Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 49 (Tiếp theo)

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 49 (Tiếp theo)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BỐN MƯƠI CHÍN
Thăng-long di hận

(Tiếp theo)

A Truật kiểm điểm lại: Hơn ba nghìn Lôi-kỵ bị giết. Y ra lệnh chỉnh đốn lại binh mã, để tiếp tục lên đường.

Ngột-lương Hợp-thai đã đến. Quan sát thế trận, nhìn xác quân Việt nằm trải dài trên cánh đồng, y lắc đầu:

– Quả thực ba hiệu binh này vừa thiện chiến, vừa can đảm. Quân Kim, quân Tống, quân Tây-vực bì thế nào được? Nhưng tướng chỉ huy là tên Nhật-Hiệu, y ngu như con bò, nên bị ta phá. Thôi, người hãy mang năm Thiên-phu Lôi-kỵ tiếp tục lên đường tiến về Thiên-trường.

Thừa thắng, dù mặt trời đã ngả bóng, A Truật thúc quân lên đường. Quân trẩy được mươi dặm, thì gặp một làng chặn ngang đường đi. Địa thế giống hệt Cụ-bản. Y kinh hãi hỏi bọn hướng đạo:

– Từ đây về Thiên-trường còn bao nhiêu chiến lũy như thế này nữa?

– Thưa có tất cả 41 cái.

A Truật tiến lên quan sát: Trong chiến lũy cờ xí bay phất phới. Lũy tre cao vút, dầy đặc, hào sâu, chông chà chơm chởm. Y ra lệnh cho Triệu An:

– Quân của Nhật Hiệu vừa bị phá. Nhân thế thắng như chẻ tre, người chỉ huy Thiên-phu cơ hữu, với năm Thiên-phu quân Đại-lý, một Thiên-phu tân lập, gốc người Hoa ở An-Nam thử tấn công xem sao?

Triệu An chia quân làm hai. Lôi-kỵ theo con đường chính tấn công vào cổng trước. Bộ binh dàn ra, lội ruộng tấn công dọc theo con lạch, lũy tre. Y dùng lại phương pháp đánh Cụ-bản.

Nhưng khi bộ binh vượt qua con lạch, dùng dao chặt lũy tre, thì một hồi tù và nổi lên, rồi các cổng phụ mở rộng. Mỗi cổng một đoàn trâu hàng năm lồng ra, rồi nhanh chóng đánh bọc phía sau.  Bọn tướng trâu cũng lại là bọn ở Bình-lệ nguyên, Cụ-bản, đó là năm Cu. Đám bộ binh kinh hãi, bỏ chặt rào, quay lại chống Ngưu-binh. Bấy giờ quân trong lũy tre mới phản công. Bị đánh ép phía sau, chặn đầu phía trước. Không đầy hai khắc đám bộ binh bị giết gần hết. Phần còn lại bỏ chạy tán loạn trên cánh đồng lúa.

Trên con đường chính đến cổng trước. Bọn võ sĩ, nấp sau các lá chắn xông vào. Khi còn cách cổng hơn dặm, thì  cổng mở rộng, Ngưu-binh tiến trước với Khiên-mây che thân. Lúc cuộc giao chiến bắt đầu, thì hai đội Ngưu-binh khác lội xuống ruộng đánh bọc hai bên.

Sau ba đợt tấn công, quân chết hơn nửa, mà chiến lũy vẫn vô sự. Triệu Anh truyền quân lưu lại, báo cáo với A Truật.

Kinh nghiệm trận Cụ-bản, Phù-lỗ, A Truật biết rằng muôn ngàn lần mình không thể nhổ được 41 chiến lũy, để tiến về Thiên-trường. Y báo với Ngột-lương Hợp-thai.

Chính lúc đó, tên Trịnh Ngọc, Trịnh Đức, cùng với bọn bang trưởng các bang Hoa-kiều đang họp với Ngột-lương Hợp-thai trong thành Thăng-long. Bọn chúng dò được nhiều tin tức, cung cấp cho Mông-cổ.

Bọn du thủ, du thực của anh em họ Trịnh báo động:

Trên đường từ Thăng-long về Thiên-trường, có 41 xã. Dân trong các xã này gốc do Nguyên-tổ Trần Lý của triều đình, khi còn là Thần-nông sứ đã quy dân lập lên, gần bẩy mươi năm. Xã được tổ chức rất quy củ, có hệ thống phòng vệ cực chu đáo. Gần đây dân chúng được tổ chức phương pháp phản tấn công của Mông-cổ. Họ có khả năng chiến đấu như những đạo quân thiện chiến. Hai hôm trước, Thái-bảo Lê Phụ-Trần dẫn ba hiệu binh Tiên-yên, Yên-bang, Yên-phụ, cùng bọn tướng Ngưu-binh ưu tú, năm Cu, năm Trâu, năm Hĩm về đây. Bộ binh, Ngưu-binh chia thành từng vệ, tản vào, cùng dân chúng trấn thủ. Không thể, không nên đánh về Thiên-trường.

