Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 49

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 49

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BỐN MƯƠI CHÍN
Thăng-long di hận

Ngột-lương Hợp-thai ra lệnh đánh vào Phù-lỗ.

Lôi-kỵ, dàn hàng, reo hò tiến lên. Trong chiến lũy im lìm, không một tiếng động, không một bóng người. Tới hàng rào, Lôi-kỵ bỏ ngựa, cầm đao chặt rào.

Một tiếng pháo lệnh nổ.

Lập tức dưới các hố cá nhân, trong hàng rào, quân Việt nhô đầu lên, dương cung bắn ra. Đao-quất vung lên, những trái cầu sắt đập xuống binh Mông-cổ. Bị bất ngờ, nhưng nhờ mặc áo giáp, một số ít bị thương. Không hổ là đội quân thiện chiến, thoáng một cái, quân Mông-cổ chia làm hai, cứ một người dùng tên bắn yểm trợ, cho một người chặt rào. Cuộc cận chiến diễn ra hơn giờ thì hai lớp rào đã bị phá. Quân Mông-cổ reo hò như sóng vỗ tràn vào trong chiến lũy. Nhưng trong chiến lũy, hầm hố chằng chịt. Chúng phải bỏ ngựa ngoài hàng rào, đánh nhau như bộ binh.

A Truật than với Hoài Đô:

– Bọn Việt quả thực biết lợi dụng địa lợi. Sợ hãi trước Lôi-kỵ, chúng bầy ra trận địa hầm hố, biến Lôi-kỵ thành bộ binh. Lôi-kỵ chỉ vô địch khi ngồi trên mình ngựa. Còn đánh dưới đất thì lại thua bộ binh xa.

Hoài Đô điều lên hai vạn bộ binh Đại-lý, Trung-quốc. Trong chiến lũy, quân Việt không quá một vạn. Nhưng nhờ có đội nữ võ sĩ với Thiệu Hoa, Ý Ninh trấn thủ, nên cuộc giao chiến dằng dai suốt ngày, chưa phân thắng bại. Trận giáp chiến cho đến lúc chập choạng tối, thì Mông-cổ đã lấn được nửa chiến lũy.

Biết rằng nếu tiếp tục đánh nữa, trong lúc trời tối, quân Việt quen địa thế, thì quân mình bất lợi. A Truật ra lệnh rút quân trở ra ngoài hàng rào, nghỉ qua đêm tại rừng trúc.

Trong khi đó, tại chiến lũy Phù-lỗ, Phú-lương hầu Trần Tử-Đức họp các tướng, kiểm điểm lại tình hình. Ông sai chim ưng báo cáo về với Hưng-Đạo vương:

Qua ba ngày giao chiến liên miên. Sau trận đánh với Lôi-kỵ, tuy thắng, nhưng cũng mất hơn trăm Kỵ-binh tử thương. Hiện còn 400 chiến mã có thể lâm chiến. Đạo Kỵ-binh, ẩn ở trong rừng tre, cách xa hơn mười dặm. Đô-thống Lý Tùng-Bách xin được đánh một trận nữa.

Về Ngưu-binh. Đô-thống Hĩm Còi cùng 3 Tá-lĩnh Cái vô sự. Hơn ba chục tướng trâu tử trận. Trong ba ngày, Ngưu-binh trải qua bốn cuộc giao tranh. Cuộc ra quân hỗn hợp với Kỵ-binh, thiệt hại năm chục trâu. Tá-lĩnh Cái Lan, Cái Hồng bị thương nặng nhưng vẫn xin ở lại chiến đấu. Hai cuộc đột kích đánh vào nơi đồn trú quân thì không thiệt hại làm bao. Duy cuộc tấn công vào kho lương Cụ-bản, thiệt hại trăm trâu. Hiện chỉ còn hai trăm trâu có thể lâm chiến. Đô-thống Hĩm Còi tùng quyền, ra lệnh lấy hai Vệ Ngưu-binh của Thảo-lâm bổ xung.

Còn lại bộ binh trong chiến lũy, sau ba ngày chiến đấu khủng khiếp, chỉ còn lại phân nửa quân số. Hai Đô-thống Trương Đình, Trần Trữ bị thương nặng, phải đưa về Kinh-Bắc điều trị. Phu nhân Bùi Thiệu Hoa, Quận-chúa Trần Ý Ninh bị thương nhẹ. Thần bị thương nặng, nhưng nhất quyết sống chết với Phù-lỗ.

Hơn giờ sau, chim ưng mang lệnh của Hưng-Đạo vương đến :

Nhiệm vụ cản giặc tại Phù-lỗ coi như hoàn tất. Đạo Kỵ-binh của Đô-thống Lý Tùng-Bách, đạo Ngưu-binh của Đô-thống Hĩm Còi tiếp tục ẩn trong rừng, sẽ được trao nhiệm vụ rất quan trọng. Còn bộ binh, không thể giữ Phù-lỗ được nữa, phải rút về Đông-bộ đầu, đặt thuộc quyền Khâm-Thiên đại vương, chờ bổ xung.

Trần Tử-Đức ra lệnh:

– Suốt ba ngày qua chúng ta chiến đấu quá mệt mỏi. Vậy chư tướng cho quân nghỉ ngơi. Sáng mai ta rút sớm.

Hôm sau, giờ Dần, Hầu ra lệnh cho thương binh rút trước. Rồi gọi phu nhân, Hầu nắm tay bà, nói bằng giọng cực kỳ đầm ấm:

– Quân của ta là bộ binh, di chuyển chậm chạp. Ta rút rồi, bọn Mông-cổ khám phá ra, tất chúng dùng Lôi-kỵ đuổi theo. Vậy con đường phía Nam cách Phù-lỗ 4 dặm, có cây cầu nhỏ tên cầu Bà Do. Phu nhân mang một Vệ quân chờ ở đấy. Khi quân ta rút qua cầu rồi, thì phá cầu, phục trong lũy tre. Đợi Lôi-kỵ tới, thì dùng cung bắn chết ít tên, sau đó len lỏi theo mấy khu vườn cây, rút ra cánh đồng phía trái mà về Thăng-long.

