướng quân, giặc dùng bè chở quân đổ bộ lên, đánh vào phía sau làng ta. Quân của chúng đông như kiến.

– Có biết tướng chỉ huy là ai không?

– Là Phò-mã Hoài Đô với con của Ngột-lương Hợp-thai là A Truật.

Phạm Cụ-Chích kinh hoảng vô cùng, vì khi thiết kế phòng thủ, ông chỉ phòng thủ phía trước, và hai bên hông. Phía sau khoảng vài chục dặm là chiến lũy Phù-lỗ, nên ông giao cho dân làng canh phòng, mà không có binh sĩ. Ông vội dẫn đội võ sĩ gần ba trăm người tung mình chạy về phía cổng hậu, thì Lôi-kỵ Mông-cổ đã lọt vào trong hàng rào. Dân chúng dùng trận địa giây chống Kỵ-binh. Năm thiếu nữ Cái Lan, Cái Huệ, Cái Sen, Cái Hồng, Cái Tiên đang dùng Ngưu-binh xung sát. Lôi-kỵ thì hùng hổ, trang bị đao, lao, cung tên. Còn dân chúng chỉ có đao-quất, khiên-mây gậy, dao, búa. Thế nhưng nhờ có Ngưu-binh trợ chiến, nên cuộc chiến diễn ra cực kỳ ác liệt. Được đội võ sĩ, Ngưu-binh trợ chiến, dân chúng đã lấy lại được thế thăng bằng. Lôi-kỵ bị giết khá nhiều. Quân Đại-lý, lao binh tràn vào trong mỗi lúc một nhiều. Dân chúng nấp trong các bụi cây, những căn nhà, những ngõ hẻm, nên cuộc chiến đấu vẫn giằng dai.

Giữa lúc đó, thì Phạm Cụ-Chích cảm thấy đau nhói ở hông trái. Ông đã bị trúng tên. Sợ dân chúng trông thấy, ông vung kiếm cắt chuôi tên, lấy dây lưng băng lại, rồi tiếp tục đốc chiến.

Phía cổng trước, hai cánh phải, trái đã bị tràn ngập. Lôi-kỵ hàng hàng lớp lớp phi vào trong. Quân, dân Việt bị đẩy lui về phía hông phải. Biết quân mình quá ít, không thể đương với lực lượng đông gấp mười. Tướng quân Phạm Cụ-Chích ra lệnh rút khỏi làng, theo cổng phía hông phải. Ba Đô-thống Lê Phẩm, Nguyễn Bích, Phạm Long thân đứng cản hậu. Cuộc lui binh an toàn. Chỉ còn đạo binh cuối cùng chưa ra khỏi làng là đạo dân quân với ba Vệ Ngưu-binh. Quân Mông-cổ vây tròn lấy đạo binh cuối cùng này. Lôi-kỵ dùng tên bắn, thì dân binh dùng khiên-mây che thân, dùng đao-quất phóng ra. Trái quất trúng thân Lôi-kỵ, chạm áo giáp kêu lên choang choảng. Trúng thân ngựa, thì ngựa hý lên, nhảy nhót, chạy loạn hàng, hoặc bị chết.

Ngột-lương Hợp-thai cùng các tướng đã xuất hiện. Thấy đội Ngưu-binh, cùng dân chúng tử chiến như một đàn sư tử, trong lòng nảy ra niềm kính phục, y hô lớn:

– Dừng tay!

Quân Mông-cổ cùng ngừng chiến lùi lại. Các tướng Mông-cổ cũng đã tới.

Quân Việt cũng ngừng chiến, lập thành trận thế rất nghiêm. Hai mươi tướng trâu: 5 Cu, 5 Trâu, 5 Hĩm, 5 cái,  đứng trên lưng trâu, tay cầm khiên-mây, đao-quất, cổ đeo tù và, cũng có đứa tay cầm cờ, đối diện với Mông-cổ. Phía sau hàng mấy trăm trẻ con, cỡi trên lưng trâu. Xen lẫn với Ngưu-binh, là dân chúng. Đội quân này cực kỳ hỗn tạp, trẻ có, già có, trai có, gái có. Vũ khí thì khiên-mây, đao-quất, gậy, dao, cuốc, gươm, giáo. Nghĩa là cái gì có thể đánh, đập được, đều đem ra xử dụng.