Bọn các bang hội người Hoa báo:

Khi Hưng-Đạo vương thiết kế, đã chia cho mỗi đại tướng một vài hiệu binh trấn thủ vùng trách nhiệm. Các hiệu binh sẽ chia thành Vệ, tản vào xã cùng dân chống quân Thiên-triều. Thế nhưng Khâm-Thiên đại vương làm trái lệnh, dàn quân nghênh chiến. Ba hiệu binh tinh nhuệ bị phá tan. Vậy bây giờ, xin Thái-sư lập tức xua quân tiến về vùng quản nhiệm của Khâm-Thiên đại vương là Trường-yên, Sơn-Tây, Sơn-Nam, Hồng-châu, Đăng-châu. Những vùng này chỉ có dân binh, thì ta chiếm các làng xã dễ dàng.

Ngột-lương Hợp-thai phong cho những bang trưởng, hội trưởng người Hoa, hoặc bọn du thủ du thực Việt làm An-phủ sứ, Tuyên-vũ sứ, các phủ, huyện, trấn. Lệnh cho chúng tự tổ chức lấy đội quân, đi trấn nhậm vùng được phong. Nhưng khi chúng tới nhiệm sở, bị dân chúng đánh giết, chúng bỏ chạy tán loạn. Biết không thể dùng bọn người Hoa được, Ngột-lương Hợp-thai tổ chức mười đạo binh. Mỗi đạo bao gồm một Thiên-phu Lôi-kỵ, một Thiên-phu quân Trung-quốc hoặc quân Đại-lý, một đội binh người Hoa, đi trấn các vùng này. Thành công. Bọn chúng cử người vào các xã thuyết phục:

Nếu mở cửa hàng, sẽ được bảo đảm tính mệnh, tài sản. Bằng không, hãy coi gương Bình-lệ nguyên, Cụ-bản Phù-lỗ, Thăng-long.

Biện pháp độc địa có kết quả. Dân chúng hoang mang. Vùng nào có quân triều ẩn vào làng xã, thì còn giữ được. Nhiều xã vùng Sơn-tây, Sơn-nam, Hồng-châu, Đăng-châu, Trường-yên biết không giữ nổi, mở cổng làng, theo bọn ngụy quan.

Hệ thống phòng thủ chung bị rối loạn. Màng lưới liên lạc, di chuyển, thông tin của triều đình bị cắt đứt. Các cơ quan của triều đình ẩn trong những vùng trên, phải di chuyển, bỏ chạy sang các vùng khác!

Sau khi thất trận, Khâm-Thiên đại vương được võ sĩ hộ tống chạy thoát về Thiên-trường, ngồi run rẩy. Giữa lúc đó Nguyên-Phong hoàng đế cũng bị mất liên lạc với Hưng-Đạo vương. Toàn quốc rối loạn, đại thần, binh tướng kinh hoàng. Các thôn, xã đang rục rịch hàng giặc. Nhà vua hỏi Khâm-Thiên vương:

– Tình hình nguy như trứng chồng trên đá. Vương là Thái-úy, vương định chống giặc bằng kế sách gì?

Khâm-Thiên vương ngồi chết lặng trên thuyền một lúc rồi tâu:

–  Thăng-long trong tay giặc. Phủ, huyện hầu hết bị giặc chiếm rồi. Làng xã cũng hàng giặc. Thế nước đã tan. Bệ hạ hãy mau mau cùng cung quyến dùng thuyền sang Tống ẩn thân, may ra mới tìm được cái sống.

Miệng nói, tay vương cầm cái sào viết xuống nước chữ “Nhập Tống. Có nghĩa: Trốn sang Tống.

Bị ảnh hưởng lời tâu của Khâm-Thiên vương, khuyên nên bỏ nước, trốn sang Tống; Nguyên-Phong hoàng đế chưa biết phải ứng phó ra sao, thì Thái-bảo Lê Phụ-Trần tâu:

– Hiện Thái-sư Trần Thủ-Độ với Hưng-Đạo vương đang ở Đông-bộ đầu. Thần xin đem chiến thuyền bảo giá bệ hạ về hội kiến với các vị ấy, để biết rõ quân tình.

Di giá hoàng đế tới Đông-bộ đầu giữa lúc Thái-sư Trần Thủ-Độ, Hưng-Ninh vương, Hưng-Đạo vương, Nhân-Huệ vương đang hội nhau, nghị kế chống giặc. Thấy thần sắc nhà vua tái mét, đôi mắt lờ đờ, Hưng-Đạo vương hiểu những gì đã diễn ra ở Thiên-trường.

Nguyên-Phong hoàng-đế hỏi:

– Kinh thành thì giặc đã chiếm. Lỵ sở hầu hết các trấn, phủ, huyện, giặc đã đặt quan cai trị. Làng xã nhiều nơi đã theo giặc. Ba hiệu binh thiện chiến nhất của ta bị đánh tan. Dù quan, dù quân, dù đại thần, cũng đều kinh hoàng. Vậy chư khanh định sao?

Thái-sư Trần Thủ-Độ tỏ vẻ cương quyết:

– Gốc của sự việc là do Khâm-Thiên vương hành sự ngược lại quốc kế. Đúng ra, vương phân chia ba hiệu Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh thành từng Vệ, ẩn vào trang ấp thuộc Sơn-tây, Sơn-nam, Hồng-châu, Đăng-châu, Trường-yên, cùng dân chúng, dựa vào địa thế các xã chống giặc thì sao chúng chiếm nổi? Khắp các nước phương Tây cho chí Hạ, Kim, Liêu, Tống, chưa từng nước nào dàn bộ binh mà thắng nổi Lôi-kỵ. Vương dàn quân đánh với Lôi-kỵ, khiến ta mất ba hiệu binh, dĩ nhiên mất luôn 5 huyện trấn nhậm của ba hiệu binh, đó là lẽ thường.

