Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 47

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 47

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BỐN MƯƠI BẢY
Cả nước là thành. Toàn dân thủ thành.

Triệt Triệt Đô hỏi viên quan phụ trách chữa ngựa:

– Vô lý, rõ ràng hôm qua, ngựa chúng ta đang bệnh, y chữa khỏi mà?

– Mưu bọn Việt rất sâu. Chúng chữa độc cho ngựa ta là chữa thực, khiến ta tin. Rồi y cho thêm thuốc độc, để khi ngựa ta ra trận, thuốc ngấm. Cũng may, ngựa của ta ngã trên đất mình. Giá như ngựa ta đang xung sát mà bị thuốc phát tác, thì chết hết!

Triệt Triệt Đô sai Kỵ-mã phi tiễn báo cáo tình hình với Ngột-lương Hợp-thai, rồi quyết định:

– Dù bị thiệt hại Lôi-kỵ, nhưng ta vẫn không chịu thua bọn Nam-man.

Y ra lệnh cho năm Bách-phu Lôi-kỵ đi trước, bốn Vạn-phu quân Đại-lý dàn hàng từ từ tiến sau. Tới trước trận Việt, y cho quân dừng lại, rồi cùng các Thiên-phu trưởng, có võ sĩ hộ vệ, tiến lên:

– Vân-ma đại tướng quân của Thiên-quốc Mông-cổ, muốn nói chuyện với vua An-Nam.

Vèo, vèo, vèo. Ba Lôi-tiễn vọt lên trời rồi nổ như ba tiếng sấm, tỏa thành hình ba con rồng. Cửa trận Việt mở ra. Nguyên-Phong hoàng đế cỡi ngựa khoan thai tiến trước. Bên trái là Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần, Đô-thống Trần Biên, bên phải là Đô-thống Nguyễn Tha, Nguyễn Thời. Đô-thống Thời chính là gã mũ đỏ đã trêu ghẹo y ban nãy. Phía sau, một đội Kỵ-mã mười người. Một đội Ngưu-binh, toàn trẻ con, viên đội trưởng chính là Dã Tượng và con Hĩm Còi. Một đội nữ binh, chính là bọn nữ binh trên thuyền tung lưới bắt võ sĩ trên sông. Một đoàn Thị-vệ hơn 3 trăm người, viên trưởng đoàn chính là thầy lang Đỗ Thanh, bên cạnh ông có cây cờ soái:

Đại-Việt Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh. Tổng-lĩnh Thị-vệ.

Triệt Triệt Đô, Hòa Khâm uất khí lên cổ.

Đỗ Thanh chỉ nhà vua nói lớn:

– Đại-Việt hoàng đế là vị này. Tướng quân muốn nói gì thì nói đi.

Triệt Triệt Đô giận quá, hàm răng đánh vào nhau lộp cộp, nói không ra lời. Y nghiến răng hướng gã Trịnh Ngọc hất hàm. Gã Trịnh Ngọc nói lớn:

– Thiên-quốc Mông-cổ đã thu gồm tất cả các nước dưới gầm trời này. Về phương Tây, hơn hai chục nước đều cúi đầu tuân phục. Về phương Đông, nào Kim, nào Liêu, nào Tống, nào Tây-hạ, nào Thổ-phồn, nào Đại-Lý, nào Cao-ly cũng phải theo gió đầu hàng. Binh hùng có đến mấy trăm vạn, chỉ núi, núi tan; chỉ biển, biển cạn. Nay người thân chinh Nam phương. Quân như hổ, như beo hơn trăm vạn, dàn ra tại biên giới. Nghĩ tình trước đây Phiêu-kỵ đại tướng quân Lý Long-Phi, Phụ-quốc Thái-úy Trần Thủ-Huy cùng công chúa Đoan-Nghi, từng giúp Thiên-quốc. Từng là khai quốc công thần. Vì vậy người sai Thái-sư  Ngột-lương Hợp-thai mang 20 vạn quân, sang kinh lược An-Nam. Thái-sư nghĩ tình kết nghĩa huynh đệ với Đại-tướng quân Trần Thủ-Độ, mà không nỡ đem quân tàn sát nước người. Thái-sư sai sứ sang chiêu dụ, nói lời hay, lẽ phải cho các người nghe. Thế mà các người dám giam sứ giả. Vì vậy Thái-sư mới quyết định tiến quân. Nay ta đi tiên phong, trước hỏi cho ra lẽ, rồi mới trừng phạt sau. Vậy chúa tôi nước người hãy trả lời đi.

Một đại thần, mình hạc xương mai, thủng thỉnh rời khỏi trận Việt, cạnh ông, một dũng sĩ cầm cây cờ có hàng chữ:

Quy-đức thượng tướng quân, Vũ-sơn hầu. Thái-tử thiếu bảo, Hiệp biện đại học sĩ,   Lễ bộ tham tri.    Tạ Quốc-Ninh.

Tạ Quốc-Ninh hướng Triệt Triệt Đô, ông nói bằng tiếng Mông-cổ:

– Vân-ma đại tướng quân! Xin đại tướng quân cho biết, nếu không có phò mã Trần Thủ-Huy với công chúa Đoan-Nghi của thiểm quốc, thì liệu Thiên-quốc Mông-cổ có còn tồn tại không? Ví như còn tồn tại thì có được như ngày nay không? Hay cũng chỉ là một bộ tộc, chịu nhục nhã dưới quyền con cháu Tang Côn? Thời Thành-cát Tư-hãn còn tại thế, người luôn nhắc nhở chư tướng phải nhớ ơn Đại-Việt. Vậy mà, bây giờ Đại-Việt muốn được yên ổn, con cháu Tư-Hãn không chịu, nhất định đem quân chiếm đất, rồi bắt quân sĩ, tráng đinh đi tiên phong đánh Tống. Đó là cách báo ơn ư?

Hầu cất cao giọng:

– Nước tôi tuy nhỏ, dân tôi tuy thưa, nhưng chúng tôi cương quyết không để ai muốn bắt làm tôi, làm mọi gì cũng được. Xưa kia, thời vua Thái-tông, thời vua Thần-tông nhà Tống, từng sai Hầu Nhân-Bảo, Tôn Toàn-Hưng, Quách Quỳ, Triệu Tiết, mang binh hùng tướng mạnh sang đánh nước tôi. Kết quả ra sao, thì tướng quân đã biết rồi.

Trong khi Tạ Quốc-Ninh nói thì phía sau nhà vua, Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh, bọn Dã Tượng, Hĩm Còi, đội nữ binh, méo miệng cười trêu Triệt Triệt Đô.

Y nổi cáu:

– Từ khi binh trời nhập biên, các người toàn một thứ hèn nhát, bầy trò ma, trò quỷ, như chó chuyên cắn trộm. Các người có là anh hùng, thì hãy cùng chúng ta trực diện giao chiến.

Tạ Quốc-Ninh cười lớn:

– Gì chứ đánh nhau thì dễ quá. Dàn trận giao chiến, thì binh tướng chết nhiều. Vậy tôi xin đề nghị: Chúng ta cho quân lùi lại, rồi tướng với tướng đánh nhau. Không biết tướng quân có can đảm không?

Bị khích, Triệt Triệt Đô nổi cộc:

– Được! Ta há sợ các người sao. Các người muốn đấu gì nào?

– Bây giờ thế này, chúng ta dùng thuật kỵ mã đấu trận đầu, dùng cung tên đấu trận thứ nhì. Cuối cùng, dùng võ công tranh cao thấp. Trong ba trận, nếu bên nào thắng hai trận thì coi như được cuộc. Bên nào bại hai trận thì coi như thua cuộc.

Nghe Quốc-Ninh nói, Triệt Triệt Đô tưởng mình nghe lầm, tưởng mình nằm mơ. Quân Mông-cổ vang danh thế giới về thuật kỵ mã, về tiễn thủ. Thế mà Quốc-Ninh lại đòi đấu hai môn này. Y không dấu được nét vui mừng hiện lên trên mặt:

– Thế nhưng bên thắng sẽ được gì? Bên bại sẽ phải làm gì?