Ngột-lương Hợp-thai kinh ngạc vô cùng, vì chỉ một mệnh lệnh ban ra mà đội quân Việt tưởng như hỗn tạp lại tiến thoái nhịp nhàng muốn hơn Lôi-kỵ của y. Y gọi tên Trịnh Ngọc tới dịch.

– Ai là chúa tướng của các người?

Phạm Cụ-Chích  mới bị trúng thêm một đao vào vai trái. Tuy ông đã buộc vết thương, nhưng máu ra nhiều quá. Ông nghiến răng bước ra:

– Là tôi.

– Khi ta chưa tới An-Nam, đã nghe Lê Tần, Phạm Cụ-Chích, Trần Tử-Đức là ba danh tướng tài trí hơn đời. Ta không mấy tin. Sau trận Bình-lệ-nguyên, qua mấy ngày cùng tướng quân giao chiến, ta mới tin. Bây giờ, quân ta đông hàng chục vạn, hùng mạnh như hổ như báo. Trong khi tướng quân chỉ còn không quá 60 con trâu, cùng với đám dân chúng hỗn độn này, thì còn hy vọng gì nữa? Trọng tướng quân vì tài, nể tướng quân vì khí tiết. Ta muốn tướng quân buông vũ khí đầu hàng. Ta hứa, không giết một hàng binh nào cả.

Trong khi Ngột-lương Hợp-thai nói thì quân Mông-cổ đã đốt nhà. Gần nghìn ngôi nhà bốc cháy, khói đen bốc lên ngùn ngụt.

Phạm Cụ-Chích hỏi quân Việt:

– Thái sư chiêu dụ chúng ta đầu hàng! Nếu hàng sẽ được tha chết. Chư quân nghĩ sao?

Tất cả dân chúng nhìn căn nhà thân yêu, mà tổ tiên bao đời để lại, đang bốc cháy. Lòng họ ngút lửa hận. Tất cả đều hô lớn:

– Không hàng!

Dã-Tượng méo miệng :

– Hàng cái con kẹc ông đây này.

Bọn Triệt Triệt Đô, A Tan, A Truật đã từng nếm mùi đau khổ của đội Ngưu-binh do bọn Cu, Hĩm, Trâu, Cái. Bây giờ chúng mới nhìn tận mặt quân thù. Đó chỉ là một bọn nhóc con, mặt cháy nắng đen thui, tuổi từ 12 tới 17. Bọn trẻ nhơn nhơn, coi như không biết gì về sức mạnh nghiêng trời lệch đất của Lôi-kỵ.

Không đợi lệnh, Dã-Tượng cầm tù và rúc lên tu tu. Đội trâu xông vào hàng ngũ Mông-cổ. Dân chúng lao theo. Hai quân lẫn vào nhau. Cuộc chém giết diễn ra kinh khủng. Một bên là đội quân thiện chiến. Một bên là dân chúng liều mạng. Biết không cầm cự lâu được, Phạm Cụ-Chích phất cờ ra lệnh. Lập tức dân chúng, Ngưu-binh lùi vào trong mấy xóm đầy cây cối rậm rạp. Quân Mông-cổ ngơ ngác đứng nhìn.

Triệt Triệt Đô ra lệnh:

– Đốt hết những ngôi nhà còn lại. Lục soát khắp làng, giết cho tuyệt.

Dân chúng, Ngưu-binh đã rút vào khu đồng lầy phía hông phải. Tướng quân Phạm Cụ-Chích, cùng mười võ sĩ lùi sau cùng. Nhưng khi ông vừa ra khỏi lũy tre làng, thì bọn võ sĩ của Triệt Triệt Đô khám phá ra. Chúng bao vây lấy ông, cung tên chĩa tua tua tủa. Triệt Triệt Đô ra lệnh:

– Hàng đi. Bằng không ta ra lệnh buông tên!