Nhà vua vẫn run run:

– Bọn Mông-cổ tàn sát dân Thăng-long, thành ra các xã lo sợ, không dám chống chúng nữa nên mới quy hàng! Nếu các xã hàng giặc hết, thì nước còn gì?

– Bệ hạ bình tĩnh lại. Những xã quy hàng giặc vì họ không có quân triều đình trợ chiến. Biết Mông-cổ không ai bằng thần. Đánh Ngột-lương Hợp-thai cũng không ai hơn thần. Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo.

 

* Ghi chú của thuật giả: Xét chung cuộc đời Trần Thủ-Độ: Chỉ vì ông sinh ra, lớn lên trong vùng Thảo-nguyên, chịu ảnh hưởng phong tục tập quán của Mông-cổ. Nên khi về Đại-Việt, ông không khép mình trong vòng lễ giáo khắt khe của Nho-gia. Làm ma, làm quỷ, ăn cắp, ăn cướp, thông dâm với vợ người… Vì vậy đương thời, cũng như sau này, ông bị công kích về những hành vi phóng túng. Thế nhưng, xét về phương diện quốc gia, dân tộc, ông là một đại anh hùng. Phải trở lại với thời gian cuối triều Lý, phong hóa suy đồi, dân chúng đói khổ, giặc cướp nổi lên… kỷ cương không còn. Vua Trần Thái-tông khi lên ngôi mới có 8 tuổi. Một mình ông lèo lái đất nước, trong xây dựng triều đình mới, ngoài dẹp giặc. Chỉ sau một thời gian ngắn, mà Đại-Việt trở thành hùng cường, thắng đội quân hùng mạnh nhất thế giới. Công ông thực không nhỏ. Tiếc thay, người đời nay, hành vi còn phóng đãng hơn ông nhiều, thế nhưng vẫn kết tội ông. Bằng chứng, trong những thành phố lớn tại miền Nam trước 1975, không thấy có tên phố Trần Thủ-Độ, cũng không có trại binh, trường học mang tên ông.

Hầu hết các tướng đời Trần, có huân công với xã tắc đều được lập đền thờ, mà Trần Thủ-Độ thì không. Ngay tại đền Bảo-lộc ở Mỹ-lộc Nam-định, tại đền thờ Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng ở thị xã Cẩm-phả, tỉnh Hạ-long, trong tạc tượng thờ tất cả các vua Trần, công thần đời Trần, mà cũng không thờ Trần Thủ-Độ. Xấu hổ thay, ngay bên sông Bạch-đằng ngưới ta thờ tên giặc Nguyễn Linh Nhan! Và ở ngoại ô Hà-Nội người ta thờ tên giặc cướp nước Sầm Nghi Đống, đến nỗi nữ sĩ Hồ Xuân Hương phải than:

Ghé mắt trông lên thấy bảng treo,

Kìa đền thái thú đứng cheo neo.

Ví đây đổi phận làm trai được,

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

Trong cuộc sưu tầm, tôi chỉ thấy duy nhất tại xã  Hương-tảo, huyện Yên-dũng, tỉnh Hà Bắc thờ ông ở đình làng làm thần Thành-hoàng. [Tài liệu: Bắc-giang tỉnh thần tích].

 

Nghe Thái-sư Thủ-Độ nói lời cương quyết, Nguyên-Phong hoàng đế lấy lại được bình tĩnh.

Hưng-Đạo vương tâu :

– Giặc đã bỏ ý định tiến quân về Thiên-trường. Ngột-lương Hợp-thai sai quân chiếm mười lỵ sở, phong cho bọn Hoa-kiều, bọn đầu trâu mặt ngựa làm quan cai trị, bức các xã đầu hàng. Còn quân Mông-cổ thì chúng rút về Thăng-long. Y tưởng như vậy là yên. Y đâu biết các xã hàng giặc vì bất đắc dĩ mà thôi. Bây giờ y rút quân đi, các xã đâu có sợ bọn quan lại đầu trộm đuôi cướp nữa? Thần đã lệnh cho Thái-bảo Lê Phụ-Trần chia quân thành từng Đô, từng Vệ, len lỏi vào các xã vùng Trường-yên, Sơn-nam giúp dân chống giặc. Dân chúng dù muốn, dù không cũng phải trở về với triều đình. Còn 5 huyện thuộc vùng Hồng-châu, Đăng-châu, Sơn-Tây, thần cũng ra lệnh cho Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Dư làm tương tự.

– Nếu như Ngột-lương Hợp-thai lại sai quân tái chiếm các huyện thì sao?

– Tâu! Bây giờ các xã không bị chiến đấu đơn độc nữa. Mỗi xã đều có quân trợ chiến. Xã nào cũng thành Cụ-bản, Phù-lỗ cả.

Hai hôm sau, Khu-mật viện nhận được tấu chương của Thái-bảo Lê Phụ-Trần:

Xử dụng ba hiệu binh Yên-bang, Tiên-yên, Yên-phụ đã tái chiếm tất cả các xã năm huyện thuộc vùng Trường-yên, Sơn-Nam. Lại ra lệnh chém đầu bọn quan lại của Mông-cổ mới cử về. Các xã cũng đã củng cố lại hệ thống phòng thủ. Mỗi xã có một Đô quân triều lưu động cùng dân binh.