– Nếu như bên Mông-cổ thắng, thì Đại-Việt phải mở cửa cho quân đại quân vào, phải cung đốn lương thảo, phải chịu binh dịch, theo đi đánh Tống.

– Còn như bên Đại-Việt thắng?

– Thì xin tướng quân hãy lùi quân về biên giới. Từ nay Mông-cổ, Đại-Việt bang giao trong thế bình đẳng như trước đây.

Triệt Triệt Đô tự hào về thuật kỵ mã, về tiễn thủ và tin vào võ công mình. Tuy vậy y cẩn thận hơn:

– Tôi không có quyền quyết định lớn như vậy. Tuy nhiên, nếu như bên tôi thua, tôi xin lùi quân về bên kia sông… Nào bây giờ trận đầu, đấu thuật kỵ mã. Vậy thể lệ ra sao?

– Chúng tôi là chủ, các vị là khách. Người Việt chúng tôi vốn hiếu khách, vậy xin đấu theo thể lệ Mông-cổ.

Triệt Triệt Đô lại kinh ngạc tự hỏi:

– Tại sao cái gì của Mông-cổ, tụi này cũng biết vậy kìa?

Nguyên tắc đấu thuật kỵ mã của Mông-cổ có ba phần. Phần thứ nhất là kỵ mã điều khiển sao cho ngựa dựng đứng lên. Ngựa của ai đứng được lâu thì coi như người ấy thắng. Thứ nhì là phi ngựa không yên, chẳng cương, rồi cho ngựa lồng. Hễ ai ngã trước là thua cuộc. Thứ ba, là cả hai cùng phi ngựa, sải bước trên một quãng đường. Ngựa của ai chạy tới đích trước thì thắng cuộc.

Triệt Triệt Đô gọi Hòa Khâm:

– Người hãy ra dạy cho bọn Nam-man bài học về thuật kỵ mã của vùng Thảo-nguyên.

Hòa Khâm giật cương, ngựa của y  cất cao vó trước, gần như dựng thẳng đứng, rồi hý lên ba tiếng.

Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần chỉ Đô-thống Nguyễn Thời:

– Đô-thống hãy ra cùng Thiên-phu trưởng Hòa Khâm so tài.

Trái với Hòa Khâm, chưa đấu đã biểu diễn, Thời thúc chân vào bụng ngựa. Con ngựa thủng thẳng bước ra. Hai ngựa, hai tướng đối diện nhau.

Triệt Triệt Đô cầm dùi đánh một tiếng trống. Cả hai đối thủ cùng giật cương. Hai ngựa cùng cất cao vó trước, đứng dựng lên. Quân sĩ hai bên cùng reo hò trợ oai.

Một khắc trôi qua.

Ngựa cả hai bên đều mệt, hai chân sau bắt đầu run run.  Nguyễn Thời liếc nhìn ngựa của Hòa Khâm, bất giác chàng cảm phục :

– Tên này quả thực có tài cỡi ngựa. Vì mông y đặt đúng vào chỗ đầu khớp xương hai chân sau. Với chỗ này, khiến cho ngựa đứng, lấy được thăng bằng, và ít mỏi mệt.

Lại một khắc trôi qua.

Ngựa cả hai bên bắt đầu lắc lư. Thời sẽ để bàn tay vào hai mông ngựa, rồi vận công dồn chân khí sang. Con ngựa đang mệt mỏi, bỗng dưng một nguồn nội lực hùng mạnh dồn vào hai chân. Bao nhiêu cái mệt mỏi biến hết. Nó vui mừng, hý lên một tiếng lớn. Trong khi ngựa của Hòa Khâm mệt quá, phải hạ hai vó trước xuống.

Tướng Lê Tần nói :

– Cuộc đấu thuật kỵ mã phần một kết thúc. Bên Đại-Việt thắng. Bây giờ hai bên đổi ngựa, đấu phần thứ nhì là cỡi ngựa không yên cương, rồi cho ngựa lồng.

Hai bên cùng thúc ngựa ra. Lần này chính Nguyên-Phong hoàng đế đánh một tiếng trống. Cả hai cùng thúc chân vào bụng ngựa. Ngựa lồng lên, nghiêng phải, nghiêng trái, khuỵu vó trước, hất vó sau. Quân sĩ, chiêng trống hai bên cùng thúc vang trời. Nhưng dù ngựa nghiêng ngả thế nào chăng nữa hai kỵ mã vẫn ngồi rất vững trên lưng chúng.

Cơ chừng này, không biết bao giờ mới phân thắng bại?

Nguyễn Thời là một võ sư, chàng nghĩ được một kế. Lợi dụng lúc Hòa Khâm bị tung lên, chàng chĩa ngón tay phóng một chỉ vào mông ngựa của y. Con ngựa đau quá, hý lên, rồi vọt về trước. Thế là Hòa Khâm rơi xuống đất như trái mít rụng.

Lê Tần cười ha hả:

– Trong ba cách đấu, bên Đại-Việt thắng hai. Vậy cách thứ ba không cần đấu nữa. Bây giờ hai bên đấu tiễn thủ. Bên Đại-Việt cử Đô-thống Nguyễn Tha. Vậy không biết bên Mông-cổ, vị nào ra tứ giáo?

Triệt Triệt Đô gọi Sung Di:

– Tôi xin cử Thiên-phu trưởng Sung Di! Đệ nhất tiễn thủ Mông-cổ đấu với bên Đại-Việt.

Thể lệ đấu tiễn thủ của Mông-cổ rất khủng khiếp: Bên thắng thì sống, bên bại phải chết. Chứ không thể nhân nhượng. Mỗi bên một cây cung với ba mũi tên. Cả hai cùng cỡi ngựa, không mặc áo giáp, đứng đối diện, cách nhau hai trăm trượng [400m], rồi phi ngựa xông lại phía đối thủ, dương cung bắn nhau.

Hai bên gò cương, nhìn nhau. Sung Di nạp tên vào cung sẵn, còn Nguyễn Tha một tay cầm cung, một tay cầm tên.

Triệt Triệt Đô đánh một tiếng trống, Sung Di thúc ngựa vọt tới. Trong khi Nguyễn Tha giật cương cho ngựa chạy vòng tròn. Khi hai ngựa cách nhau hai mươi trượng, Sung Di buông tên. Mũi tên xé gió hướng lưng Nguyễn Tha. Nguyễn Tha chờ cho tên sắp tới lưng, thì vòng tay ra sau bắt lấy. Quân sĩ hai bên reo hò vang dội. Sung Di gò ngựa đứng lại.

Y nói :

– Người không dám đấu với ta, mà bỏ chạy như vậy thì không phải là anh hùng.

Nguyễn Tha cười lớn:

– Được rồi! Bây giờ ta không chạy, cũng không tránh. Ta mà tránh hay chạy thì coi như thua.

Quân, tướng hai bên cùng kinh ngạc về lời hứa của Nguyễn Tha. Sung Di rút tên, dương cung. Véo một tiếng, tên hướng giữa mặt Nguyễn Tha bay tới. Giữ đúng lời hứa, Tha ngồi im trên mình ngựa đợi cho tên của Sung Di bay đi rồi, chàng mới buông tên. Mũi tên xé gió bay tới, trúng giữa mũi tên của Sung Di, chẻ làm hai, rồi cùng rơi xuống. Quân sĩ hai bên reo hò, hồi hộp.

Sung Di lại buông tên. Lần này Nguyễn Tha ngồi im trên mình ngựa. Mũi tên hướng giữa mặt chàng. Thấy chàng không tránh né, người người đều nghiến răng kinh hãi. Nguyễn Tha há miệng ra, mũi tên trúng giữa miệng chàng. Chàng cắn mạnh, chuôi mũi tên còn rung rung không ngớt. Quân cả hai bên cùng rú lên kinh hãi đến tột độ.