Hầu hôn phớt lên mái tóc phu nhân, rồi gọi Quận-chúa Ý Ninh. Hầu cũng nắm tay em, tay tát yêu lên hai má:

– Phía sau cầu Bà Do, hơn 5 dặm có con sông nhỏ chảy song song với đường cái quan. Bên này sông là khu vườn chuối. Tại đây có một gia đình chuyên nuôi ong. Họ nuôi tất cả năm tổ ong. Mỗi tổ là một cái bồ. Em chặt chuối, lập một ụ lớn chắn ngang đường. Trên đặt 5 cái tổ ong. Còn quân thì phục trong rừng cỏ hoang bên kia sông. Khi Lôi-kỵ đuổi tới, chúng phải ùn lại quan sát, rồi phá ụ. Ong sẽ bay ra đốt chúng. Bấy giờ em cho bắn cung, giết mấy tên. Sau đó chạy vào rừng, theo đường mòn về Thăng-long.

Cũng như đối với phu nhân, hầu hôn phớt lên mái tóc em gái.

Phu nhân hỏi:

– Thế còn anh? Bao giờ anh rút ?

– Anh ở lại, làm một khổ nhục kế, rồi rút sau.

Bùi Thiệu Hoa, Trần Ý Ninh thấy trong khi ra lệnh, Hầu tỏ cử chỉ quá thân thiết, quá nhu nhã trước tướng sĩ. Đôi măt của Hầu dường như có ẩn tàng một cái gì, mà trong nhất thời hai người không đoán ra.

Hầu ra lệnh cho tất cả quân sĩ còn lại:

–  Chư quân theo thứ tự rút ngay.

Hầu đứng chỉ huy từng Vệ một lui quân. Khi Vệ cuối cùng ra khỏi Phù-lỗ, Hầu bảo viên Vệ-úy Trần Minh chỉ huy đội võ sĩ cận vệ:

– Thôi các em lên đường thôi!

Trần Minh kinh ngạc:

– Sư huynh đi trước, bọn em theo sau.

– Không! Ta không rút! Vì ta bị thương quá nặng, nếu lết về tới Thăng-long, thì cũng chết. Vì vậy ta ở đây cản trở giặc được giờ nào hay giờ ấy!

Trần Minh cương quyết:

– Nếu anh không rút, thì em cũng không rút. Anh em mình sống chết có nhau.

Tử-Đức quát lên:

– Minh! Tuy ta với em tình nghĩa là huynh đệ. Nhưng ta là chúa tướng. Ta ra lệnh : Em phải rút ngay.

– Em xin lỗi anh! Em không tuân lệnh anh một lần trong đời thôi.

Biết không lay chuyển được ý chí của người em kết nghĩa, Hầu thở dài:

– Thôi đành!

Hầu gọi 12 vệ sĩ lại gần dặn dò chi tiết, rồi tất cả ngồi chờ. Hơn ba khắc sau, quân Mông-cổ dàn hàng reo hò tiến vào chiến lũy. Chúng ngạc nhiên vô cùng khi không thấy bóng một quân Việt. Vì bị trúng kế nhiều lần, Hoài Đô ra lệnh:

– Phải cẩn thận! Tiến từng bước một.

Hàng quân vừa tiến, vừa nhìn phải, nhìn trái, không bóng người, không một bóng thú. Hoài Đô cùng ba mươi sáu võ sĩ hộ vệ đã tiến đến trung ương chiến lũy. Một cảnh tượng lạ lùng bầy ra trước mắt: Trong căn nhà hình bát giác, Phú-lương hầu Trần Tử-Đức đang ngồi trước một bàn đầy thức ăn, với rượu. Hai bên, mỗi bên có 6 võ sĩ đứng hầu. Một võ sĩ trang phục Vệ-úy, trên mình không vũ khí, tiến tới trước mặt y cung tay nói mấy tiếng Việt. Y không hiểu, vội sai gọi thông dịch. Vết thương bị thiến của tên Trịnh Long đã khỏi. Y hách dịch hỏi:

– Tên Nam-man kia muốn gì?

– Tôi là Vệ-úy Trần Minh, được lệnh Phú-lương hầu ra tiếp đón chúa tướng Thiên-quốc.

Trịnh Long dịch lại. Y chỉ vào Hoài Đô:

– Vị này là Phò-mã, phó nguyên soái.

– Phú-lương hầu mời Phò-mã vào xơi rượu.

Hoài Đô là người sinh trưởng trên đất Trung-quốc, nên y nhiễm được cái tính phong nhã của văn nhân Hoa-hạ. Y nghĩ thầm:

– Dù tên Trần Tử-Đức làm trò ma, trò quỷ gì chăng nữa, y chỉ có 14 người, trong khi ta có hằng vạn quân. Ta há sợ sao?

Y vẫy tay cho Hòa Khâm vẫn tiến quân, còn y với đám võ sĩ tiến đến căn nhà bát giác. Phú-lương hầu đứng dậy chắp tay vái :

– Thỉnh Phò-mã an tọa. Tôi bị thương do đá của Phò-mã bắn phải, đi đứng khó khăn, không ra ngoài tiếp đón được. Mong Phò-mã khoan thứ.

Hầu rót một chung rượu uống trước, tỏ ra rượu không có thuốc độc; rồi rót rượu tay nâng ngang mày:

– Xin mời Phò-mã.

Hoài Đô cạn chung, tay cầm đùi gà nướng ăn. Tử-Đức nói:

– Lôi-tiễn, máy bắn đá của Phò-mã nã suốt đêm hôm kia, rồi hôm qua hùng binh tiến đánh. Quân trong chiến lũy chết ba phần, còn lại một phần, đêm qua chúng trốn hết rồi. Tôi bị thương nặng, có trốn, thì đi dọc đường vết thương vỡ ra cũng chết, nên tôi quyết định ở lại đón Phò-mã.

Đến đó Hòa Khâm trở lại báo:

– Trong chiến lũy không còn một người nào khác.