Phạm Cụ-Chích đã mệt lắm rồi. Mắt ông bắt đầu hoa. Dùng hết sức lực còn lại, ông hô:

– Hãy chết cho đất Tổ.

Ông cùng đội võ sĩ lao vào hàng ngũ cung thủ Mông-cổ. Cuộc chiến diễn ra ngắn ngủi. Tả Thiên-ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích cùng mười võ sĩ giết thêm được ba chục Lôi-kỵ Mông-cổ, rồi cùng bị loạn tên bắn chết. Trên người ông bị ghim gần trăm mũi tên.

* Ghi chú của thuật giả: Lúc bấy giờ là giờ  Thân (15-17 giờ), ngày 12 tháng Chạp, năm Đinh-Tỵ (17-1-1258) niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần.
Ngay chiều hôm đó, sau khi nghe tâu trình, Nguyên-Phong hoàng đế truy phong cho Phạm Cụ-Chích chức tước như sau :
Dao-thụ Thái-bảo, Sơn-Nam tiết độ sứ, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. An dân sứ, Phiêu-kỵ thượng tướng quân, Trung-nghĩa vương.
Truyền lập đền thờ.
Cho đến nay (1999), trải qua 742 năm, với biết bao nhiêu lớp sóng phế hưng, biết bao ngày mưa tháng nắng, đền thờ của Trung-nghĩa vương Phạm Cụ Chích vẫn còn tại xã Văn-lung, huyện Thanh-sơn, phủ Gia-hưng, tỉnh Hưng-hóa. Tiếc rằng khi tôi tới sưu khảo tài liệu, người trông coi đền chỉ cho biết:Đây là đền thờ một đại tướng quân thời Trần, tử trận khi chống nhau với quân Mông-cổ“, mà không cung cấp được chi tiết gì hơn. Có lẽ, bản phổ đầu tiên bị Trương Phụ lấy đem về Kim-lăng năm 1407. Người sau chép lại, không nhớ được chi tiết. Tôi đã cung cấp chi tiết cho ngưới giữ đền.

Quân Mông-cổ đã tiến vào trong làng, lập trại. Nhưng, làng chỉ còn là bãi đất hoang, với những ngôi nhà bị cháy, chỉ còn trơ lại những bức tường. Khắp làng, xác quân Mông-cổ, xác quân Đại-lý, lao binh nằm rải rác lẫn với xác ngựa, xác trâu, xác dân chúng. Các tướng Mông-cổ mặt nhìn mặt, người người đều rùng mình về cuộc chiến vừa qua.

Ngột-lương Hợp-thai than với các tướng:

– An-Nam có đến mấy chục vạn làng. Nếu làng nào cũng chiến đấu như làng Cụ-bản, thì dù có dốc toàn bộ Lôi-kỵ Mông-cổ sang đánh, e cũng không nổi. Tại sao ta lại hy sinh quá nhiều, để được một nước bé bằng một quận của Trung-quốc thì đánh làm gì?

Bọn Mông-cổ bắt được bốn tù binh, một ông già, một bà già, một thiếu nữ và một đứa trẻ. Chúng cũng bắt được hai chục con trâu. Lưng trâu có áo chắn tên, mỗi sừng đều cột một con dao dài. Trong khi quân sĩ trải ra đóng trại, thì các tướng Mông-cổ tụ họp nhau tại sân đình làng.

Triệt Triệt Đô gọi Trịnh Ngọc  lại thông dịch. Y hỏi đứa trẻ. Nó bị méo miệng:

– Mày có phải là tướng trâu không?

– Đúng thế.

– Mày tên gì? Bao nhiêu tuổi?

– Tao tên Cu Méo. Tao mười ba tuổi.

Một  võ sĩ Mông-cổ kề đao vào cổ Cu Méo. Triệt Triệt Đô lại hỏi:

– Bây giờ mày có hàng không? Nếu mày hàng, thì tao tha cho. Bằng không thì tao giết!