Nguyễn Tha gọi Sung Di:

– Bây giờ đến lượt ta bắn người đây.

Chàng buông tên. Mũi tên hướng giữa mặt Sung Di bay tới. Y né người tránh thoát. Nhưng choang một tiếng, đầu y nhức nhối cực kỳ khó chịu. Thì ra Nguyễn Tha đã bắn môt lúc hai mũi, một mũi trúng cái mũ đồng trên đầu y. Sung Di kinh hãi, y phi ngựa chạy vòng vòng.

Nguyễn Tha phi ngựa đuổi theo, chàng nói lớn:

– Lần đầu ta tha cho nhà ngươi. Bây giờ ta bắn đứt giây cương của nhà ngươi đây này.

Mũi tên xé gió bay đến, phựt một tiếng, giây cương bị tiện đứt. Con ngựa không cương, nó nhảy lung tung.

Nguyễn Tha lại hô lớn:

– Ta bắn trúng mông ngựa người đây.

Chàng buông tên, mũi tên bay tới trúng mông ngựa của Sung Di, con ngựa lồng lên, thì mũi thứ nhì trúng giữa lưng y. Sung Di ngã lộn xuống đất.

Triệt Triệt Đô thấy cuộc thi, bên mình bị bại, y cầm cờ phất lên. Quân Mông-cổ ào ào xung vào trận Đại-Việt. Nguyên-Phong hoàng đế, lùi vào trong trận. Cửa trận mở ra, Ngưu-binh, Kỵ-binh, Tượng-binh cùng lao vào vòng chiến. Trên trời, Lôi-tiễn chụp xuống đầu quân Mông-cổ.

Cuộc chiến cực kỳ khốc liệt. Một bên là những chiến sĩ từng tung hoành từ Đông sang Tây, từ Nam ra Bắc. Một bên là những chiến sĩ ngút lửa lòng yêu nước, giữ nước.

Nguyên-Phong hoàng đế đứng đốc chiến. Cạnh ngài là Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh chỉ huy đội Thị-vệ 3 trăm người, toàn những võ sĩ trẻ, được luyện tập đặc biệt để chống chiến thuật sung sát của Lôi-kỵ Mông-cổ. Vì vậy đã ba bốn lần, đội Lôi-kỵ xung vào mong bắt sống nhà vua, đều bị đẩy lui. Mỗi lần như vậy, có hàng mấy chục Lôi-kỵ bị đánh ngã.

Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần đứng nhìn trận chiến, ông nghĩ:

– Hồi nghị kế, Hưng-Đạo vương đã định rằng, trong lúc xung sát phải tìm cách giết những tướng bậc trung của chúng ở cấp Thiên-phu, Vạn-phu, thì mới mong hàng ngũ của chúng bị loạn. Thế nhưng, bên phía Mông-cổ, các Thiên-phu trưởng đều được những võ sĩ bảo vệ cực cẩn mật. Làm sao bây giờ? Thôi ta cho rút lui, chờ chúng đuổi theo, rồi dùng cung thủ núp trong bụi rậm mới giết được chúng.

Giữa lúc đó, pháo nổ liên tiếp, rồi quân reo dậy đất. Từ phía trước, Lôi-kỵ hàng hàng lớp lớp lao đến như bay. Biết rằng đại quân của Ngột-lương Hợp-thai đã tiếp viện. Ông cầm cờ phất. Thế trận Việt lập tức biến đổi. Bộ binh lùi lại phía sau, rồi tỏa vào khu đồng cỏ mênh mông, với những lối đi nhỏ hẹp nằm trên bùn lầy. Tượng binh, Kỵ-binh vừa đánh vừa lùi.

Nguyên-Phong hoàng đế có đội Thị-vệ hộ tống. Ngài vẫn đứng chỉ huy cuộc lui binh. Tướng Lê Tần, phóng lên trước cầm cương ngựa của ngài mà can:

– Hoàng thượng. Hoàng thượng không nên ham chiến. Ví như ta chỉ đánh có một trận, thì Hoàng-thượng hãy tiến trước ba quân để làm gương. Cuộc chiến còn dài, Hoàng-thượng còn phải chiến đấu còn nhiều. Xin Hoàng-thượng hãy rút lui.

Nhà vua tỉnh ngộ, ngài cùng Đỗ Thanh cho Thị-vệ từ từ lùi về sau. Nhưng trận Mông-cổ rẽ ra, một đội võ sĩ  khoảng hơn 3 trăm người, chia làm ba mũi, do Triệt Triệt Đô, Hoài Đô, A Truật chỉ huy xung vào trận Việt, hướng chỗ Nguyên-Phong hoàng đế. Biết rõ thâm ý địch, định bắt sống nhà vua, tướng Đỗ Thanh chỉ tay một cái, ba đô thống Trần Đình, Nguyễn Thời, Nguyễn Tha cùng dàn Thị-vệ ra cản lại. Chỉ một chưởng, bọn Triệt Triệt Đô đã đánh bật ba đô thống sang bên cạnh. Y bay người lên khỏi mình ngựa, nhấp nhô mấy cái, đã đến trước hoàng đế, tay y phóng chưởng tấn công ngài. Thấy chưởng phong quá hung dữ, ngài vọt người khỏi mình ngựa, tà tà đáp trên lưng một thớt voi. Ba đô thống vây y vào giữa. Giữa lúc đó thì A Truật phát chưởng đánh vào  hông trái ngài. Nhận ra đó là một chiêu trong Hoa-sơn chưởng, ngài phát chiêu đỡ. Binh một tiếng. Cả ngài lẫn A Truật đều cảm thấy nghẹt thở. Giữa lúc ngài choáng váng, thì phía sau chưởng Hoài Đô đổ ụp lên lưng. Nhưng tướng Đỗ Thanh đã xỉa kiếm vào lưng Hoài Đô cứu chúa. Thế là Đỗ Thanh đấu với Hoài Đô. Nguyên-Phong hoàng đế đấu với A Truật. Ba đô thống đấu với Triệt Triệt Đô. Trong khi đoàn Thị-vệ đấu với đội võ sĩ.

Sáu cặp, cùng hai đoàn võ sĩ đấu với nhau trong một khu đất hẹp, vô tình ngăn giữa quân Đại-Việt với Mông-cổ. Đây là khu đất thóp hậu, quân Mông-cổ tuy đông, nhưng không đủ chỗ tiến lên. Chúng chỉ biết đứng reo hò.

Ngột-lương Hợp-thai chửi:

– Tổ bà nó! Bọn này quá thông thạo chiến pháp của Thành-cát Tư-hãn. Chúng chọn khu này, hoàn toàn lợi thế để rút lui.

Đạo Tượng-binh đã lùi vào những con đường nhỏ, giữa các lũy tre cao vút. Tiếp theo tới đạo Kỵ-binh. Chỉ còn đạo Ngưu-binh. Hai tướng trâu là Dã Tượng, Hĩm Còi tay cầm tù và, chuẩn bị ra lệnh cho trâu… tác chiến.

Tuy là một bác học, lại là một đại tôn sư của phái Đông-a, nhưng Đỗ Thanh đấu với Hoài Đô ngang tay, vì võ công y là thứ võ công rất lạ. Còn Nguyên-Phong hoàng đế đấu với A Truật có vẻ yếu thế. Tuy nhiên võ công của ngài là võ công Đông-a, còn võ công của y là võ công Hoa-sơn, nên nhất thời ngài chưa bị bại. Còn ba đô thống đấu với Triệt Triệt Đô thì yếu thế rõ ràng. Bởi ba người chỉ giỏi về xung phong, hãm trận, chứ về võ công thì chỉ là cao thủ bậc trung. Còn tướng Lê Tần, tuy võ công cao tuyệt đỉnh, nhưng ông phải đứng trên lưng một bành voi đốc chiến.