Hoài Đô tin tưởng vào lời Tử-Đức. Y hỏi:

– Thế bọn Kỵ-binh, Ngưu-binh, bọn Đại-đởm thập tam kiệt đâu rồi?

– Phò-mã hỏi làm gì? Sau mấy trận đánh, quân sĩ, ngựa, trâu chết gần hết. Bọn sống sót bỏ trốn hết rồi.

Nói đến đây mệt quá, ông phải dựa lưng vào cột nhà. Ông nói thều thào:

– Giữa Phò-mã với Đức này vốn không thù không oán. Chúng ta phải chém giết nhau là do mệnh vua. Nay tôi biết mình sắp chết, cố lấy tàn hơi, ở lại tiếp Phò-mã. Tôi xin Phò-mã ban cho một đặc ân.

– Quân hầu cứ nói.

Tử-Đức chỉ vào Trần Minh:

– Sau khi tôi chết, Phò-mã để chú em đây chôn tôi cạnh những nấm mồ tướng sĩ của tôi đã tử trận mấy ngày qua. Còn y với 12 võ sĩ, xin Phò-mã cho họ được quy hàng, làm hướng đạo cho Phò-mã.

– Được! Tôi hứa.

Đến đây Ngột-lương Hợp-thai cùng các tướng đã tới. Trịnh Long báo cáo tình hình. Bị trúng kế nhiều lần, Ngột-lương Hợp-thai tỏ ra nghi ngờ:

– Người tuy bị thương nặng nhưng đâu đã chết? Ta muốn người theo quân ta tiến về Thăng-long.

Tử-Đức gượng gạo đứng dậy, tay ông chỉ vào mạn sườn:

– Sườn của tôi bị gẫy, làm sao tôi theo Thái-sư được?

Nói rồi, nhanh như chớp, hầu rút thanh dao trủy thủ bên lưng, tự đâm vào ngực mình. Hoài Đô tuyệt không ngờ Hầu lại tự tử. Nên tuy võ công cao, y cũng không cản trở kịp.

Trần Minh cùng 12 võ sĩ lấy cái chăn của Hầu, bọc xác Hầu, rồi đem ra khu mộ tử sĩ, đào lỗ chôn. Lại lấy một thanh gỗ, viết lên:

Phú-lương hầu Trần Tử-Đức,
Sinh ư Kiến-trung đệ tứ niên,
Nhị thập tứ nhật, thất nguyệt, Ngọ thời.
Vị quốc vong thân Nguyên-Phong thất niên, vọng nhật, thập nhị nguyệt, Thìn thời.

(Sinh niên hiệu Kiến-trung thứ tư, ngày 24, tháng 7, giờ Ngọ. Chết vì nước vào niên hiệu Nguyên-Phong thứ 7, ngày rằm, tháng Chạp, giờ Thìn).

Ngột-lương Hợp-thai hỏi Trần Minh:

– Từ đây về Thăng-long còn chiến lũy nào không?

– Thưa Thái-sư không. Tuy vậy quãng đường từ đây tới Bắc-ngạn do Hưng-Ninh vương trấn nhậm, ẩn vào dân chúng. Phải cẩn thận lắm mới được.

– Hưng-Ninh vương là người thế nào?

– Vương là con trưởng của Yên-sinh vương Trần Liễu, là anh Hưng-Đạo vương. Cũng giống Hưng-Đạo vương, vương là người cực kỳ thông minh, học một biết mười, nhớ giai, giỏi biện thuyết. Vương khác Hưng-Đạo vương ở điểm, người rất uyên thâm Phật-pháp. Tính tình khoan nhân đại độ, thương người dưới như con, nên binh tướng dưới quyền người đều một lòng với chúa tướng.

– Dưới quyền y hiện có bao nhiêu quân?

– Dưới quyền vương hiện có ba hiệu binh Tứ-thiên, Tứ-thần, Tứ-thánh. Ba hiệu binh này giỏi xung trận, chứ không giỏi trấn thủ.

– Bây giờ ta ra lệnh cho người với 12 tên thuộc quyền làm hướng đạo, đi theo Phò-mã Hoài Đô.

Trần Minh gãi đầu:

– Đẳng trật của tôi là Vệ-úy, 12 chú em đây đều là Đô-úy. Vậy không biết bây giờ Thái-sư ban cho chúng tôi chức tước gì?

– Ừ nhỉ! Ta quên. Ta cho người hàm Thiên-phu, còn các võ sĩ này hàm Bách-phu. Thôi, các người lên đường.

Vì Thiên-phu của Sung Di, Vương Huy, Hòa Khâm, dự nhiều trận, tổn thất khá nhiều, tuy đã bổ xung, nhưng tinh thần binh sĩ dao động vì Sung Di bị giết, Vương Huy bị bắt. Hoài Đô truyền lấy ba Thiên-phu của bọn Tăng Phúc, Triệu An, Di Hòa thay thế tiến trước.

Trần Minh cùng 12 võ sĩ cỡi trâu đi trước. Phía sau là đội võ sĩ của Hoài Đô.  Đi khoảng năm dặm thì Trần Minh chỉ về phía trước :

– Sau lũy tre kia, có con sông nhỏ chảy ngang, rộng khoảng ba trượng. Trên sông có cây cầu đá, tên là cầu Bà Do. Coi chừng có phục binh.

Một Lôi-kỵ vọt ngựa lên quan sát rồi trở lại báo cáo:

– Cầu đã bị phá. Xung quanh không có dấu vết phục binh.

Hoài Đô truyền dừng quân lại. Đội Công-binh Trung-quốc được đưa lên bắc cầu. Binh sĩ đào đất, ném xuống lấp sông. Phải hơn giờ mới lấp xong.

Trần Minh đề nghị:

– Ngựa nhẹ hơn trâu. Để tôi cho trâu sang trước. Hễ trâu không bị lún chân thì ngựa qua được.