– Đéo hàng Thát-đát.

Ánh đao lóe lên, Cu Méo ngửa cổ cười ha hả:

– Chém đi! Ông đíu có sợ.

Gã đao phủ ngừng lại. Thấy đe dọa trẻ con không xong, Triệt Triệt Đô hỏi cô gái:

– Người tên gì?

– Quách Thị Gái.

– Bao nhiêu tuổi?

– Mười tám.

– Mày là gái, sức được làm bao mà dám chống lại Thiên-binh?

– Tục ngữ nước tôi có câu: “Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh.

– Bây giờ tao chặt cổ mày, chặt cổ đau lắm. Mày có sợ không?

– Đau thì ai mà chẳng sợ.

– Vậy mày hàng đi.

– Không! Hàng nhục lắm.

Tên võ sĩ thích đao vào cổ cô gái. Cô cười nhạt:

– Mi tự cho mình là Thiên-binh, mà dùng đao đe dọa đứa con gái bị trói ư? Hèn quá.

Tên võ sĩ quệt bàn tay vào ngực cô gái. Cô nổi giận, phóng cước vào bụng y. Y bị ngã lộn ra sau. Vừa xấu hổ, vừa giận, y vung đao, cô gái bị chặt làm hai khúc.

Triệt Triệt Đô hỏi ông già đầu bạc:

– Dường như người là Đại-tư [Lý-trưởng] ở xã này? Người tên Vũ Mạc thì phải.

– Đúng vậy!

– Người có biết bằng cách nào, bọn vua An-Nam có thể biến khắp “các làng đều là thành, toàn dân là binh thủ thành” không?

– Thưa tướng quân, từ mấy nghìn năm nay, dân Việt chúng tôi vẫn tự hào là con Rồng, cháu Tiên. Đất của chúng tôi là đất linh, không ai có thể chiếm được. Vì vậy khi quân ngoại… xâm tới, thì tất cả cùng đứng  lên chiến đấu.

– Láo! Thế sao trước đây dân chúng không chiến đấu chống quân Hán, mà chỉ chống chúng ta?

– Điều này tướng quân không biết được đâu. Bởi khác với những triều đại trước, từ khi triều Trần lập lên đến giờ, vua, quan đều lấy việc tạo phúc cho dân làm căn bản. Triều đình rất được lòng dân. Cho nên dân chúng cảm thấy đất nước là của họ, chứ không phải của vua chúa. Họ chiến đấu để tự bảo vệ làng xã mình.

– Bây giờ ông có hàng không? Bằng không thì coi gương đứa con gái ban nãy!

Bà già thương tích đầy người gào lên:

– Đừng hàng ông ơi! Hàng nhục lắm.

Triệt Triệt Đô hỏi bà già:

– Bà là vợ lão Đại-tư này hả?

– Không! Tôi là người ở của ông ấy. Tôi có tên là Mụ Tình.

Gã võ sĩ múa đao. Triệt Triệt Đô hỏi:

– Mụ không hàng thì ta giết mụ trước.

– Tiên nhân cha mày! Bà không sợ chết đâu!

Ánh đao vung lên, bà già mở to mắt nhìn, tỏ ra không sợ. Thình lình ánh thép lóe mắt, một mũi phi tiễn bay tới. Choang! Đao của tên võ sĩ vuột khỏi tay bay ra xa, rồi ba người phụ nữ tuổi đã cao xuất hiện. Người trẻ nhất lên tiếng:

– Hèn hạ! Người thân là một đại tướng quân, võ công thuộc loại tuyệt thế. Quanh người có mười vạn quân thế mà người lại uy hiếp ông già, bà cả, với bọn trẻ con bị thương, không tấc sắt trong tay?

Bà nói với y bằng tiếng Mông-cổ.

Bọn Ngột-lương Hợp-thai đã đến. Y hỏi tên Trịnh Ngọc:

– Người có biết ba mụ này là ai không?

