Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 32 (tiếp theo)

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 32 (tiếp theo)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BA MƯƠI HAI
Ai hay vĩnh quyết là ngày chia ly

(Tiếp theo)

Tin Đoan-Nghi dẫn Thủ-Độ về Đại-Việt truyền rất nhanh. Đám bạn của Thủ-Độ xin Thúy-Thúy cho chúng cùng đi săn với nhau trước khi xa cách.
Hôm ấy, đích thân Thành-cát Tư-hãn, dẫn Hoàng- hậu Bật Tê, bốn vương tử, ba vương đệ, các công chúa, phò mã cùng chư tướng dàn ba vạn người ngựa, tiễn công chúa hồi hương.
Chín phát Lôi-tiễn tiễn được bắn lên trời.
Đoàn hộ vệ công chúa từ Hoa-lâm đến biên giối Kim gồm hai Thiên-phu nữ, do Đoan-Thanh chỉ huy. Thành-cát Tư-hãn sai lấy da điêu, ngọc, vàng, sâm chất đầy hai xe, gọi là chút lễ tặng Đại-Việt hoàng đế. Ông cùng hoàng hậu Bật Tê, các em, các con, các tướng theo tiễn hơn trăm dặm mới trở về.
Bốn đứa trẻ Hốt Tất Liệt, Bạt Đô, Ngột-lương Hợp-thai, A-lý Hải-nha cỡi ngựa đi cạnh Thủ-Độ suốt lộ trình trăm dặm. Bây giờ phải chia tay, chúng bịn rịn không muốn quay về. Hốt Tất Liệt tặng Thủ-Độ một con dao, cán bằng vàng. Ngột-lương Hợp-thai tặng Thủ-Độ cái cung với mười mũi tên đầu bịt bạc. A-lý Hải-nha tặng Thủ-Độ cái túi bằng da điêu. Bạt Đô tặng Thủ-Độ cái khánh ngọc.
Thấy năm trẻ bịn rịn không nỡ rới nhau, Đoan-Nghi an ủi:
– Thủ-Độ chỉ về nước một thời gian, rồi lại sang. Các con sẽ lại gặp nhau.
Suốt dọc đường từ Hoa-lâm đến Vạn-lý trường thành, Thủ-Huy Đoan-Nghi không nói với nhau một lời. Cũng may Thủ-Độ luôn miệng hỏi cha hỏi mẹ về Đại-Việt, làm giảm cái không khí căng thẳng.
Đoàn người ngựa đi trong hơn hai mươi ngày thì tới Vạn-lý trường-thành. Tất cả ngừng lại qua đêm, để sáng hôm sau sẽ vượt cửa ải vào đất Trung-quốc. Sáng hôm sau, tất cả đoàn người tiễn đưa phải ngừng lại cách quan ải hai mươi dặm. Chỉ có Thủ-Huy, Đoan-Thanh, Thúy-Thúy đi theo đến tận quan ải.
Thủ-Hay nắm tay vợ:
– Nếu em là một cô gái nông thôn, thì chắc vợ chồng mình hạnh phúc lắm. Em thử nghĩ xem từ khi chúng mình thành vợ chồng, ngày đêm cần lao chính sự, ít có khi được hưởng lấy nửa ngày hạnh phúc. Rồi những biến cố xẩy ra liên miên. Chỉ từ ngày lên Mông-cổ chúng ta mới hoàn toàn sống cho nhau. Thời gian sáu năm qua thực thần tiên. Bây giờ em tin vào hai bức thư kia mà trở về nước. Anh cảm thấy có nhiều nguy nan đợi chờ, nên anh không muốn em về vội, chờ anh viết thư sai chim ưng mang về hỏi anh chị Lý, hỏi Tá-Chu, Trung-Từ đã. Nhưng em không nghe! Thôi anh đành chịu thua. Em ráng bảo trọng lấy thân.
Đoan-Nghi thở dài:
– Em sẽ dùng chim ưng liên lạc với anh thường trực. Em trở về, nếu mọi sự quả như thư nói em sẽ yều cầu triều đình sai sứ mang chỉ lên mời anh về. Còn nếu có gì gian dối, với kiếm trong tay, em sẽ làm cỏ bọn gian thần! Anh yên tâm.
Thủ-Huy dặn con:
– Bố đã dạy con căn bản nội công phái Đông-a. Về ngoại công con đã học được bộ Đông-a trường quyền, bộ Đông-a kiếm pháp. Bộ Đông-a chưởng pháp tuy bố đã dạy, nhưng con chưa đủ nội công luyện. Vậy khi về nước, ông nội sẽ dậy con. Nhớ siêng năng đừng để ông bà buồn.