Trần Minh cùng 12 võ sĩ, tên Trịnh Long sang sông yên lành. Hoài Đô phất tay ra lệnh. Một Bách-phu Lôi-kỵ sang yên ổn. Bách-phu thứ nhì vừa đi đến giữa cầu, thì một tiếng tù và rúc lên. Tên từ trong bụi tre bắn ra rào rào. Bách-phu thứ nhì ngã lăn xuống sông. Người, ngựa chết, nằm la liệt trên hai bên mố cầu. Bùi Thiệu Hoa cùng đội nữ võ sĩ xuất hiện. Kiếm vung lên lấp lánh như sao sa. Mỗi ánh kiếm là một đầu Lôi-kỵ rơi xuống. Trong khi phía bên kia, Trần Minh cùng đám võ sĩ xua trâu xông vào Bách-phu thứ nhất. Đao-quất vung lên. Thoáng một cái, cả Bách-phu đã bị hạ hết. Tên Trịnh Long đang hoảng hốt, thì Bùi Thiệu Hoa túm cổ y điểm huyệt rồi cặp vào nách. Khi Thiên-phu Triệu An phản ứng, thì Thiệu Hoa, Trần Minh và đội nữ võ sĩ đã xua trâu chạy vào con đường mòn nằm giữa các lũy tre.

Tên trong lũy tre ngừng bắn ra. Triệu An ra lệnh cho Lôi-kỵ tiến lên lục soát, thì không một bóng người, không một bóng thú. Hoài Đô xấu hổ vì bị trúng kế. Y chửi:

– Tổ bà nó! Biết rằng bị thương nặng, trước sau gì cũng chết, tên Trần Tử-Đức muốn tự tử. Nghĩ rằng tự tử tối vô ích, xác bị phơi nắng phơi mưa, y bầy trò ma, trò quỷ. Kết quả, xác y được chôn cất chu đáo. Y để mưu kế sai con vợ xinh đẹp với bọn Trần Minh phục kích ta. Được! Sau khi  chiếm Thăng-long, ta sẽ cho quật mồ y, đem xác vứt xuống chuồng hôi cho dòi, bọ ăn thịt.

Xác tử sĩ Mông-cổ được chôn tại chỗ. Hoài Đô ra lệnh tiếp tục tiến quân. Lần này y không tiến trước nữa. Y để bọn Triệu An đi tiên phong. Đi được 5 dặm, thì Thập-phu đi đầu quay lại báo:

– Có một cái ụ bằng chuối chắn ngang đường. Trên ụ có năm cái bồ, hương bốc ra thơm ngát. Phía sau có bao nhiêu quân không rõ.

Hoài Đô ra lệnh:

– Đánh chiếm ụ.

Lôi-kỵ dương cung lao lên. Nhưng sau ụ không một bóng người. Triệu An ra lệnh phá ụ. Chùy vung lên, đao phạt ngang. Năm cái bồ bị chém làm hai, bị đập bẹp. Từ trong bồ hàng vạn, hàng triệu con ong bay ra. Thấy người phá tổ của chúng. Lòng hận thù ngùn ngụt, chúng nhào xuống đốt. Giữa lúc đó tên từ bên kia sông bắn sang ào ào. Lôi-kỵ ôm đầu lui trở lại. Bọn lao binh mách:

– Đốt lửa lên, thì ong phải chạy.

Chúng lấy cỏ, châm lửa đốt. Phải mất hơn một giờ bầy ong mới bay đi hết. Kiểm điểm lại, ong không làm chết người , nhưng hàng nghìn quân bị ong đốt, đau nhức rên la khốn khổ. Hơn trăm quân, ngựa bị trúng tên.

Hoài Đô chửi thề:

– Tụi Nam-man này thực kinh khủng. Cái gì chúng cũng có thể dùng vào chiến tranh được. Có 5 cái tổ ong, mà nó làm cho mấy nghìn người xính vính.

Hơn giờ sau, Triệu An được báo:

– Đã thấy sông Hồng trước mặt. Trên bến Bắc-ngạn, dân chúng xếp hàng hai bên đường, thắp hương đón quân Thiên-triều.

Hoài Đô sai người báo với Ngột-lương Hợp-thai. Y kinh ngạc hỏi gã Trịnh Ngọc:

– Có sự ấy được ư?

– Thưa Thái-sư tôi không tin. Vì bọn An-Nam kinh sợ Lôi-kỵ của Thiên-triều, từ hơn tháng nay, Trần Cảnh đã ra lệnh cho dân chúng phải rời khỏi Thăng-long. Còn triều đình, thì bỏ trốn hết. Dân chúng có gan bằng trời, cũng không dám ở lại. Vùng này thuộc quyền trấn nhậm của Trần Khánh-Dư, tước phong Nhân-Huệ vương hiện lĩnh Phiêu-kỵ thượng tướng quân, Tổng-trấn Thăng-long. Tôi nghi đây là quỷ kế của y.

– Trần Khánh-Dư à? Tại sao ta chưa từng nghe qua tên y?

– Y là cháu nội của Thiên-sứ Trần Thủ-Huy.

– Cháu nội Phò-mã Thiên-sứ Trần Thủ-Huy ư? Như vậy y là con của nhị ca Thủ-Độ sao? Lẽ nào?

Trịnh Ngọc giảng giải:

– Không hẳn thế. Thái-sư không nhớ việc Phò-mã Thiên-sứ Thủ-Huy tục huyền với  Vương Thúy-Thúy ư? Vương Thúy-Thúy sinh ra một trai tên Trần Thủ-Minh, một gái tên Trần Như-Lan. Khi tướng quân Thủ-Độ đi sứ An-Nam có dẫn hai người em về. Trần Thủ-Minh sau làm đại tướng, cầm quân đi dẹp giặc, bị tử thương, để lại một con còn thơ tên Trần Khánh-Dư. Thái-tổ nhà Trần là Trần Thừa nhận làm con, đem về nuôi trong cung. Cho nên Dư được phong vương.

– Tài năng y ra sao?

– Y được bà nội là Vương Thúy-Thúy dạy võ công Hoa-sơn, rồi lại được vợ Trần Lý là Tuyên-minh thái hoàng thái hậu trực tiếp truyền thụ, nên y là một trong những võ tướng có võ công cao nhất. Y rất thông minh, lầu thông binh pháp Trung-quốc, Đại-Việt, Mông-cổ. Tài trí y chỉ thua có Hưng-Đạo vương với Hưng-Ninh vương mà thôi. Phải đối đầu với y là một điều đáng ngại.