Ngay chiều hôm ấy, sứ giả của Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Dư gửi tấu chương về:

Tái chiếm 5 huyện thuộc vùng Sơn-Tây, Hồng-châu, Đăng-châu. Xử tử bọn quan của Mông-cổ sai về. Giết toàn gia những Đại-tư của những xã hàng giặc. Đã phân chia quân, ẩn vào các xã phòng giặc. A Truật phản ứng rất nhanh. Y sai một Thiên-phu Lôi-kỵ, một Thiên-phu quân Trung-quốc cùng một Thiên-phu gốc là Hoa-kiều tái chiếm lỵ sở Đăng-châu. Khi tấn công vào một xã, gặp phản ứng mạnh, bọn quân Trung-quốc, Hoa-kiều bị Ngưu-binh giết gần hết. Chúng đã rút lui về Thăng-long.

Hưng-Đạo vương tâu:

– Bây giờ là lúc ta phản công.

Nguyên-Phong hoàng đế vốn là một ông vua trí tuệ tuyệt vời. Chỉ vì sau khi rút khỏi Thăng-long, ngài có cảm tưởng như không còn cái uy quyền của một ông vua. Thứ đến, dân chúng Thăng-long bị tàn sát, gây cho ngài cái xúc động mãnh liệt. Tiếp theo, ba hiệu binh ưu tú nhất bị diệt, mất luôn mười huyện, rồi nhiều xã hàng giặc. Cuối cùng Thái-úy Khâm-Thiên vương lại khuyên ngài nên bỏ nước, trốn sang bên Tống… Nên ngài có đôi chút hoảng hốt. Cũng may, sau đó, có lời cương quyết của Thái-sư Trần Thủ-Độ, rồi thái độ bình tĩnh, tự tin của Hưng-Đạo vương. Ngài đã lấy lại được phong độ bình thường.

oOo

Ngày 20 tháng Chạp, năm Đinh Tỵ, nhằm niên hiệu Nguyên-Phong thứ bẩy đời vua Thái-tông nhà Trần (D.L. 25 tháng 1 năm 1258).

Nguyên-Phong hoàng đế ban chỉ triệu tập chư tướng về nhận lệnh. Các tướng tề tựu đầy đủ trên một soái thuyền của hạm đội Âu-Cơ.

Trấn-vũ thượng tướng quân, Khai-sơn hầu Chu Mạnh-Nhu, quản Khu-mật viện trình bầy tình hình:

Trước hết là tình  hình dân chúng. Sau vụ quân Mông-cổ tàn sát dân Thăng-long, dân chúng ngút lửa căm hờn, chỉ mong đến ngày triều đình ban chỉ phản công giết giặc trả thù nhà.

Dân chúng các xã vẫn làm ăn bình thường. Riêng hệ thống thương mại thì hoàn toàn bị tê liệt. Bọn Hoa-kiều sống lẻ tẻ ở các phủ, huyện, trấn, hoặc làng xã, rục rịch làm tai mắt cho Mông-cổ, bị dân chúng giết sạch.

Về tình hình quân Đại-Việt:

Sau trận đánh ở cánh đồng Văn, ba hiệu binh Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh bị tổn thất đến bẩy phần mười. Trong lúc này không thể bổ xung được. Hưng-Đạo vương đã ra lệnh rút về Thiên-trường từ từ bổ xung. Sau trận đánh Bình-lệ nguyên, hiệu binh Yên-bang tuy có thiệt hại nhưng không đáng kể, tinh thần lên rất cao. Hiệu-binh Tiên-yên trấn Cụ-bản coi như không thiệt hại gì. Binh, tướng cùng hăm hở chờ ngày đánh giặc. Riêng hiệu binh Yên-phu, sau khi thất thủ Phù-lỗ, bị thiệt hại một nửa, đã bổ xung. Vừa rồi trấn ở xã Quai-mễ, giao chiến với Mông-cổ, thắng một trận lớn. Hùng khí lại hưng thịnh như trước.

Ngoài ra, các hiệu binh khác đang chờ lệnh đánh giặc.

Đến đây, hầu ngừng lại, rồi cung cung, kính kính hướng các tôn sư võ học Đại-Việt. Chưởng-môn phái Tản-viên là Đặng Kiếm-Anh đứng dậy:

– Khi nghị kế, Hưng-Đạo vương có nhã ý trao cho các gia, các phái giữ nhiệm vụ ẩn vào dân chúng, đột nhập trại giặc để biết tin tức. Hầu hết chúng tôi bắt giết binh giặc, lấy y phục mặc vào, rồi khi thì nấp ngoài lều bọn chúa tướng, khi thì đột nhập lều trại, đọc trộm các văn kiện. Vì tôi lớn tuổi nhất, nên các tôn sư đã chỉ định tôi làm thủ lĩnh. Chúng tôi chia vùng hoạt động. Trước hết là Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm Vô-Sắc, Vô-Ảnh, Vô-Huyền phụ trách mặt trận từ biên giới tới Bình-lệ nguyên. Ba vị đã xuất trận cứu giá, đánh lùi bọn A Truật, Hoài Đô, An Tan, Triệt Triệt Đô. Sau đó các ngài với chư đệ tử phái Mê-linh vẫn theo dõi tình hình địch tại vùng này. Xin để Vô-Sắc sư thái trình bầy.