Trong khi trận chiến khốc liệt diễn ra, thì chim ưng mang lệnh của Hưng-Đạo vương tới:

Mặt trận bên sông, Thủy-quân thắng lớn. Trận Bình-lệ-nguyên chỉ với mục đích dụ cho địch tiến sâu, tiến mau vào đồng bằng. Địch có 20 vạn, ta chỉ có hơn vạn. Không nên kéo dài. Hãy rút ngay. Đó là kế an toàn.

Lê Tần bỏ lệnh vào túi, rồi cầm cờ ban lệnh lui binh.

Về phía trận đấu võ, vẫn dằng dai. Hơn khắc trôi qua, A Truật quát lên một tiếng, y phát chiêu trong bộ trấn sơn chưởng của phái Hoa-sơn. Nguyên-Phong hoàng đế bị đánh bật tung về sau, lảo đảo muốn ngã. Quyết không tha, A Truật dáng xuống một chiêu nữa. Y quát lớn:

– Chết này!

Trong khi tuyệt vọng, nhà vua phát bừa một chiêu, đỡ chưởng của A Truật. Hai chưởng gặp nhau, A Truật bị bật tung về sau, kình lực bị mất hết. Y kinh hoàng đến đờ người ra.

Vốn là bậc trí tuệ siêu phàm, Nguyên-Phong hoàng đế nhận ngay ra rằng, sở dĩ A Truật thất bại, vì y dùng võ công trong Vô-trung kinh. Còn ngài vô tình xuất chiêu trong bộ Lôi-giáng Hoa-nhạc, mà tổ tiên ngài đã mất biết bao tâm huyết sáng tạo ra chỉ để khắc chế võ công trong Vô-trung kinh. Ngài đánh liền hai chưởng nữa, A Truật bị bật tung lên cao, rồi rơi xuống.

Đứng lược trận, Ngột-lương Hợp-thai thấy con mình lâm nguy. Y tung người lên, xả một đao vào  lưng ngài, để ngài phải thu chiêu về tự cứu. Thấy chiêu số hung ác của đao, nhà vua rút kiếm vòng ra sau đỡ. Choang một tiếng, kiếm của ngài vuột khỏi tay bay lên cao, ngài vòng tay bắt lấy kiếm… trong khi đao của Ngột-lương Hợp-thai cũng văng đi xa. A Truật thoát chết, nhấp nhô mấy cái, y rời khỏi trận chiến, tay đoạt một thanh đao, nhảy vào cùng cha, quyết bắt nhà vua.

Cũng đúng lúc đó, 3 đô thống Trần Biên, Nguyễn Thời, Nguyễn Tha bị trúng chưởng của Triệt Triệt Đô bay tung lại sau. Y không cần truy kích đối thủ, mà quay lại, rút kiếm tấn công nhà vua. Bị ba đại cao thủ bao vây, nhà vua tung mình nhảy vào giữa trận của Ngưu-binh. Dã-Tượng, Hĩm Còi hú lên một tiếng dài, đàn trâu lăn xả ra cứu chúa. Nhưng cả ba cao thủ cùng vọt người theo ngài, chúng nhảy từ lưng trâu này sang lưng trâu khác, tay xả vũ khí, quyết giết nhà vua.

Trong khoảnh khắc nguy hiểm, tính mệnh như treo trên sợi tóc, Nguyên-Phong hoàng đế vẫn bình tĩnh múa kiếm chống trả. Song chỉ được ba chiêu, kiếm của ngài bị đánh văng lên không. Ngột-lương Hợp-thai xả một đao vào hông trái ngài, Triệt Triệt Đô thích đao vào ngực ngài, trong khi đó A Truật quay kiếm đâm vào lưng ngài. Ngài than thầm:

– Phen này, ta ắt không còn đất sống rồi.

Giữa lúc đó, thấp thoáng bóng nâu, ba người từ trận Ngưu-binh xẹt tới, rồi choang, choang, choang. Vũ khí của bọn Ngột-lương Hợp-thai rơi xuống đất. Nhà vua nhìn lại: Cả ba dùng tay trái đang ôm cườm tay phải, máu chảy đầm đìa. Ba bóng nâu là ba ni sư, mặt bịt kín. Cả ba chống kiếm nhìn bọn Ngột-lương Hợp-thai.

Trong ba sư thái, Nguyên-Phong hoàng đế thấy một vị, tuy mặt che vải, nhưng từ vai, tới lưng, cánh tay, rất quen thuộc rất thân ái. Mà nhất thời ngài không nhớ đã gặp Bồ-tát tại đâu?

Ngột-lương Hợp-thai hất hàm hỏi ba ni sư:

– Không biết ba sư thái đây xưng hô thế nào ? Tại sao lại đánh trộm anh em chúng tôi như vậy? Phải chăng đó là tác phong của danh gia?

Một ni sư trả lời bằng tiếng Mông-cổ, giọng đầm ấm:

– Bọn bần ni trực diện xuất chiêu, mà bảo là đánh trộm ư?

Bà chỉ vào nhà vua:

– Vậy ba vị vây đánh một người là tác phong của Thái-sư Mông-cổ chăng?

Hoài-Đô trả lời ngang:

– Đây là chiến trường, chứ không phải là đấu trường của võ lâm, mà bàn luật với lệ.

Ba ni sư thõng tay, đứng dàn hàng ngang trước Nguyên-Phong hoàng đế, cả ba không nói không rằng. Ngột-lương Hợp-thai chợt nhớ lại tin tức Tế-tác cung cấp. Y cười nhạt:

– Thì ra là Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm Vô-Ảnh, Vô-Sắc, Vô-Huyền đấy. Rất mong được chỉ giáo.

Nghe Ngột-lương Hợp-thai nói, trong tâm Nguyên-Phong hoàng đế rúng động:

– Thì ra… Thì ra… Hèn gì mình trông quen quá.

Dù trước trận, trong khi quân Việt, Mông chém giết nhau, dù tính mệnh như bị treo trên sợi tóc, Nguyên-Phong hoàng đế dán mắt vào Vô-Huyền bồ-tát, miệng ngài cảm thấy đăng đắng:

– Hỡi ơi! Người… Người lại lăn xả vào vòng muôn nghìn đao, tên cứu ta. Thì ra người không hận thù ta. Trong khi ta phụ người quá nhiều…

Vô-Ảnh bước ra:

– Bọn bần ni tránh chỗ hồng trần, lui vào chốn không môn, chẳng muốn ra chốn thế tục làm chi. Nhưng dù đi tu, bọn bần ni cũng không quên bổn phận mình là con dân Đại-Việt. Nay đại quân Mông-cổ muốn san bằng đất nước của bọn bần ni, nên bọn bần ni phải lăn vào thế tục.

Hoài-Đô vung đao chém vào quãng không ba chiêu:

– Xin được lĩnh giáo.

Vừa dứt lời, y xả một đao xé gió vào mặt Vô-Ảnh. Vô-Ảnh vẫn đứng im, khi đao sắp tới đỉnh đầu bà, chỉ thấy ánh thép lóe lên, rồi choang, đao của Hoài-Đô đã rơi xuống đất. Vô-Ảnh tra kiếm vào vỏ đến cạch một tiếng.

Hoài-Đô kinh hãi than:

– Phải chăng là Mê-linh kiếm pháp?

– Đúng vậy!

– Vừa rồi tiểu tướng chưa chuẩn bị, như vậy không kể.

Y nhặt kiếm, khòm khòm lưng đứng trung bình tấn, mắt mở to nhìn Vô-Ảnh. Vô-Ảnh hỏi:

– Tướng quân chuẩn bị xong chưa?

– Chờ!

Tay trái Vô-Ảnh bắt kiếm quyết, tay phải để tay vào đốc kiếm:

– Bần ni cắt bao đựng tên của tướng quân đây.