– Y có uy tín không?

– Không! Y thâm nhiễm phong tục vùng Thảo-nguyên của cha, vì vậy hành vi của y cực kỳ phóng túng, bị  người Việt kết tội.

Đến đây Triệu An trở lại báo:

– Dân chúng thắp hương, đem trâu, lợn đón ta là người Hoa-kiều. Người Hoa ở Đại-Việt cho rằng chiến tranh này là chiến tranh giữa người Việt với Mông-cổ, họ vô can. Họ lý luận rằng, trong quân của ta có nhiều võ tướng, có nhiều binh lính gốc Trung-quốc, thì chắc rằng họ không bị giết hại. Họ không theo dân Việt trốn đi, mà ở lại. Vì vậy họ mới đi đón.

Nghe báo, trong lòng Ngột-lương Hợp-thai mở ra một ý mới: Dùng người Hoa làm tai mắt chống người Việt. Y ban lệnh:

– Hãy dùng các Thập-phu, Bách-phu Thiên-phu trưởng gốc Trung-quốc phủ dụ chúng. Hứa bảo vệ tài sản, nhân mạng chúng. Tuyển lấy những đứa có tài làm tai mắt, chân tay, rồi lấy lợi nhử chúng, cho phép chúng tự do cướp của, bắt đàn ông làm tôi mọi, bắt đàn bà con gái làm tỳ thiếp. Cho giết người tùy thích.

Bọn tướng sĩ gốc người Hoa theo Mông-cổ, vốn là loại đầu trộm đuôi cướp, bị quan quân Tống triều truy lùng, chúng bỏ theo Mông-cổ. Trong suốt bao năm chinh chiến, đánh phá chính quê hương chúng, chém giết đồng bào chúng, cướp của người dân của chúng… đi đến đâu chúng cũng bị người Hoa khinh khiến, nhục mạ, gọi là Hán-gian, riết rồi chúng coi người Hoa như những kẻ thù không đội trời chung. Bây giờ tới Đại-Việt, chúng được người Hoa tiếp đón ân cần, quỳ lụy, coi chúng như những anh hùng hiệp sĩ, cứu khốn phò nguy… Tự nhiên chúng thấy mình là anh hùng. Chúng tập họp Hoa kiều lại, hứa hẹn những gì mà Ngột-lương Hợp-thai đã hứa.

Bọn người Hoa ra đón, được hứa hẹn, thì vui mừng chi siết kể, chúng dẫn bọn Hán-gian đi vào khắp các lạch, ngòi trưng thu thuyền bè. Không đầy nửa buổi, chúng đã kiếm được hàng nghìn thuyền lớn nhỏ, rồi thân chở quân Mông-cổ sang sông.

Chiều hôm đó, phân nửa quân Mông-cổ đã ở ngoài thành Thăng-long. Bọn người Hoa báo:

– Vua, quan An-Nam trốn hết rồi. Thành bỏ không.

Hoài Đô trì nghi:

– Chắc chúng mới trốn sáng nay. Chứ nếu chúng trốn hôm qua, thì trong thành đã có nạn cướp bóc khủng khiếp diễn ra. Trốn như vậy thì ắt có cơ mưu, chứ trốn vì sợ hãi thì chúng trốn từ lâu rồi.

Tuy vậy y vẫn truyền lệnh cho ba Thiên-phu trưởng Tăng Phúc, Triệu An, Di Hòa, chia nhau tiến quân vào Thăng-long. Nhờ có bọn Hoa-kiều dẫn đường, ba Thiên-phu nhanh chóng chia nhau trấn đóng các cung điện, Lục-bộ, Khu-mật viện, rồi sai người báo với Ngột-lương Hợp-thai. Ngột-lương Hợp-thai dẫn Hoài Đô, A Truật nhập thành.

Sau khi lục soát hết các cung điện, Triệu An báo cáo:

– Trong thành không một bóng người, không một bóng thú. Lương thảo, kho lẫm trống rỗng. Duy nhà ngục đông nghẹt tù nhân.

Hoài Đô ra lệnh:

– Thả tất cả tù ra, cấp vũ khí cho chúng, thu dụng chúng làm quân Tế-tác dẫn đường.

Lát sau, Triệu An trở lại báo:

– Tìm thấy ba Thiên-phu trưởng, được cử làm sứ thần, bị trói bằng lạt. Đã cắt lạt cứu ra, nhưng chỉ hai còn sống. Thiên-phu trưởng  Bật Triệt (Bourteck) bị chết cứng từ bao giờ.

Ngột-lương Hợp-thai nghiến răng:

– Thế này thì đừng ai trách ta tàn ác nhé.

Y chỉ tay lên trời:

– Đại quân chúng ta tiến đánh Tây-vực, bất cứ tới thành nào, là dù vua, dù tướng, dù dân đều răm rắp mở cửa thành, khom mình quy hàng, cung ứng lương thảo. Bất cứ nơi nào chống lại, thì sẽ giết tuyệt, dù già, dù trẻ, dù con đỏ cũng không tha. Từ hôm nhập biên đến giờ, chúng ta mải tiến quân, chưa có dịp ra oai. Bây giờ ta đã chiếm được kinh đô của An-Nam, ta phải giết hết dân Thăng-long, để các nơi khác lấy đó làm gương. Như vậy, khi ta tiến quân đến đâu, mới mong chúng quy hàng.