Đoan-Nghi cùng Thủ-Độ và sứ đoàn vào trong quan ải. Thủ-Huy đứng nhìn cho đến khi họ khuất vào sau hai cánh cửa, công mới cùng Đoan-Thanh, Thúy-Thúy quay ngựa trở lại. Khi công về cách Hoa-lâm năm trăm dặm thì gặp Thành-cát Tư-hãn dẫn các em đi đón. Gặp lại nhau, Tư-hãn nắm tay Thủ-Huy :
– Phò mã! Đúng là trời đem người đến cho ta. Người là thầy ta, là thầy của các em, các con ta. Nay người quyết định ở lại với ta, thì thực là phúc cho Mông-cổ.

oOo

Hôm nay Đoan-Nghi dậy sớm. Nang đang ngồi trong thuyền dạy Thủ-Độ học, thì viên chánh sứ Vũ Khải vào cung tay :
– Khải điện hạ, thuyền đã bắt đầu ngược giòng Hồng-hà, chỉ nội chiều nay sẽ tới Thăng-long.
Đoan-Nghi bảo Thủ-Độ:
– Con ngừng học, chúng ta lên nóc thuyền nhìn đất nước Đại-Việt của ta.
Từ hôm rời Mông-cổ, tuy phải xa chồng nhưng lòng Đoan-Nghi rộn lên, vì sắp về tới quê hương. Nàng sẽ gặp mẫu thân, sẽ gặp những người thân trong hoàng tộc, trong phái Đông-a. Nàng sẽ được nhìn lại Thăng-long, nhìn lại hồ Tây, nhìn lại đền thờ vua Trưng, nhìn lại Văn-miếu. Nàng sẽ được ăn các món ăn Đại-Việt… Bất giác chân tay nàng run lên.
Nàng chỉ cho Thủ-Độ nhìn những làng, xóm dọc hai bên sông. Hai mẹ con nói chuyện với nhau suốt ngày. Mãi khi hoàng hôn buông xuống thì thuyền về tới Thăng-long. Con thuyền áp vào bến Tiềm-long. Viên chánh sứ Vũ Khải cung tay nói với Đoan-Nghi:
– Khải điện hạ, bây giờ sang giờ Thân, các cổng thành đều đóng cửa. Vậy xin điện hạ nghỉ tạm tại thuyền, mai hãy vào yết kiến hoàng thượng.
Xa quê hương lâu, Đoan-Nghi muốn nhìn lại đất nước mình, nàng ban chỉ:
– Người thắng cho ta một cái xe ngựa, để ta với Thủ-Độ lên bờ cho dãn gân, dãn cốt.
– Khải điện hạ có cần ai theo hầu không?
– Chỉ cần một người đánh xe.
Đoan-Nghi dắt Thủ-Huy lên xe ngựa. Xe rời bến Tiềm-long hướng Gia-lâm rồi đi dọc theo bờ sông.
Bấy giờ là thịnh thời, không chiến tranh, nên hàng quán mở cửa cho đến nửa đêm. Khi xe đi vào địa phận hồ Tây, Đoan-Nghi chỉ một tửu lầu phía trước, ra lệnh:
– Người ngừng lại cho ta.
Thủ-Độ chưa từng thấy thành phố của vùng định cư bao giờ, cái gì nó cũng hỏi, cũng thắc mắc. Đoan-Nghi cứ phải giảng cho con đến mỏi miệng. Nó nhìn cái bảng hiệu, đọc :
– Anh-hùng quán.
Tửu bảo thấy một thiếu phụ xinh đẹp, dẫn đứa con trang phục quá lạ lùng, nó mở to mắt ra nhìn. Chợt nhận ra Đoan-Nghi, Thủ-Độ đeo đầy người ngọc vàng thì đoán đây là một phu nhân ở biên cương về. Y cúi rạp người xuống, rồi đưa hai mẹ vào một cái bàn gần cửa.
Sáu năm liền, bây giờ Đoan-Nghi mới được ăn những món ăn Đại-Việt. Nàng gọi liên tiếp năm món liền. Nhưng chỉ mình nàng ăn mà thôi. Còn Thủ-Độ thì nó ăn theo người Mông-cổ đã quen, nên nó chỉ ăn có mấy miếng bún chả rồi ngồi ngắm thành phố.
Bên ngoài, trên một bãi đất trước tửu lầu có đoàn người mãi võ kiếm tiền. Họ gồm một người đàn bà, một gã lực lưỡng và một lão già. Lão già chắp tay vái xung quanh một vòng, rồi nói:
– Nào, xin các ông, các bà coi nào! Người bạn tôi đây sẽ đi một bài quyền. Nếu quý vị thấy hay xin ban thưởng.