Vô-Sắc sư thái đứng dậy chào cử tọa:

– Tình hình giặc tại vùng biên giới không có gì đặc biệt. Vũ-Uy vương ém ba hiệu binh Tiền, Tả, Hữu thánh dực tản vào các xã. Hiệu Tiền Thánh-dực do Trấn-biên tướng quân Trần Quới, cùng An-phủ sứ Quy-hóa Hà Khuất chia quân sống với dân. Hiệu Tả Thánh-dực do Phì-đức tướng quân Bùi Hoán ém quân dọc đường từ Quy-hóa đến Thảo-lâm. Còn Văn-mẫn tướng quân Hoàng Vui thì trấn ở ngã ba sông Bạch-hạc. Ba tướng này rất kỷ luật, trị quân cực nghiêm. Dù giặc thế nào cũng không đánh chúng. Thành ra giặc cho rằng ta không có quân tại vùng này. Mông-cổ để lại một Thiên-phu Lôi-kỵ, hằng ngày rong ruổi tuần tiễu từ biên giới tới Bình-lệ nguyên, bảo vệ con đường tiếp tế lương thảo. Đôi khi chúng thử tấn công vào một xã, thì gặp sức chống trả mãnh liệt, nên chúng bỏ cuộc. Vì Vũ-Uy vương nghiêm lệnh không cho đánh chúng, nên chúng cũng không tấn công các xã. Khi có lệnh, bất cứ lúc nào vương cũng có thể khiêu khích cho chúng đánh vào một xã, để dùng địa thế, Ngưu-binh tiêu diệt chúng, chặn đường tiếp tế lương thảo, cũng như tuyệt đường rút quân. Trong trận này chúng tôi sẽ xuất hiện giết tên Thiên-phu trưởng, cùng tất cả Bách-phu trưởng, gây hỗn loạn hàng ngũ giặc.

Chu Mạnh-Nhu cung cung, kính kính hướng Tuyên-minh thái hoàng thái hậu:

– Thần lớn mật dám xin bệ hạ…

Tuyên-minh Thái-hoàng thái hậu cũng đứng dậy:

– Già này cùng Hưng-Nhân vương phi, Kiến-quốc vương phi phụ trách từ Bình-lệ nguyên tới Phù-lỗ. Trong trận Cụ-bản chúng tôi giết chết hai tướng Mông-cổ là Triệt Triệt Đô và A Tan. Hiện giặc có hai Thiên-phu Lôi-kỵ, ba Thiên-phu Trung-quốc trấn thủ Cụ-bản, Phù-lỗ, ngày ngày tuần phòng bảo vệ đường tiếp tế lương thảo. Tất cả lương thảo của giặc đã chuyển từ biên giới về Cụ-bản. Vùng này, hiện nay ta không có bộ binh, mà chỉ có Kỵ-binh, Ngưu-binh. Tất cả do Vũ-kỵ thượng tướng quân Lý Tùng-Bách, Đại-đởm thượng tướng quân Nguyễn Thiên-Sanh trấn nhậm. Nếu như tăng viện cho hai viên tướng này một hay hai hiệu binh, họ có thể đánh chiếm kho lương Cụ-bản thì toàn quân Mông-cổ sẽ bị chết đói.

Hưng-Đạo vương hỏi Nhân-Huệ vương Trần Khánh-Dư:

– Vương hiện có ba hiệu binh Trung Thánh-dực, Thần-sách, Củng-thần. Vương có thể tăng viện một hiệu binh trấn nhậm, yểm trợ cho 41 xã từ Nam Thăng-long đến Thiên-trường không?

– Được! Nhưng…

– Nhưng gì?!?

– Nay Thăng-long đã vào tay giặc rồi, dân chúng hoang mang. Tất cả 41 xã này, trước đây do Nguyên-tổ (Trần Lý) quy dân tạo ra; vì vậy có hệ thống tổ chức cực kỳ tinh vi. Tuy nhiên nếu tôi chỉ viện cho họ có một hiệu binh, thì phải trải rất rộng. Lỡ ra, giặc dồn toàn lực, cố đánh về Thiên-trường, tàn phá lăng tẩm, thì tôi không thể giữ nổi.

– Trường hợp này, vương có thể cầm cự được bao nhiêu lâu?

– Khoảng ba tháng.

– Tôi chỉ cần một tháng cũng đủ rồi. Vậy Thái-bảo Lê Phụ-Trần, dùng thủy quân chở ba hiệu binh Tiên-yên, Yên-bang, Yên-phụ về Tây-kết, chờ lệnh.

Lê Phụ-Trần nhận lệnh.

Chu Mạnh-Nhu hướng đại hiệp Lê Ngân-Sơn, chưởng môn phái Sài-sơn. Lê Ngân-Sơn đứng dậy:

– Trong quốc kế, Hưng-Đạo vương trao cho bốn chúng tôi, gồm bào đệ Lê Kim-Sơn, đại sư Tiêu-Dao, Đại-sư Lung-Á phái Yên-tử, đại sư Y-Sơn phái Tiêu-sơn suất lĩnh đệ tử phụ trách vùng Thăng-long. Vì bọn Thát-đát giết hết dân chúng, nên chư đệ tử không có nơi ẩn thân thu nhặt tin tức. Cho nên đích thân chúng tôi phải hành sự. Sau đây là những tin quan trọng nhất.