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló dạng, từ năm cửa thành Thăng-long, mỗi cửa thành có ba Thiên-phu Lôi-kỵ, năm Thiên-phu vừa lao binh, vừa binh Đại-lý tràn ra. Chúng dùng bọn tù nhân, bọn người Hoa chỉ đường, nhanh chóng lùa tất cả dân chúng vào năm khu. Trước hết chúng lựa những thợ mộc, thợ nề, thợ khắc, thợ rèn, thợ vàng bạc cho
đứng riêng ra. Lại lựa những nhạc công, ca nhi cho đứng riêng ra chỗ khác. Cuối cùng, chúng lựa đàn bà con gái đẹp, tuổi từ mười tới ba mươi, cho đứng riêng ra một chỗ khác nữa. Tên Thiên-phu Triệu An đứng lên tuyên án:

– Từ xưa đến giờ, Thiên-binh đi đến đâu, thì dù vua, dù quan, cũng phải mở cửa thành quy phục. Bất cứ nơi nào chống lại sẽ bị giết tuyệt, dù con chó, con mèo cũng không tha. Khi đại quân dàn ra biên giới, Thái-sư đã ba lần sai sứ sang chiêu hàng, vua các người không quy phục, còn đem quân chống trả, bắt giam sứ thần. Vì thế hôm nay, ta giết tất cả các người. Tuy vậy, bọn gái đẹp cần giữ lại làm đồ chơi cho quân sĩ; bọn ca nhi, nhạc công cần để sống để hầu hạ binh tướng. Bọn thợ giỏi cũng được tha để làm việc.

Tuyên án xong, hằng trăm Lôi-kỵ vung đao lăn vào đám dân chúng khốn cùng. Mỗi đao vung lên, một cái đầu rơi xuống. Tiếng kêu khóc vang lên đến trời, máu ngập kinh thành. Giết xong, chúng ném xác xuống sông. Con đầu thì chúng xếp thành từng đống, theo hình tháp, mỗi đống một nghìn đầu. Tất cả 200 đống.

Kinh nghiệm trong những lần tàn sát tại các nước Tây-vực, sau cuộc lùa bắt, thế nào cũng còn nhiều người lẩn trốn. Ngột-lương Hợp-thai cho rút quân vào thành, rồi hai giờ sau tung quân ra bao vây lục soát. Y lại bắt được hơn vạn người trốn tránh. Lần này y không giết, mà truyền đốt nhà, rồi quẳng vào đống lửa. Bọn Lôi-kỵ, bọn Hán-gian đứng nhìn cảnh kêu khóc tuyệt vọng, cảnh ném người vào biển lửa, lăn lộn, mà khoan khoái, reo hò như nhìn một cảnh diễn trò chơi. Thành Thăng-long cháy trong ba ngày chưa tắt ngọn lửa. Trong thành chỉ mấy phường của Hoa-kiều là còn nguyên.

oOo

Đúng lúc đó, các đạo quân từ Phù-lỗ rút về tới Đông-bộ đầu. Nguyên-Phong hoàng đế cùng Thái-tử, Hưng-Đạo vương, Hưng-Ninh vương thân dẫn các quan ra đón, ủy lạo thương binh, đem về Thiên-trường điều trị. Ngài truyền lập đàn tế vọng chư tướng sĩ tuẫn quốc, rồi ban sắc chỉ phong chức tước.

Nghe Trần Minh thuật lại về cái chết oanh liệt của chồng, sắc mặt Bùi Thiệu Hoa không hề thay đổi. Phu nhân bước tới hành lễ với Nguyên Phong hoàng đế, với Hưng Đạo vương. Lại quỳ trước linh vị chồng lạy bốn lạy, rồi rút kiếm đưa lên cổ tự tử.

Nguyên Phong hoàng đế thương tiếc vô cùng. Ngài truyền khâm liệm thi hài phu nhân, đem về Yên-bang an táng.

Phú-lương hầu Trần Tử-Đức được truy phong:
Dao-thụ thái phó,
Phụ-quốc thượng tướng quân,
Kinh-Bắc tiết độ sứ,
Quan sát sứ,
Xử trí xứ,
Minh tâm tĩnh lự công thần.
Nghĩa-hòa vương.

Sang triều Lê được cải phong là:

Bản cảnh thành hoàng, chiêu sinh hiến đức thượng đẳng đại vương.

Đến triều Nguyễn, được cải phong:
Linh-quang hộ quốc, bảo cảnh, hùng uy bệ hạ, anh linh đại vương, thượng đẳng thần.
Phu nhân được truy phong:
Hiếu-khang, Linh-anh, Trinh nhất công chúa.
Sang triều Nguyễn, phu nhân được cải phong là:
Hoàng-phi, Trí-tuệ, Bồ-quân, Anh linh công chúa.
Triều Trần truyền lập đền thờ Vương và công chúa, phối thờ vào Thái-miếu. Sau khi hết giặc lại cho cải táng thi hài của Vương, đem về Yên-sinh, chôn cạnh mộ phu nhân.

Các tướng được phong thưởng như sau :

Quận chúa Trần Ý Ninh được phong Hồng-đức, Trang-duệ, Vũ-thắng công chúa. Truyền gả cho Vũ-Uy vương.
Đô-thống Lý Tùng-Bách được phong Vũ-kỵ thượng tướng quân, tổng lĩnh Kỵ-binh, tước Kiến-phong bá.
Đô-thống Trần Trữ được thăng Phá-lỗ thượng tướng quân, Phù-lỗ bá.
Đô-thống Trương Đình được phong Hoài-hóa thượng tướng quân, tước Siêu-loại bá.
Đô-thống Nguyễn Thiên-Sanh được phong Đại-đởm thượng tướng quân, tước An-xuyên bá.
Tá-lĩnh Trần Minh được thăng Đô-thống, tước Vị-thanh tử.

Ngoài ra tất cả tướng sĩ đều được thăng một đẳng.