Ánh thép lóe lên, bà vòng kiếm một cái, bao đựng tên của Hoài-Đô bị rơi xuống đất. Lần này Hoài-Đô nhìn rất rõ Vô-Ảnh rút kiếm ra chiêu. Y định vung đao gạt, nhưng bà ra tay thần tốc quá. Y chưa kịp đỡ, thì bao đựng đao đã rơi xuống đất. Không nhân nhượng, Hoài-Đô lăn xả vào đánh liền mười chiêu thần tốc. Vô-Ảnh cũng rút kiếm trả đòn. Nhưng sau mười chiêu, kiếm y lại bị rơi xuống đất. Y cảm thấy cổ bị đau nhói, thì ra mũi kiếm của Vô-Ảnh đã chĩa vào huyệt Nhân-nghinh của y.

Lòng nguội như tro tàn, Hoài-Đô văng tục:

– Tổ bà nó, không phải sư thái giỏi hơn ta, mà tài trí tổ tiên ta không bằng tài trí tổ tiên sư thái. Sư thái giết ta đi cho rồi.

Trong khi sáu người đối thoại, thì Đỗ Thanh với bọn Thị-vệ hộ tống nhà vua chạy vào trong trận Ngưu-binh, rồi tiến ra phía bờ sông.

Ngột-lương Hợp-thai biết muôn ngàn lần bọn mình không phải là đối thủ của Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm. Y hô một tiếng, cả ba lùi vào trận Mông-cổ. Thấy nhà vua chưa tới bờ sông,  y vội ra lệnh cho một Thiên-phu Lôi-kỵ:

– Địa thế hẹp, người chia binh thành từng bách phu xung vào diệt đội trâu kia ngay.

Nhà vua đã tới gần bờ sông. Càng ra phía bờ sông, địa thế càng rậm rạp, đường đi lầy lội. Lôi-kỵ phải ngừng lại. Chúng dương cung bắn theo. Vô-Ảnh, Vô-Sắc, Vô-Huyền múa kiếm như  một làn thép bao phủ, gạt tên rơi xuống đất. Nhà vua, Lê Tần, Đỗ Thanh cùng đội Thị-vệ đã xuống thuyền. Tên bắn ra như sao sa. Lê Tần cầm Khiên-mây che cho nhà vua. Đỗ Thanh dương cung bắn một lúc ba mũi, 3 viên Bách-phu bị trúng tên, ngã lộn xuống ngựa. Khi thuyền ra khỏi tầm tên, thì Khiên-mây của Lê Tần bị tên ghim như lông nhím.

Ba ni sư nhấp nhô mấy cái, đã biến mất vào trong khu đồng cỏ rậm rạp. Nguyên-Phong hoàng đế thẫn thờ nhìn theo bóng Vô-Huyền.

Dã-Tượng, Hĩm Còi cầm tù và rúc lên, đội Ngưu-binh từ từ lùi về phía bờ ruộng, lao xuống khu đồng lầy, rồi thủng thẳng lùi về phía Nam. Khi Lôi-kỵ đuổi tới, buông tên, thì chúng đã ra khỏi tầm tên.

Giữa lúc đó quân báo:

– Cánh quân của A Tan giao chiến với Thủy-quân hoàn toàn bất lợi. Bọn Thủy-quân lên bộ, dàn ra tại một vùng lau sậy, bùn lầy. Lôi-kỵ chỉ di chuyển theo hàng một vào khu rừng cỏ, bị chúng phục binh bắn chết gần nghìn người ngựa. Thủy-quân đã xuống thuyền, xuôi giòng rồi.

Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh cho Triệt Triệt Đô, A Tan:

– Hai tướng quân mỗi người dẫn ba nghìn Lôi-kỵ tiến dọc bờ sông, đuổi theo quyết bắt cho được vua An-Nam.

Vì đường hẹp,  Lôi-kỵ di chuyển khó khăn. A Tan dẫn quân đi trước. Vừa tiến được mấy dặm, khi qua con đường, hai bên trồng toàn tre, thì có tiếng trống thúc vang lừng, rồi tên từ bên trong bắn ra ào ào. Lôi-kỵ, ngựa bị trúng tên ngã lổng chổng, chúng chỉ còn kịp nhìn thấy một bọn trẻ con đang len lỏi chạy giữa những khu vườn đầy cây cỏ do Dã-Tượng, Hĩm Còi chỉ huy. Kiểm điểm lại, ba Thiên-phu trưởng, mười Bách-phu trưởng bị trúng tên chết.

Triệt Triệt Đô nhổ những mũi tên trên ngực một Thiên-phu trưởng, quan sát: Tên xuyên thủng áo giáp. Đầu mũi tên bọc thép, mũi dẹp như hình một con dao. Như vậy người bắn phải có công lực rất cao. Y than:

– Bọn võ lâm Nam-man xen lẫn vào với bọn trẻ con, với mục đích bắn các cấp chỉ huy bậc trung của ta. Nguy hiểm thực. Dường như hành động này của chúng có mục đích đe dọa bọn Thiên-phu, Bách-phu, khiến chúng kinh sợ, không dám xung sát nữa.

Bọn Trịnh Đức, Trịnh Ngọc cố vấn:

– Võ lâm An-Nam vốn tự cao, tự đại. Vì vậy chúng thường khắc tên mũi tên. Tướng quân cứ nhìn chuôi mũi tên thì biết rõ thủ phạm.

Triệt Triệt Đô sai nhổ các mũi tên trên thân thể các tướng tử trận: Các mũi tên đều mang tên Đỗ Thanh, Trần Biên, Nguyễn Thời, Nguyễn Tha. Y chửi tục:

– Bọn hèn hạ.

Vì sợ bị phục kích, cuộc rượt đuổi rất chậm chạp. Mỗi khi qua một bụi cây, một khu rừng, từ quân tới tướng đều phải mở to mắt ra quan sát xem có phục binh bắn trộm không?

Qua giờ Thân, quân của Triệt Triệt Đô, A Tan phải ngừng lại, đóng giữa khu đất hoang. Sáu nghìn người, sáu nghìn ngựa, không kiếm đâu ra lương thực. Phải chờ đến chiều, lao binh mới vận lương tới. Hôm trước, ngựa ăn phải cỏ độc, là một kinh nghiệm đau thương. Nên bọn Triệt Triệt Đô truyền khóa mõm chúng lại.

Tình hình hoàn toàn yên tĩnh. Toàn quân chìm vào giấc ngủ.

Đúng lúc đó di giá Nguyên-Phong hoàng đế cùng chư tướng rút về tới chiến lũy Cụ-bản. Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích dẫn các Đô-thống Lê Phẩm, Phạm Long, Nguyễn Bích dàn quân ra đón. Vũ-kỵ thượng tướng quân Lê Tần thông báo mọi tin tức cho tướng sĩ Cụ-bản nghe.

Hoàng-đế ngợi khen chư tướng sĩ rồi thăng chức tước cho tướng sĩ có công. Ngài nói với Lê Tần:

– Trong trận vừa qua, nếu không có khanh liều mình cầm Khiên-mây che cho trẫm, thì trẫm còn đâu? Vậy trẫm ban cho khanh mỹ danh Phụ-Trần. Phụ là trợ giúp. Trần là họ của trẫm. Trẫm thăng khanh lên chức Tả Kim-ngô thượng tướng quân, hàm Thái-bảo, tước Thái-hà công.

Lê Tần tạ ơn. Từ đây tên ông là Lê Phụ-Trần.

Ngài lại thăng chức tước cho các tướng:

Vũ-vệ thượng tướng quân Đỗ Thanh được thăng An-cựu bá.

 Đô-thống Trần Biên được thăng lên Chinh-viễn thượng tướng quân tước Kim-nỗ bá.

Đô-thống Nguyễn Thời được thăng Trung-lược thượng tướng quân, Vị-thanh bá.