Cử tọa im lặng nghe Lê Ngân-Sơn trình bầy:

– Về tướng sĩ, chúng mất hai đại tướng là A Tan, Triệt Triệt Đô. Trong 5 Vạn-phu trưởng thì một bị Vô-Huyền bồ tát giết ở Bình-lệ nguyên. Một bị chết trong lúc đánh Cụ-bản. Trong 50 Thiên-phu trưởng, bị chết, bị bắt mất 20. Trong 500 Bách-phu trưởng, bị giết, bị bắt 72. Lực-lượng Lôi-kỵ có 5 vạn, quân Đại-lý, quân Trung-quốc 5 vạn. Lao binh 10 vạn. Sau các trận đánh lẻ tẻ, Lôi-kỵ còn 4 vạn rưỡi, quân Đại-lý, Trung-quốc còn 4 vạn, Lao binh còn 8 vạn. Còn bọn du thủ, du thực Hoa-kiều, người Việt khoảng một vạn, nhưng ô hợp, không đáng kể. Tổng cộng chúng có 17 vạn. Hiện đại quân đóng dài trong vùng Thăng-long, Gia-lâm, Sơn-Tây.

Đến đây ông đưa mắt nhìn chưởng môn phái Tản-viên là Đặng Kiếm-Anh:

– Trong anh em chúng tôi, thì tôi với bào đệ giết được mấy Lao-binh, rồi lột y phục mặc vào, đột nhập khu vực của tên quan coi về lương thực, tiếp vận. Chúng tôi biết rất rõ tình hình lương thực. Bọn Mông-cổ không ăn cơm, cũng chẳng ăn rau. Chúng chỉ ăn thịt. Bọn binh Đại-lý, Trung-quốc, chúng ăn thịt, ăn cá, rau, đậu, cơm, bánh bao như chúng ta. Hốt Tất Liệt cũng như Ngột-lương Hợp-thai lấy kinh nghiệm những lần chinh tiễu Tây-vực, Kim, Liêu, Hạ, Tống, khi họ chiếm được một huyện lỵ, lập tức thiết lập hệ thống cai trị bù nhìn. Bọn bù nhìn có bổn phận bắt dân nộp lương thực. Vì vậy họ chỉ lo lương thực trong những ngày đi đường, ngày đầu tiên. Sau đó sẽ được cung đốn. Để chuẩn bị cuộc Nam chinh, họ chuẩn bị số lương thực cho 20 ngày. Vì họ nghĩ, sau 15 ngày, họ đã làm chủ đất nước ta rồi, thì lương thực dư thừa.

Thái-sư Trần Thủ-Độ tính nhẩm, rồi nói:

– Ngày đầu tiên chúng nhập biên là 5 tháng chạp. Hôm nay là ngày 20, như vậy lương thực của chúng hết rồi sao?

Đặng Kiếm-Anh khẳng định:

– Không! Vẫn còn khoảng ba ngày nữa. Trong các cuộc giao tranh lẻ tẻ từ hôm ấy đến giờ, số chiến mã chết đến mấy nghìn. Chúng không chôn ngựa, mà dùng xác chiến mã làm lương thực. Khi vào Thăng-long, nhờ bọn Hoa-kiều, bọn du thủ du thực, chúng cướp được khá nhiều gia súc, lúa, gạo. Nhưng bây giờ Thăng-long không còn dân, mà có còn dân cũng không còn lương thực cho chúng cướp. Ngay nguồn lương thực trong các cửa hàng Hoa-kiều đã cạn. Chúng muốn cướp, thì không biết biết cướp ở đâu ? Vì các xã đều đóng cửa chống giặc! Chúng muốn cướp thì phải đánh các xã. Mà các xã thì đều biến thành Cụ-bản, Phù-lỗ cả. Ngột-lương Hợp-thai đã xin tiếp viện từ Quảng-Tây, Đại-lý. Có lẽ đoàn tiếp tế sắp nhập biên.

Đến đây Đặng Kiếm-Anh ngừng lại, ông đưa mắt cho Tiêu-Dao đại sư. Đại-sư mỉm cười:

– Bần tăng cùng mấy đệ tử dò xét tình hình ở lều bọn quan quân y. Binh sĩ, chiến mã của họ hầu hết bị bệnh. Sau khi nhập biên ba ngày thì binh sĩ gốc Mông-cổ, cũng như chiến mã bắt đầu đau ốm. Đa số bị tiêu chảy, đau bụng, sốt rét, cảm mạo. Cơ chừng này chỉ mươi ngày nữa thì họ sẽ chết hết.

Thái-sư Trần Thủ-Độ chỉ Trần Tử-An và đám võ sĩ của ông:

– Quân Mông-cổ, cũng như chiến mã sống trong vùng Thảo-nguyên, quanh năm khí hậu lạnh cắt da, xé thịt. Những vùng này không có muỗi, ruồi, không có rầy, thiêu thân. Bây giờ vào Đại-Việt, người, ngựa bị muỗi đốt, thì sau ba ngày bị sốt rét ngã nước. Lại nữa, khí hậu của ta là khí hậu thấp nhiệt, độc khí bàng bạc khắp trời.

Ông chỉ vào Tử-An. Tử-An tiếp lời:

– Nước uống của mình quá độc. Cỏ càng độc hơn. Hơn trăm võ sĩ, chiến mã của tôi về đây đươc nửa tháng thì bị bệnh hết. Tôi nghĩ, tình thế này, ta phản công được rồi.