* Ghi chú của thuật giả:
Trong suốt năm kỳ hè, từ 1994 đến 1998, tôi lần mò đến hầu hết những vùng là chiến trường cũ thời Trần, nhưng không tìm thấy đền thờ Nghĩa-hòa vương.
May thay, trong gia phả của chi 1, giòng dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc, tại trấn Nhạc-dương, thị xã Trường-sa Trung-quốc có ghi vắn tắt:
Phú-lương hầu Trần Tử-Đức cùng vợ tuẫn quốc tại Phù-lỗ được phong Nghĩa-hòa vương. Đức là con Trần Hiến và Lê thị. Đền thờ lập gần Vạn-kiếp.
Tra trong Hải-dương tỉnh thần tích, tôi thấy chép: Làng Khê-khâu, huyện Chí-linh, tỉnh Hải-dương có đền thờ ba vị thần thành hoàng là:
Linh-quang hộ quốc Bảo-cảnh hùng uy bệ hạ, anh linh đại vương húy Trần Hiến-Đức.
Hoàng-phi, Trí tuệ, Bồ-quân, Anh-linh công chúa.
Không ghi tên họ, tôi biết đây là chức tước phong cho vương phi Bùi Thiệu Hoa.
Thiên-uy, Thái trưởng, Từ-lang, Anh-linh công chúa.
Không ghi tên họ. Nhưng tôi biết đây là chức tước phong cho Quận-chúa Trần Ý Ninh. Sẽ thuật ở hồi sau.
À, thì ra vẫn còn đền thờ Nghĩa-hòa vương, nhưng có đôi chút khác biệt. Phổ Chiêu-quốc vương chép là Trần Tử-Đức, còn Hải-dương tỉnh thần tích chép là Trần Hiến-Đức. Còn chức tước có hơi khác, vì chức tước này do triều Nguyễn cải phong.
Hè 1988, tôi tới tận nơi sưu khảo, có trao đổi ít câu với người giữ đền, thì nảy ra khá nhiều khác biệt. Phổ chép: Thân phụ ngài là Trần Hiến công, thân mẫu là Lê thị Đạt. Đời Trần Nhân-tông, ngài làm phó nguyên súy đại vương, có công chém Toa Đô, bắt Ô Mã Nhi. Những chi tiết này hoàn toàn sai với lịch sử, nên tôi gạt thẳng những gì cuốn phổ chép, mà ghi theo phổ Chiêu-quốc vương.

Mọi việc vừa hoàn tất, thì tin Tế-tác báo về cuộc thảm sát trong thành Thăng-long. Nguyên-Phong hoàng đế chắp tay hướng lên trời:

– Thảm thay! Ta đã nhiều lần sai lính vác loa đi gọi các người. Khuyên các người hãy tạm lui về quê. Các người không theo lời khuyên của ta, nên mới ra nông nỗi!

Sáng hôm sau, tin Tế-tác báo:

– Bọn Hoa-kiều xui Ngột-lương Hợp-thai tiến quân về Thiên-trường, tàn phá mồ mả, lăng tẩm của các tiên đế.

Tin này làm cả triều đình rúng động.

Phía Nam Thăng-long là vùng trấn nhậm của Khâm-Thiên đại vương. Hưng-Đạo vương vội sai sứ báo tin này cho vương, với lệnh như sau:

Từ Thăng-long về Thiên-trường chỉ có hai đường đi. Một là đường thủy, dễ đi. Nhưng Mông-cổ không có thủy quân. Ngược lại hạm đội Âu-Cơ đang phong tỏa Đông Thăng-long, chúng không thể dùng thuyền. Hạm đội Động-đình đang phong tỏa các cửa sông. Hạm đội Thần-phù đang phong tỏa sông ngòi vùng Thiên-trường. Hạm đội Bạch-đằng đang trấn vùng lãnh hải phía Bắc. Còn đường bộ, thì phải qua 41 xã. Hãy dùng ba hiệu binh trực thuộc Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh chia ra thành từng Vệ, ẩn vào các xã, chống giặc. Muốn đánh phá 41 xã, thì giặc phải mất ba đến bốn năm. Bấy giờ ta đã phản công rồi.

Tuy ra lệnh như vậy, nhưng Hưng-Đạo vương vẫn không yên tâm. Vương gọi Tả Kim-ngô thượng tướng quân Lê Phụ-Trần:

– Tôi sợ Khâm-Thiên đại vương không chịu chia quân ẩn vào các xã, lợi dụng địa thế xã chống giặc, mà dàn quân đại chiến. Dàn quân đánh với Mông-cổ là lấy sở đoản, chống sở trường, thì thất bại đã thấy trước rồi. Vậy phiền Thái-bảo dẫn 10 tướng Ngưu-binh gồm 5 Vệ-úy Cu, 5 Vệ-úy Trâu, cùng 3 hiệu binh Tiên-yên, Yên-bang, Yên-phụ… Xuống hạm đội Động-đình, theo đường thủy về trấn tại Thiên-trường, phòng khi Khâm-Thiên vương thất bại, còn cứu ứng kịp.

Thái-bảo Lê Phụ-Trần vâng lệnh lên đường ngay.

Quả như Hưng-Đạo vương ước tính. Khâm-Thiên đại vương Trần Nhật-Hiệu là chú ruột vương. Hơn chục năm nay, vương lĩnh chức Phụ-quốc Thái-úy, một chức coi toàn bộ binh mã Đại-Việt. Thế nhưng trong trận giặc này, biết vương không có tài, Nguyên-Phong hoàng đế phong Hưng-Đạo vương làm Tiết-chế. Chức Tiết-chế cũng như Nguyên-soái, lĩnh nhiệm vụ tư lệnh trong một trận đánh, một chiến dịch. Khâm-Thiên đại vương ấm ức rằng, đáng lẽ chức Thái-úy đã là Tiết-chế rồi, mà sao còn cử Hưng-Đạo vương vào làm gì? Vương cảm thấy bị nhục nhã. Từ mấy tháng nay, vương phải nhận lệnh Hưng-Đạo vương, mà trong lòng phiền muộn.

Bây giờ, một lần nữa Hưng-Đạo vương gửi lệnh cho vương. Vương tập họp tướng sĩ lại, rồi nói:

– Ngột-lương Hợp-thai sai con y là A Truật, mang  năm Thiên-phu đánh Thiên-trường. Trong khi ta có ba hiệu binh, tới ba vạn quân. Nghĩa là quân số của ta đông gấp sáu lần. Thế mà Hưng-Đạo vương không cho ta đánh, bắt ta xé nhỏ quân thành từng vệ thủ trong các lũy tre. Ta không thể chịu nhục như vậy. Ta quyết định dàn quân đánh một trận cho bọn Mông-cổ biết tài, cho Hưng-Đạo vương biết rằng ta không phải là một Thái-úy bù nhìn.