 Đô-thống Nguyễn Tha được thăng Dũng-lược thượng tướng quân Kim-long bá.

Ngoài ra, tướng sĩ tùy theo công trạng được thăng chức tước thứ bậc khác nhau. Khi ngài thăng chức tước cho đám thiếu niên dân dã chỉ huy trâu thì thì gặp trở ngại, vì tuổi còn nhỏ, lại không phải ở trong quân ngũ. Chúng cũng không biết giá trị của chức tước, nên ngài thăng gì chúng cũng lắc đầu không nhận.

Vũ-sơn hầu Tạ Quốc-Ninh đề nghị:

– Nếu vậy thì xin Hoàng-thượng ban thưởng cho xã của các cháu khỏi phải đóng thuế.

Cu Méo nhảy lên choi choi:

– Thưa quân hầu, xã cháu giầu lắm. Ai cũng muốn mang lương thực nộp cho triều đình nuôi quân. Chúng cháu không muốn…được thưởng như vậy.

– Vậy các cháu muốn được thưởng gì nào?

– Chúng cháu xin Hoàng-thượng cho chúng cháu ở lại đây đánh nhau, mà không phải rút về Thăng-long.

Nguyên-Phong hoàng đế khen ngợi:

– Các cháu đúng là con cháu thánh Gióng. Thôi được, trẫm để các cháu lại. Nhưng trong quân phải có cấp bậc để chỉ huy. Trẫm phong cho các cháu làm Đô-úy.

Bọn trẻ vui mừng tạ ơn. Chúng tạ ơn vì được ở lại đánh nhau, chứ chúng nào có thiết tha gì tới chức Đô-úy?

* Ghi chú của thuật giả: Tổ chức quân đội triều Trần như sau :
– Thấp nhất là Ngũ, gồm 5 người.
– Bốn Ngũ là một Lượng, gồm 20 người.
– Cứ bốn Lương là một Đô,gồm 80 người.
– Mười Đô là một Vệ tức 800 người.
– Ba Vệ thành một Quân hay Đạo, tức 2400 người.
– Bốn Quân thành một Hiệu, tức 9600 người.

Sau khi dặn dò tướng sĩ Cụ-bản, di giá nhà vua lại xuống thuyền, xuôi về Thăng-long ngay trong đêm.

Lại nói đại quân Triệt Triệt Đô đóng quân trên một bãi đất rộng. Bốn bên là rừng cỏ, đồng lầy. Toàn quân nhập vào giấc ngủ.

oOo

Ngày 12 tháng Chạp năm Đinh-Tỵ, nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7 đời vua Thái-tông nhà Trần (17-1-1258).

Vào giờ Tý. Tại nơi đồn trú của đại quân Mông-cổ.

Thình lình hàng nghìn, hàng vạn tiếng ngựa hý, tiếng trâu rống rung chuyển rừng hoang. Triệt Triệt Đô choàng thức giấc. Y hỏi thân binh:

– Cái gì vậy?

Nhưng tiếng ngựa hý, tiếng trâu rống, xen lẫn với tiếng vũ khí chạm nhau xoang xoảng vọng lai. Quân báo:

– Thưa tướng quân, có một đàn trâu, sừng buộc dao nhọn, do bọn trẻ con điều khiển, từ cánh đồng tràn vào khu buộc ngựa. Trâu húc, người chém, ngựa bị thương, chết không biết bao nhiêu mà kể. Bọn lao binh chăn ngựa không có vũ khí, nên bỏ chạy tán loạn. Còn Lôi-kỵ thì ở xa. Khi Lôi- kỵ tới, thì đàn trâu đã xuống ruộng, chạy về phương Tây mất rồi.

Triệt Triệt Đô chạy tới đương trường quan sát: Hơn ba trăm lao binh bị thương, bốn trăm ngựa bị giết chết, gần hai trăm bị thương nặng.

Lần này thì Triệt Triệt Đô không còn cáu giận được nữa. Y bắt đầu lo sợ:

– Với chiến thuật này, thì dần dà, ngựa sẽ bị giết hết. Bấy giờ Lôi-kỵ trở thành bộ binh, thì không phải là đối thủ của quân Việt nữa.

Nhưng từ đấy đến sáng, tình hình hoàn toàn yên tĩnh.

Khi bình minh chiếu ánh nắng cuối Đông xuống khu vực đóng quân của Mông-cổ, thì Thám-mã báo với Triệt Triệt Đô:

– Vua An-Nam chạy về tới Cụ-bản. Nhưng không biết y có còn ở đó hay đã chạy đi nơi khác rồi? Tại Cụ-bản quân Việt đóng thành đồn rất kiên cố, chặn mất đường đi. Đồn là một ngôi làng, nằm giữa cánh đồng lầy. Bốn bên có lũy tre bao bọc. Ngoài lũy tre còn có một con lạch rộng 2 trượng. Dưới lạch đầy chông, chà.

– Có biết tướng nào chỉ huy khu này không?

– Y là Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Phạm Cụ-Chích. Quân số của y không làm bao. Bộ binh có hiệu Tiên-yên do Đô-thống Lê Phẩm chỉ huy. Đạo Ngưu-binh do Đô-thống Phạm Long chỉ huy. Đạo Kỵ-binh do Đô-thống Nguyễn Bích chỉ huy. Bọn Ngưu-binh đánh ta trong đêm là do tên Phạm Long, với bọn Dã-Tượng, Hĩm Còi thực hiện.

Triệt Triệt Đô cau mặt hỏi:

– Ta có một thắc mắc về Kỵ-binh An-Nam. Chúng bố trí tại Bình-lệ-nguyên một Đạo do tên Nguyễn Thời chỉ huy. Khi giao chiến, ta thấy Kỵ-binh của chúng không thua gì Lôi-kỵ của ta. Thế mà chúng chỉ tham chiến lấy lệ. Bây giờ tại Cụ-bản chúng cũng bố trí một Đạo Kỵ-binh do tên Nguyễn Bích chỉ huy. Không biết kỳ này chúng có cho Kỵ-binh tham chiến hay không?

Tên Trịnh Ngọc bàn:

– Tiết-chế An-Nam là Hưng-Đạo vương, tài trí phi thường, việc Kỵ-binh ở Bình-lệ-nguyên đánh lấy lệ ắt có mưu gì đây.Tôi cho rằng Kỵ-binh của chúng chưa xuất trận, vì chưa gặp địa thế thuận lợi. Hoặc giả chúng có mưu đồ gì khác. Tướng quân phải cẩn thận.

– Ta cũng muốn Kỵ-binh của chúng giao chiến với Lôi-kỵ của ta, xem ai hơn ai.

Bỗng Triệt Triệt Đô lại nhảy dựng lên:

– Tại Bình-lệ-nguyên quân An-Nam có một Đạo Ngưu-binh do tên Nguyễn Tha chỉ huy. Bây giờ tại Cụ-bản cũng có một Đạo Ngưu-binh do tên Phạm Long chỉ huy. Thế tại sao khi mới nhập biên ta đã gặp bọn nhãi Dã-Tượng, Hĩm Còi. Tại Thảo-lâm chúng cũng xuất hiện. Trong trận Bình-lệ-nguyên cũng bọn chúng. Cho đến hôm qua, cũng vẫn chúng nó. Không chừng tại Cụ-bản cũng vẫn chúng nó…

Bọn Thám-mã trình bầy:

– Đó là lối tổ chức của quân An-Nam. Tất cả trâu, mục đồng đều được huấn luyện xung phong, hãm trận, tổ chức thành Ngũ, Lượng, Đô, Vệ. Ngày thường trâu vẫn làm việc như thường. Còn từ cấp Vệ, Đạo, Hiệu chỉ có cái khung, gồm các chức sắc tham mưu, tế tác, chuyển vận, tác chiến đào tạo tại trường huấn luyện ở Hoa-lư. Như tên Nguyễn Tha là Đô-thống chỉ huy Đạo. Khi tới Bình-lệ-nguyên, thì y tập hợp các Ngũ, Lượng, Đô xung quanh lại kết thành Vệ, Đô. Bọn Dã-Tượng, Hĩm Còi là tướng chỉ huy Đô lĩnh nhiệm vụ Tế-tác, nên mặt trận nào chúng cũng có mặt [Ghi chú: Như vậy Dã-Tượng, Hĩm-Còi  lĩnh nhiệm vụ tương đương với ngày nay là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn trinh sát].