* Ghi chú của thuật giả:

Hồi niên thiếu, đọc sử Trung-quốc, sử Việt, mỗi khi nói đến quân Trung-quốc, Mông-cổ, Mãn-thanh đánh Đại-Việt, bị nhiễm bệnh, tôi không mấy quan tâm. Nhưng đến nay, sau gần  30 năm hành nghề thầy thuốc ở châu Âu, tôi mới thấy vấn đề này quan trọng. Các thân chủ của tôi, dù da trắng hay gốc là da vàng, khi họ du lịch Việt-Nam tôi đều bắt chích thuốc ngừa: Dịch-tả, Siêu vi gan A+B, Cúm, uống thuốc phòng sốt rét. Ấy vậy, mà đến một phần ba vẫn bị đau bụng, tiêu chảy. Còn những vị tự cho rằng ta có mình đồng, da sắt; bướng bỉnh, không chịu chủng, không chịu uống thuốc phòng ngừa, thì khỏi nói. Nào Tào Tháo đuổi chạy có cờ, sốt rét ngã nước, mang bệnh về Pháp, đi nằm nhà thương.

Hỏi với đội quân Mông-cổ, cũng từ vùng khí hậu lạnh như châu Âu, rồi tới Việt Nam, mà uống nước múc dưới sông, từ ao, hồ, giếng. Ăn rau đậu tưới bằng phân người, phân thú… Vi trùng nhung nhúc thì chịu sao thấu? Nhất là chứng sốt rét ngã nước!

Nguyên-Phong hoàng đế cùng chư tướng đưa mắt nhìn Hưng-Đạo vương. Vương cầm kiếm lệnh để lên trước án thư:

Bây giờ là lúc chúng ta đuổi giặc. Giặc có ba mối nguy. Một là quân, ngựa bị bệnh. Hai là tiến đánh các xã khó khăn. Ba là lương thực đã cạn. Vậy chúng ta phải làm gì?

Cử tọa có hơn trăm  người, mà không một tiếng động.

– Trước hết, tất cả các chúa tướng xung quanh vùng đóng quân của giặc phải giữ vững các xã, không cho giặc vào cướp lương thảo. Ngăn chặn bắt giết bọn Hoa-kiều vào các xã thu mua lương thực.

Chư tướng cùng đưa mắt nhìn Khâm-Thiên đại vương, vì vùng trấn nhậm của vương có nhiều xã tiếp cận với giặc nhất. Vương thẹn thùng cúi xuống không nói gì.

Hưng-Đạo vương nói bằng giọng cương quyết, ngắn và gọn:

– Ngay đêm nay, phải dồn toàn lực, cắt các nguồn lương thực của giặc. Dù nguy nan mấy cũng phải hoàn thành.  Dù tổn thất mấy cũng phải đạt được chiến thắng. Xin mời Vũ-Uy vương cùng chư tướng nhận lệnh!

Vũ-Uy vương Trần Nhật-Duy, Trấn-biên thượng tướng quân Trần Quới, Phì-đức thượng tướng quân Bùi Hoán, Văn-mẫn thượng tướng quân Hoàng Vui cùng đứng dậy.

– Các vị phải đánh tiêu diệt bọn quân Mông-cổ đang trấn nhậm từ biên giới tới Thảo-lâm. Dùng chướng ngại vật ngăn chặn không cho tiếp tế lương thảo từ Đại-lý sang. Nếu như đại quân Mông-cổ từ Vân-Nam nhập biên cứu viện, thì phải chặn cho bằng được.

Vũ-Uy vương tỏ ý lo ngại:

– Thưa Tiết-chế! Hồi giặc nhập biên, đệ được Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm đứng sau lưng, nên không sợ bọn cao thủ của Mông-cổ. Từ hồi đó đến giờ, các cao thủ của giặc ở đâu? Hành trạng thế nào, ta không rõ. Nếu như bây giờ trong trận đánh sinh tử này, cao thủ giặc xuất hiện, sát hại các tướng của ta, thì nguy tai. Vậy xin vương huynh viện cho mấy cao thủ.

– Vương yên tâm! Tôi đã dự trù việc này rồi.

Vũ-Uy vương vui vẻ:

– Xin tuân lệnh.

Hưng-Đạo vương lại hướng vào cử tọa:

– Mời Thái-bảo Lê Phụ-Trần cùng chư tướng nhận lệnh.

Thái-bảo Lê Phụ-Trần, Chinh-viễn thượng tướng quân Trần Biên, Trung-lược thượng tướng quân Nguyễn Thời, Dũng-lược thượng tướng quân Nguyễn Tha đứng dậy.

– Thái-bảo tái chiếm Bình-lệ-nguyên, ngã ba sông Bạch-hạc. Đề phòng trường hợp giặc từ Đại-lý tràn sang mạnh quá, Vũ-Uy vương không ngăn nổi. Thái-bảo phải ngăn không cho chúng tiến về Thăng-long. Về việc phòng cao thủ giặc, tôi đã có kế vạn toàn rồi.

– Xin tuân lệnh.

– Xin mời Đại-đởm thượng tướng quân cùng chư tướng nhận lệnh.

Nguyễn Thiên-Sanh cùng Vân-ma thượng tướng quân Lê Phẩm, Chinh-thảo thượng tướng quân Nguyễn Bích, Trấn Tây thượng tướng quân Phạm Long đứng dậy chờ đợi.