Gã thanh niên lực lưỡng bước ra bái tổ, rồi đi bài quyền. Bài quyền chấm dứt, dân chúng vỗ tay hoan hô. Người đàn bà mang cái rổ đi một vòng xin tiền. Khi đến trước mặt Thủ-Độ, mụ hỏi nó:
– Tiểu công tử thưởng chúng tôi cái gì nào?
Thủ-Độ móc túi lấy đồng tiền Mông-cổ bằng bạc trao cho người đàn bà. Thình lình gã mãi võ chụp Thủ-Độ vác lên vai, rồi rẽ đám đông bỏ chạy. Lão già với người đàn bà cũng chạy theo. Thủ-Độ kinh hãi hét lớn bằng tiếng Mông-cổ:
– Mẹ ơi!
Đoan-Nghi đang ăn, nghe tiếng con kêu, nàng tung mình ra khỏi tửu lầu, trong khi lơ lửng trên không, tay nàng rút kiếm, miệng quát lớn:
– Dừng lại!
Chỉ nhấp nhô mấy cái, nàng đã đuổi kịp ba người kia. Lão già với người đàn bà rút đao đeo bên hông ngừng lại, xả vào người Đoan-Nghi. Đoan-Nghi quay kiếm gạt, thì cả hai lại lộn một vòng lăn ra xa. Không cần truy kích đối thủ, nàng đuổi theo gã bắt Thủ-Độ. Không đầy nửa khắc nàng đã đuổi gần kịp. Nàng gọi Thủ-Độ bằng tiếng Mông-cổ :
– Con rút dao ở ngang lưng đâm vào cổ nó đi.
Thủ-Độ nghe mẹ hô, vội rút dao đâm vào cổ tên lực lưỡng. Con dao tuy nhỏ, nhưng cũng xuyên thủng vào cổ y. Y đau quá ngã lộn đi hai vòng. Thủ-Độ dùng thân pháp Đông-a tung mình lên chạy lại bên mẹ.
Đoan-Nghi hỏi con:
– Con có sao không?
– Không!
Nàng bồng con, dùng khinh công trở về tửu lầu. Thình lình có tiếng keng, keng, keng. Rồi tên từ hai bên đường bắn ra. Biết bị trúng kế phục binh, Đoan-Nghi kinh hoảng, dùng Long-biên kiếm pháp quay tròn, bao nhiêu tên bị gạt đi hết. Nhưng những loạt tên khác lại bay ra, trong khi trời nhá nhem tối. Đoan-Nghi bồng con, tay quay kiếm, tung mình ra khỏi vòng vây. Chỉ mấy chiêu kiếm vung lên, bọn tiễn thủ hơn mười người bị bay đầu. Thoáng thấy lão già, nàng vọt người tới bên hắn. Hắn đưa đao đỡ, nhưng không kịp, đầu hắn đã bay khỏi cổ. Lại thêm hai gã lực lưỡng nữa là ba gã, với người đàn bà vung đao bao vây nàng.
Một tay ôm con, một tay xử dụng kiếm, Đoan-Nghi vừa chống đỡ với bốn người. Nàng nhận ra người đàn bà dùng Hoa-sơn kiếm pháp trong Vô-trung kinh. Còn ba gã lực lưỡng thì dùng một thứ võ công rất lạ. Công lực cả ba đều cao thâm. Dù Đoan-Nghi đã xử dụng hết khả năng của Long-biên kiếm pháp mà cũng không kiềm chế nổi bốn người.
Thình lình mụ đàn bà quát lên, rồi xả kiếm vào ngực Đoan-Nghi. Đoan-Nghi tung mình lên cao, thoát khỏi chiêu kiếm của mụ, thì bị ba gã lực lưỡng chùng chĩa kiếm vào người.
Trong lúc cực kỳ nguy hiểm, Đoan-Nghi nghĩ rất nhanh:
– Khi chúng phục kích ta, thì chúng đã biết ta là ai. Dù ta có giết hết bọn nãy, sẽ có bọn khác xuất hiện. Đằng nào ta cũng chết, ta không nên giết bốn đứa cầm đầu này. Ta cần ghi vào người chúng mấy vết thương, để sau này ta có thể truy lùng ra kẻ đứng sau chúng. Nếu ta chết, thì phái Đông-a còn biết kẻ hại ta mà trả thù.