Dường như Triệt Triệt Đô chưa hết kinh hoàng về Ngưu-binh. Y hỏi:

– Khi xung trận, ta thấy quanh Dã-Tượng, Hĩm Còi có khoảng vài chục đứa oắt con. Chúng cũng liều mạng, thông minh như hai đứa kia. Vậy chúng là ai?

– Chúng cùng có cấp bậc Đô-úy. Khi đến vùng nào cần tác chiến, mỗi đứa sẽ tập hợp 4 lượng lại, rồi xuất trận. Mười đứa con trai, thì năm đứa có tên Cu là Cu Chó, Cu Đen, Cu Rỗ, Cu Méo, Cu Lác. Cu Chó mới được vua An-Nam đặt cho cái tên Dã-Tượng. Năm đứa có tên Trâu là Trâu Đen, Trâu Xanh, Trâu Điên, Trâu Trắng, Trâu Mập. Trong mười đứa con gái, thì năm đứa có tên Hĩm là Hĩm Còi, Hĩm Cao, Hĩm Lùn, Hĩm Rỗ, Hĩm Hô. Năm đứa có tên Cái là Cái Lan, Cái Huệ, Cái Sen, Cái Hồng, Cái Tiên.

Triệt Triệt Đô nhớ lại cuộc chiến Bình-lệ-nguyên. Y thấy các tướng Đại-Việt hầu hết còn trẻ, mà tỏ ra có tài điều quân rất nhịp nhàng. Y hỏi:

– Bọn tướng súy này so với bọn Bình-lệ-nguyên ra sao?

– Hoàn toàn khác nhau. Bọn ở Bình-lệ-nguyên thì mưu trí tuyệt vời. Còn bọn này, mưu trí không làm bao, nhưng chúng là những tên can đảm bậc nhất. Dù ta mạnh đến đâu chúng cũng sẵn sàng thí mạng cùi, chứ không chịu rút lui. Đánh nhau với bọn này rất khó mà thắng. Bây giờ chúng biến một làng thành chiến lũy, thì trận chiến sẽ kinh khủng lắm.

– Được! Đến những thành trì cao vòi vọi như Yên-kinh, như Tây-vực, ta còn phá được thì xá gì mấy cái lũy này? Ta có cách!

Quân sĩ rầm rập lên đường. Đầu giờ Thìn thì chiến lũy Cụ-bản hiện ra. Nhìn từ xa, chiến lũy không có vẻ là một vị trí quân sự, mà là một ngôi làng trong thời kỳ thanh bình. Trên trời chim bay lượn, dưới ruộng, những con cò trắng phau đang lò dò kiếm mồi. Dân chúng nhấp nhô trên những thửa ruộng. Kẻ đánh kỳ, người tát nước, làm cỏ. Lại cũng có những cô thôn nữ đang bắt cua. Một vài đứa mục đồng cỡi trâu, đang tấu những khúc nhạc dịu dàng, êm ái.

Triệt Triệt Đô hỏi gã Trịnh Ngọc:

–  Như quân báo, thì ngôi làng này là chiến lũy Cụ-bản. Bên trong chắc có nhiều quân sĩ. Thế thì dân chúng phải biết quân ta đang tiến tới. Mà tại sao dân chúng lại bình thản như không biết gì thế kia?

– Tôi nghĩ tin tức Tế-tác của ta không đúng. Cũng may tên Phạm Cụ-Chích ngu dốt, chứ nếu y dùng ngôi làng này làm chiến lũy thì ta khó mà hạ được.

Y chỉ ngôi làng:

– Tướng quân hãy nhìn xem: Ngôi làng nằm trên một cánh đồng, dài hơn 6 dặm [3km]. Từ ngoài vào phải qua một khu đồng lầy, rồi tới một cái sách rộng hai trượng [4m], dưới sách đầy chông, chà. Sau sách, tới lũy tre cao vút; dầy đặc, đến con chó, con mèo cũng khó kiếm chỗ chui lọt vào trong. Làng chỉ có con đường độc đạo dẫn vào. Nếu tên Phạm Cụ-Chích đặt chướng ngại đầy con đường thì ta làm sao mà tiến vào được?

Đạo quân của A Tan cũng đã đến. Quân sĩ ùn lại trên một con đường dài. Triệt Triệt Đô bị trúng phục binh, bị lừa, bị bất ngờ quá nhiều rồi. Y cẩn thận hơn:

– Ta tạm ngừng quân, sai thám mã dò xem, rồi hãy tiến binh vào.

Y vẫy tay.

Một Thập-phu trưỡng dẫn mười Lôi-kỵ ruổi ngựa đi liền. Tới cổng làng, y ngừng lại quan sát: Trong làng, dân chúng thản nhiên đi lại.  Đám trẻ con nô đùa, chạy nhảy, như không biết gì đến đội quân giết người không gớm tay đang tiến đến. Viên Thập-phu trưởng dẫn quân trở về, báo cáo tình hình. Triệt Triệt Đô ban lệnh:

– Luật của Thành-cát Tư-hãn ban ra rằng: Nếu quân đi đến đâu mà người ở đó không chống lại, thì tuyệt đối không được cướp của, giết người. Còn nơi nào chống lại thì phải giết tuyệt. Làng này mở cửa cho ta đi, thì tuyệt đối không được phạm đến tài sản, tính mệnh của họ.

Một Bách-phu Lôi-kỵ lên đường trước. Đội quân vào cổng tiền, xuyên qua làng, dân chúng thản nhiên đứng hai bên đường xem, như xem một đám rước đi qua. Bách-phu ra khỏi cổng hậu yên tĩnh. Viên Bách-phu trưởng tiếp tục lên đường. Y sai hai Lôi-kỵ trở lại cổng tiền báo với Triệt Triệt Đô. Triệt Triệt Đô lại cho hai Bách-phu nữa lên đường. Bách-phu thứ nhì vừa vào trong cổng tiền, thì lập tức cổng làng đóng lại, rồi mấy con bùi nhùi khổng lồ lăn ra, chặn phía trong, làm Bách-phu thứ ba bỡ ngỡ dừng lại trước cổng. Tên từ trong cổng bắn ra vèo vèo. Người hét, ngựa hý trong không khí cực kỳ hỗn độn. Chỉ thoáng một cái, cả bách phu đều bị trúng tên. Người ngựa ngã nằm la liệt trên con đường nhỏ hẹp.

Trong làng trống thúc vang dội, dọc theo các lũy tre bao phủ, cờ xí kéo lên bay phất phới. Ngay cổng làng, lá soái kỳ có chữ:

Tả thiên ngưu vệ Thượng-tướng quân, Phạm Cụ-Chích“.

Biến cố xây ra đột ngột. Triệt Triệt Đô cho hai Bách-phu Lôi-kỵ tiến lên, nhưng con đường bị nghẽn. Chúng đành xuống ngựa, lôi xác chết của đồng đội, của chiến mã, mở đường. Trong khi tên trong cổng làng bắn ra rít lên vo vo, tầm sát hại đã xa, tốc độ cực nhanh.

Tên Trịnh Ngọc nhắc:

– Thưa tướng quân, chúng dùng Nỏ-thần.

Bấy giờ Triệt Triệt Đô mới nhớ lời Ngột-lương Hợp-thai đã dặn: Quân Việt có một loại vũ khí, do Cao-cảnh hầu Cao Nỗ chế ra từ thời An-Dương vương, mỗi loạt bắn ra từ mười tới nghìn mũi tên, tầm xa gấp hai sức bắn của người, xạ lực mạnh gấp ba, gấp bốn.