– Bằng mọi giá, bốn vị tướng quân phải chiếm kho lương Cụ-bản. Không cướp được thì cũng phải đốt sạch. Tướng quân có cần viện thêm quân không?

– Thưa vương gia, không. Tại Cụ-bản hiện giặc có ba Thiên-phu Lôi-kị, một Vạn-phu quân Trung-quốc, Đại-lý. Chúng thủ ở trong. Nếu như tiểu tướng muốn đánh vào, thì phải có 13 vạn quân. Quân số đó lấy đâu ra? Vì vậy chỉ có cách đánh cảm tử. Đánh cảm tử thì không cần quân số đông. Chỉ với Đại-đởm thập tam kiệt, đội võ sĩ của Đô-thống Trần Minh, 5 Vệ Ngưu-binh của bọn Cái Lan, Cái Huệ, Cái Hồng Cái Sen, Cái Tiên, thêm hiệu binh Tiên-yên cũng đủ.

Câu trả lời của Nguyễn Thiên-Sanh tuy ngắn ngủi nhưng cử tọa đều cảm thấy ớn lạnh, vì biết trận chiến sẽ diễn ra khủng khiếp vô cùng.

– Mời Vũ-kỵ thượng tướng quân nhận lệnh.

Lý Tùng-Bách cùng Phá-lỗ thượng tướng quân Trần Trữ, Hoài-hóa thượng tướng quân Trương Đình đứng dậy.

– Ba vị giữ nhiệm vụ sinh tử là: Tái chiếm Phù-lỗ chớp nhoáng, trấn tại đây. Giặc thiếu lương, bị đánh tại Thăng-long sẽ rút lui theo đường cũ về qua Phù-lỗ. Phù-lỗ bị chặn, bằng mọi giá chúng phải mở đường máu thoát thân. Tướng quân đợi cho chúng chạy qua, rồi đổ ra diệt cánh hậu quân của chúng. Dùng Kỵ-binh đuổi theo, không cho chúng nghỉ ngơi.

– Xin tuân lệnh.

Hưng-Đạo vương vẫy tay:

– Đêm nay, giờ Tý, tất cả cùng khởi công.

oOo

Đợi chư tướng lên đường rồi, Hưng-Đạo vương mới nói với các đại tôn sư võ học:

– Hiện trong quân Mông-cổ có khoảng trên nghìn võ sĩ.  Các võ sĩ này hầu hết là người Hán. Vì lý do này, lý do nọ, họ phải theo Mông-cổ. Từ lúc nhập Việt, Ngột-lương Hợp-thai mới chỉ dùng có ba trăm người dự trận Bình-lệ nguyên. Còn lại y ém rất kỹ. Ý đồ của y đã rõ: Y đợi trong trận đánh lớn mới tung ra, giống như Quách Quỳ đánh trận Như-nguyệt. Vậy không biết các vị nghĩ sao?

Vô-Sắc sư thái chỉ Tiêu-Dao đại sư:

– Vô-Huyền sư muội đã có kế giải quyết vụ này rồi. Bần ni xin để đại sư tâu lên hoàng thượng cùng vương gia.

Tiêu-Dao đại sư nói:

– Thưa vương gia! Bần tăng tuy vào chốn không môn, tứ đại giai không, nhưng bần tăng vẫn không quên được gốc là người Hán. Ngày một, ngày hai, trong trận lớn, Mông-cổ tung hết võ sĩ Hán, đánh với võ sĩ Đại-Việt, thì thiệt hại cả hai bên đều lớn vô cùng. Bần tăng trộm nghĩ, nếu như vương gia cho phép, thì bần tăng sẽ tìm cách nào đó để đưa đám võ sĩ Hán trở về với Tống, hoặc ít ra, họ bỏ Mông-cổ, không biết ý vương gia thế nào?

Hưng-Đạo vương khẩn khoản:

– Bạch đại sư. Mông-cổ xâm lấn Đại-Việt, chỉ với mục đích là đánh sau lưng Tống. Đại-Việt chống Mông-cổ vì mình cũng có, vì Tống cũng có. Các võ sĩ Hán đều là thần tử Tống triều, nếu không giúp Đại-Việt, thì cũng đứng ngoài cuộc chiến. Có đâu họ lại theo Mông-cổ? Nay nếu đại sư làm được công việc trên, thì thực là đại từ, đại bi. Nhưng thưa  đại sư, làm thế nào để được như vậy?

– Khải vương gia, Vô-Huyền bồ tát đã ban chỉ dụ cho bần tăng cùng Lĩnh-Nam tam đại thần kiếm, âm thầm đột nhập doanh trại Mông-cổ, gặp hai đại tôn sư võ lâm Trung-quốc là Phùng Tập và Tiêu-Hư tử, để nghị về việc này. Cuối cùng hai bên đã tìm ra được cách giải quyết.

Nói đến đây, đại sư tâu trình bằng âm thanh nhỏ như tơ, chỉ vừa lọt vào tai Nguyên-Phong hoàng đế và Hưng-Đạo vương. Cả ba vị cùng gật đầu, tỏ vẻ hân hoan vô cùng.

Đợi các tôn sư võ học đi rồi, Hưng-Đạo vương nói nhỏ với Thái-sư Trần Thủ-Độ. Không biết hai đại anh hùng của dân Việt nói với nhau những gì, mà khi thì hai vị tủm tỉm cười, khi thì hai vị gật đầu, tỏ ra thú vị.

(Hết Hồi 49)

Share this post