Trịnh Ngọc mở to đôi mắt ti hí ra. Y chỉ vào một phụ nữ tuy già, nhưng đẹp tuyệt thế:

– Bà này là vợ Trần Lý, tên Tô Phương-Lan. Bà là chị dâu của Phò-mã Trần Thủ-Huy, là bà nội của Trần Cảnh. Võ công bà rất cao siêu. Trần Cảnh tôn bà là Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu. Bà tuy già mà vẫn còn xử dụng võ công như thời còn trẻ.

Bọn Ngột-lương Hợp-thai từng nghe tiếng Trần Lý qua Phò-mã Trần Thủ-Huy. Chúng đều bật lên tiếng kêu:

– Ái chà!

Trịnh Ngọc lại chỉ vào một phụ nữ mắt chiếu ra tia hàn quang:

– Bà này là em gái  của Trần Lý, tên Trần Kim-Ngân. Bà là vợ của Hưng-Nhân vương Phùng Tá-Chu.

Y lại chỉ vào một phụ nữ khác:

– Bà này là Phan Mỹ-Vân, vợ của Kiến-Quốc đại vương Trần Tự-Khánh. Tự-Khánh là chú ruột Trần Cảnh. Một đại khai quốc công thần triều Trần.

A Tan cười nham nhở:

– Phải chăng các mụ góa chồng, đến đây kiếm đực? Ta trông các mụ đều già cả rồi. Cái đó… cái đó khô như khô mực. Quân ta tuy xa nhà, nhưng chúng cũng không thèm đâu!

Thấp thoáng bóng trắng, rồi bốp, bốp, bốp ba cái. A Tan bị trúng ba cái tát. Bà Mỹ-Vân đã lui trở lại. Bọn Mông-cổ đều nhìn rất rõ bà xuất chiêu. Nhưng bà ra tay nhanh quá, nên A Tan không đỡ kịp.

Mỹ-Vân chỉ mặt A Tan:

– Ta nghe mi học võ công với Hốt Tất Liệt. Mà Hốt Tất Liệt với Ngột-lương Hợp-thai, đều học võ công từ sư thúc Thủ-Huy. Như vậy mi là đệ tử phái Đông-a. Mi thấy thái sư  bá là Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu, thấy thái sư thúc là Hưng-Nhân vương phi mà mi không hành lễ, còn buông lời vô lại.

Bà chỉ Ngột-lương Hợp-thai:

– Khi sư thúc Thủ-Huy dạy võ cho bọn mi, người đều bắt bọn mi tuyên thệ rằng: Không dùng võ công bản môn làm hại cho Đại-Việt. Thế mà các người mang quân đến tàn phá quê hương của sư phụ. Cho nên chúng ta ra đây để thanh lý môn hộ. Các người hãy lấy vũ khí ra đi.

A Tan chỉ mặt Mỹ-Vân:

– Mi nhân ta không để ý, đánh trộm mà thành công. Bây giờ mi hãy tự trách mình đi.

Y hít một hơi, rồi phát chiêu Đông-hải lưu phong, đánh thẳng vào mặt Mỹ-Vân. Mỹ-Vân không trả đòn, bà lách mính tránh chiêu của y. Tuy vậy bà phải vận kình lực mới chịu nổi áp lực. Bất giác bà khen thầm:

– Công lực tên này không tầm thường. Hèn gì hôm trước y đấu ngang tay với Vũ-Uy vương.

Để cho y đánh  xong ba chiêu, Mỹ-Vân mới  phản công bằng chiêu Phong-đáo sơn đầu.

Bà Kim-Ngân hất hàm hỏi Ngột-lương Hợp-thai :

– Người chuẩn bị xong chưa?

Tay bà từ từ đưa ra một chưởng. Triệt Triệt Đô ném đao xuống đất. Y bước ra, tay đẩy một chưởng, đỡ chiêu của bà, rồi xoa hai tay vào nhau:

– Thái-sư là chúa tướng của chúng ta, thân phận người cao quý biết mấy. Người không thể hạ thể đấu với bọn đàn bà. Ta là tướng dưới quyền người, ta dạy dỗ bọn mi mấy chiêu được rồi.