Y lệnh cho Lôi-kỵ lùi lại, bắt lao binh lên dọn xác chết người ngựa. Nhưng lao binh lên bao nhiêu, bị Nỏ-thần bắn ngã bấy nhiêu. Xác chết chồng chất lên nhau, máu chảy đỏ ngầu cả khu đồng ruộng mênh mông.

A Tan bàn:

– Ta đành phải dàn quân đánh theo lối cổ điển của người Hán, chiếm chiến lũy này. Lôi-kỵ không thể lội ruộng.

– Trời ơi! Hàng rào kiên cố thế kia, làm sao có thể đánh vào được.

– Nước chảy, đá mòn. Ta cho phá chướng ngại vật. Rồi dùng binh Đại-lý, lao binh dàn hàng vượt qua sách, chặt hàng rào, tiến vào trong.

Đến đó, cổng làng mở ra, mười chiếc xe, loại xe chở rơm rạ, do mười con trâu kéo, trên chở đầy xác chết cùng Lôi-kỵ bị thương từ từ đi ra. A Tan nhận ra chúng là Lôi-kỵ thuộc bách phu đầu tiên vượt qua làng. Một thương binh Lôi-kỵ báo:

– Bách-phu của tôi vượt qua làng, đi khoảng hai dặm thì gặp một làng khác. Chúng tôi ngừng lại cho ngựa uống nước thì bị một bọn nhóc con cầm tù và rúc, chỉ huy mấy trăm con trâu, sừng buộc dao xông vào tấn công. Cứ một trâu, lại xen vào hai ba nhóc, trai có, gái có. Chúng tôi trở tay không kịp , thành ra trong một khắc bị bắt, bị giết hết. Bọn nhóc đầu sỏ gồm hai chục đứa. Tôi nhớ được tên mấy đứa là Dã-Tượng, Cu Đen, Trâu Mập, Trâu Xanh, Hĩm Còi, Hĩm Hô, Cái Lan, Cái Hồng… Chúng làm mặt nhân đạo, sai thu nhặt xác chết, cho tôi mang về. Chúng đe rằng sẽ bắt tướng quân…

– Bắt ta làm gì?

– Bắt chui qua háng chúng.

Triệt Triệt Đô hét lên giận dữ.

A Tan kinh hãi:

– Thế còn Bách-phu thứ nhì?

Một thương binh Lôi-kỵ đáp :

– Chúng tôi vừa vào trong cổng tiền, thì bị vướng vào trận địa dây Vạn-thằng. Phân nửa chúng tôi bị ngã ngựa, rồi quân Việt, dân Việt đổ ra. Bọn dân rất hung hãn. Chúng gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con, ông già, bà lão. Chúng dùng khiên-mây che thân, dùng gậy tre, dùng dao cắt cỏ, dùng dao làm bếp, chém túi bụi. Lại có đứa dùng đao-quất, khi thì chém, khi thì nấp sau khiên-mây vung đao-quất tấn công. Tuy là dân, nhưng chúng được tổ chức thành đội ngũ, lui, tới rất nhịp nhàng. Chúng tôi chiến đấu trong tuyệt vọng, rồi bị bắt, bị giết hết.

Thấy trên mặt tên Lôi-kỵ còn hiện ra nét hoảng hốt. Triệt Triệt Đô quát:

– Chúng ta sơ ý mắc mưu bọn Man. Có gì mà người kinh hãi như vậy?

– Tôi không sợ bọn quân Man, mà sợ bọn dân Man. Nhất là mấy thằng già. Có đứa bị chúng tôi đâm lòi ruột ra, mà một tay nó ôm bụng, còn tay kia vẫn dùng gậy phang bọn tôi. Khi chúng tôi hàng, thì quân Man ngừng lại. Còn bọn nhóc con, dù chúng tôi dơ tay hàng, chúng vẫn chém, vẫn đập. Thực là bọn dân hung dữ chưa từng thấy.

A Tan, Triệt Triệt Đô uất khí lên cổ: Những Lôi-kỵ này xuất thân là con em vùng Thảo-nguyên. Từ sáu tuổi đã biết cỡi ngựa, bắn cung. Khi vào tuổi mười hai thì được nhập vào đội quân các Khả-hãn. Sau đó, những tên ưu tú, mới được thu dụng làm Lôi-kỵ, phải trải qua hơn một năm huấn luyện. Họ từng ruổi ngưạ xung sát khắp các nước phương Tây, khắp Liêu, Kim, Tống, Đại-lý… Thế mà bây giờ họ bị giết trong những trường hợp không đáng, bởi những kẻ thù không đáng giá một đồng xu… Hơn nữa toàn một bon nhà quê, bọn đàn bà, bọn con nít… Nếu cứ đà này, mỗi ngày tiêu hao vài trăm Lôi-kỵ, thì chỉ mấy tháng sau, đoàn quân này sẽ không còn nữa.

A Tan chửi:

– Tổ bà nó! Hồi đánh Tây-vực, đánh Kim, uy danh của Lôi-kỵ làm cho binh tướng, dân chúng giặc nghe đến là vỡ mật, nát gan. Chỉ cần một Lôi-kỵ thôi, y cỡi ngựa vào một làng, dân chúng răm rắp nghe lệnh. Y muốn ngủ với bất cứ người dàn bà nào, người con gái nào, thì chồng, cha, anh cũng chỉ biết đứng nhìn. Y muốn lôi người nào ra giết, thì giết tùy thích. Y muốn ăn uống gì, thì dân làng cúi đầu tuân phục, dâng hiến. Thế mà bây giờ, hàng trăm Lôi-kỵ, vào một làng nhỏ, từ đàn bà, cho đến con  nít dường như không sợ đã đành, mà chúng còn dám bầy trò ma, trò quỷ, giết hại.

A Tan, Triệt Triệt Đô gọi hai Vạn-phu trưởng Đại-lý:

– Địa thế này thì Lôi-kỵ không thể đánh được. Đành phải dùng bộ binh thôi. Vậy con đường ở giữa, ta dùng Lôi-kỵ tấn công. Còn hai bên, thì các người dẫn bản bộ quân mã đánh vào. Phải cẩn thận khi vượt qua cái mương. Dưới mương có rất nhiều chông.

Quân dàn ra thực mau. Một tiếng pháo lệnh nổ, hai vạn quân Đại-lý dàn hàng ngang, vừa reo hò, vừa lội ruộng, xông vào hàng rào chiến lũy. Khi còn cách con lạch hai chục trượng, quân sĩ dừng lại, tay cầm mộc che thân, rồi tiến tới.

Chỉ còn mười trượng.

Trong chiến lũy vẫn im lìm.

Quân bỏ mộc, lội xuống mương kéo chà, gỡ chông, dùng dao chặt hàng rào. Giữa lúc các đợt quân đang chới với ở dưới mương , ở hàng rào, thì một hồi tù và vang lên, tên từ trong bắn ra vèo vèo. Bị trúng tên, người người từ bờ hàng rào hò hét, bật lùi trở lại, chân dẵm phải chông.

Trong cùng lúc đó, trên con đường chính, Lôi-kỵ hét lên xông vào. Nhưng khi tới gần cổng lại bị thần nỏ bắn ngã chồng chất lên nhau.

Thấy quân chết nhiều quá, A Tan cầm cờ phất lên, tạm lui quân. Khốn nạn thay! Đám bộ binh Đại-lý, bộ binh gốc Trung-quốc, người chết, xác bị bỏ tại hàng rào, dưới mương, trên cánh đồng. Đám thương binh được cứu mang ra, người ướt sũng, vết thương gặp nước, máu tuôn ra càng nhiều.

(Còn tiếp – Hồi 47)

Share this post