Lập tức vương dàn quân tại cánh đồng Văn, cách Thăng-long 60 dặm, nằm trên đường Thăng-long đi Thiên-trường. Hiệu binh Thiên-thuộc bên trái, hiệu binh Thiên-cương bên phải. Hiệu binh Chương-thánh phía sau. Mười hàng đầu là chiến xa, trên đặt Lôi-tiễn, Nỏ-thần. Mười hàng thứ nhì là quân xử dụng giáo dài. Mười hàng thứ ba là quân xử dụng đao. Phía sau là các chúa tướng cỡi ngựa, chỉ huy.

Quân dàn ra từ giờ Dần. Đến cuối giờ Mão, thì Lôi-kỵ Mông-cổ xuất hiện, từ xa rầm rộ tới. A Truật tiến lên quan sát trận địa rồi trở lại họp các Thiên-phu, Bách-phu trưởng:

–  Không biết tướng nào chỉ huy trận này?

Bọn Hoa-kiều đáp:

– Là Khâm-Thiên đại vương, y hiện lĩnh chức Phụ-quốc Thái-úy. Ba hiệu quân dàn ra kia có tên Thiên-thuộc, Thiên-cương, Chương-thánh. Đây là ba hiệu quân thiện chiến nhất của Đại-Việt.

A Truật bật cười:

– Lối dàn quân của y không khác gì bọn Kim, bọn Tống. Từ ngày sang An-Nam, đây là lần đầu tiên chúng ta được giao chiến, được trổ tài.

Y cầm cờ phất. Thiên-phu thứ nhất do Triệu An chỉ huy, chia làm hai. Năm Bách-phu dàn hàng hú lên rùng rợn, rồi lao tới như bay. Khi còn cách trận Việt trăm trượng, thì cùng dương cung bắn một loạt, rồi quay ngựa trở về. Quân Việt dùng Lôi-tiễn, Nỏ-thần bắn vào hàng ngũ Lôi-kỵ. Năm Bách-phu thứ nhì nối tiếp năm Bách-phu thứ nhất, cũng bắn một loạt tên, rồi quay ngựa chạy. Quân Việt cũng bắn trả.

Khâm-Thiên đại vương cầm cờ phất, chiến xa Đại-Việt, rời hàng ngũ, đuổi theo Lôi-kỵ. Thì vừa lúc ấy Thiên-phu của Di Hòa tới. Hai bên giáp chiến khoảng môt khắc, rồi Lôi-kỵ lại bỏ chạy. Quân Việt xua chiến xa đuổi theo. Nhưng Lôi-kỵ đã biến mất vào khu đồng cỏ. Khâm-Thiên vương phất cờ cho quân Việt ngừng lại. Vương nói với chư tướng:

– Từ trước đến giờ người ta cứ sợ bóng, sợ gió Lôi-kỵ như con ngáo ộp. Đó! Bây giờ mới có mấy đợt chúng đã bỏ chạy rồi.

Thình lình có hàng muôn ngàn tiếng hú, tiếng ngựa hý. Quân Mông-cổ trở lại, với năm hàng ngang. Chúng lao tới như bay, dương cung bắn. Quân Việt bắn trả. Nhưng lần này Lôi-kỵ không chạy, mà xung thẳng vào trận Việt. Sau một khắc giao tranh, chúng phá vỡ năm hàng đầu của chiến xa, rồi đánh tỏa ra hai bên. Lớp thứ nhì tiếp lớp thứ nhất, đánh thẳng về sau, cắt đứt năm hàng quân giáo dài của Đại-Việt. Quân hai bên lẫn lộn vào nhau kịch chiến.

Giữa lúc đó, hai Thiên-phu Lôi-kỵ thình lình xuất hiện, đánh vào hai bên hông. Tuy bị bất ngờ, nhưng quân Việt gan dạ chống trả. Cuộc hỗn chiến giữa năm nghìn Lôi-kỵ với ba hiệu binh thực khủng khiếp. Một bên là Kỵ-binh bách chiến bách thắng, gặp đồng bằng thả sức tung hoành. Một bên là ba hiệu binh tinh nhuệ, chết sống bảo vệ quê hương. Cuộc chiến kéo dài tới Ngọ vẫn chưa ngã ngũ. Lôi-kỵ chết quá hai nghìn. Trong khi bộ binh Đại-Việt chết hằng vạn.

Sang giờ Mùi, thình lình năm Thiên-phu Lôi-kỵ xuất hiện từ phía sau, đánh vào hậu quân Đại-Việt. Khâm-Thiên vương kinh hãi:

– Rõ ràng chúng chỉ có năm Thiên-phu, mà sao bây giờ lại có năm Thiên-phu khác nữa?

Chư tướng đáp:

– Từ đây về Thăng-long có 20 dặm. Chỉ cần một khắc sức ngựa, thì Ngột-lương Hợp-thai sẽ phái thêm năm Thiên-phu nữa tiếp viện. Không chừng còn mười Thiên-phu khác cũng sắp tới.

Lôi-tiễn, máy bắn đá Mông-cổ đã được xe kéo đến, đồng loạt nã vào trận Việt. Dù can đảm, dù thiện chiến, nhưng quân Việt bị sức mạnh Lôi-kỵ đánh từ ba phía, bị đá bắn lên đầu, dần dần tử thương gần hết.

Trận Việt bị vỡ.

Lôi-kỵ ép ba phía mỗi lúc càng chặt. Các võ sĩ nói với Khâm-Thiên vương:

– Một là xin vương gia tự tử. Hai là xin vương gia bỏ chạy. Đừng để giặc bắt.

Thấy Lôi-kỵ đã tiến sát tới chỗ mình đứng. Khâm-Thiên vương đành phất cờ cho quân lùi lại, còn vương thì theo đoàn võ sĩ bỏ chạy vào cánh đồng lầy lội bên cạnh.

Mông-cổ toàn thắng.

(Còn tiếp – Hồi 49)

Share this post