Mặc cho bốn người đấu với nhau, Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu Phương-Lan lách mình một cái, kiếm vung lên, dây trói Cu Méo, Vũ Mạc, Mu Tình bị cắt đứt. Vừa được tự do, Vũ Mạc, Mụ Tình, Cu Méo phóng mình lên lưng trâu. Cu Méo ra lệnh cho trâu:

– Nghé! Ọ!Ọ! Hú hu.

Hai mươi con trâu nghe hiệu lệnh, cùng vung sừng húc túi bụi vào bọn tướng sĩ Mông-cổ. Trong sân đình, chỉ có khoảng vài chục quân túc vệ tay không, chúng lại không đề phòng, thì sao đấu lại với hai chục con trâu?ư

Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu thấy Ngột-lương Hợp-thai đứng quan sát trận đấu, thì nghĩ thầm:

– Nếu như ta giết được tên này, thì bọn Mông-cổ phải bỏ chạy.

Thình lình Hậu quát lên một tiếng, rồi xuất liền ba chỉ hướng người y. Chỉ đầu hướng  giữa trán y, thình lình y quay lại phía sau, thành ra chỉ trúng cái mũ đồng. Choang. Ngột-lương Hợp-thai ngã lộn đi một vòng. Chỉ thứ nhì hướng ngực y. Nhưng chỉ chưa ra hết, có tiếng quát:

– Không được hại người !

Rồi một chưởng mạnh như bài sơn đảo hải đánh vào hông Hậu. Kinh hãi, Hậu phải thu chỉ về, biến thành chưởng gạt. Binh một tiếng, cả Hậu lẫn người kia đều lảo đảo lùi về sau hai bước. Hậu nhìn đối thủ, đó là một đạo sĩ. Chợt nhớ lại, Hậu cười nhạt:

– Không ngờ Càn-nguyên trấn thiên chưởng Tiêu-Hư tử, chưởng môn Võ-đang mà cũng đi làm tay sai cho Thát-đát! Tiếc thực!

Tiêu-Hư tử cúi mặt xuống, tỏ vẻ e thẹn.

Quân Mông-cổ đã tập hợp, kéo đến đầy sân đình. Bà Kim-Ngân hô:

– Rút thôi!

Cu Méo hú lên một tiếng dài, đoàn trâu ngừng lại, hướng khu đồng lầy phóng đi. Tuyên-Minh thái hoàng thái hậu hướng Tiêu-Hư tử:

– Đạo sư là người thanh cao, hãy mau mau rời chỗ hôi tanh này.

Rồi bà cùng Kim-Ngân, Mỹ-Vân rút theo đội  trâu. Triệt Triệt Đô, A Tan tung mình đuổi theo. Thình lình hai bà dừng lại, tay xuất chỉ phóng về sau. Phụt! Phụt! Trán hai gã Triệt Triệt Đô, A Tan trúng chỉ, óc phọt ra ngoài. Cả hai ngã lộn xuống đất.

* Ghi chú của thuật giả: Nguyên-sử, quyển 121, Ngột-lương Hợp-thai truyện, chép rằng Triệt Triệt Đô làm trái lệnh Ngột-lương Hợp-thai, vì sợ tội, y uống thuốc độc chết. Trong Nguyên-sử, An-Nam chí lược… đều chép rằng Ngột-lương Hợp-thai sai hai tướng đi tiên phong, thì một là Triệt Triệt Đô, uống thuốc độc chết. Còn người thứ nhì bị giết thì không thấy nói tên là gì. Chỉ độc giả Anh Hùng Đông-A mới biết rất rõ, Triệt Triệt Đô bị vương phi Hưng-Nhân vương Phùng Tá-Chu nhũ danh Trần Kim-Ngân giết chết. Còn tướng thứ nhì có tên là A Tan bị vương phi Kiến-Quốc đại vương Trần Tự-Khánh nhũ danh Phan Mỹ-Vân giết chết. Chúng chết ngày 12 tháng Chạp, năm Đinh Tỵ, niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần (DL.17-1-1958).

(Hết Hồi 47)

Share this post