Nghĩ vậy, nàng chuyển kiếm, chỉ hai chiêu nàng đã chặt cụt tay trái một gã thanh niên rồi cắt đứt tai trái người đàn bà, rạch trên mặt ả mỗi bên má hai vòng tròn. Cả bốn kinh hãi nhảy lùi lại, rồi hô lớn:
– Buông tên.
Một đội tiễn thủ khác từ bên đường lại buông tên. Đoan-Nghi vọt người tới, quay kiếm như sao sa. Được một lát, nàng quá mệt mỏi, chiêu thức bắt đầu hỗn loạn. Nàng cảm thấy đau nhói ở bụng, rồi lưng. Biết bị trúng tên, nàng không còn nghĩ đến sống chết nữa, tay bồng con nàng nhảy vào giữa đội cung thủ. Chỉ thấy ánh thép lóe lên mấy cái, đội cung thủ bị giết hết.
Ba gã lực lưỡng với người đàn bà hô lên một tiếng rồi vọt mình lên ngựa ra roi chạy vào bóng đêm. Đoan-Nghi dùng khinh công hướng về Đông-a vãng lai khách xá, nơi mà trước đây Thủ-Huy dùng làm phủ Thái-úy. Nhưng vừa cất bước, thì máu ra nhiều quá, kiệt lực. Nàng bồng con nhảy đại vào một khu vườn hoang ẩn thân.
Thủ-Độ tuy còn nhỏ nhưng nhờ sống gần cha mẹ quen với chinh chiến, nên nó cảnh giác không lên tiếng. Nó ghé miệng vào tai mẹ:
– Mẹ bị thương có đau không ?
– Đau lắm. Để mẹ rút tên ra đã.
Nàng tự điểm vào mấy yếu huyệt cho bớt đau rồi rút hai mũi tên ra. Tuy biết mình khó qua khỏi cái chết, nàng vẫn xé áo buộc vết thương lại, rồi nằm chờ. Nàng hy vọng tên phu xe không thấy nàng trở về, y sẽ báo cho viên thuyền trưởng, viên thuyền trưởng sẽ cầu cứu với viên đô đốc thủy quân sai người đi tìm nàng, thì Thủ-Độ thoát chết.
Màn đêm buông xuống. Tiếng dế nỉ non canh khuya, pha với tiếng cú rúc não nùng.
Quá đau đớn, Đoan-Nghi mê mê tỉnh tỉnh, nhưng nàng vẫn nắm chặt tay con. Phần Thủ-Độ tuy có sợ hãi nhưng mệt quá, nó cũng ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Bây giờ Đoan-Nghi mới cảm thấy hối hận rằng mình đã u mê, ương ương, bênh vực họ Lý quá đáng, đến độ chồng nói gì, bàn gì nàng cũng cho là cực đoan, nên mới ra nông nỗi này. Giả như Thủ-Huy cùng về với nàng, thì có lẽ cả hai cùng chết tức tưởi…
Không biết bao nhiêu lâu, có tiếng ngựa hí, tiếng chân người đi rầm rập ngoài đường. Có tiếng nói:
– Đây rồi, chắc công chúa giao chiến với bọn gian tại đây. Có hai mươi bốn tiễn thủ bị giết bằng kiếm. Chắc chúng chết vì kiếm công chúa.
– Không biết công chúa đi đâu?
Đoan-Nghi chợt tỉnh dậy. Nàng thều thào nói với con:
– Con ra đường, dùng tiếng Việt gọi họ vào.
Thủ-Độ đứng dậy, nó chạy ra đường gọi:
– Công chúa ở đây này!
Bọn quan quân reo lên chạy vào trong vườn, thì Đoan-Nghi lại mê man. Họ đem cáng chở nàng với Thủ-Độ đi. Về đến thuyền, y sĩ thủy quân đến cầm mạch cho Đoan-Nghi. Ông ta lắc đầu:
– Hết hy vọng rồi. Công chúa bị hai mũi tên, một mũi trúng phế, một mũi trúng gan. Máu ra nhiều quá. Làm sao bây giờ?
Viên chánh sứ Vũ Khải hỏi :
– Đại-phu, có thuốc nào cho công chúa tỉnh dậy, để công chúa cho chúng ta biết bọn sát nhân là ai không?
– Cũng có đấy! Thuốc đó tên “Bổ-trung ích khí hoàn”. Nhưng sau khi tỉnh lại một khắc thì chết.
Nói rồi ông ta lấy một bình thuốc, bóp nhỏ hai viên, bỏ vào miệng Đoan-Nghi, đổ nước cho nàng uống. Khoảng hơn khắc sau, Đoan-Nghi từ từ mở mắt ra, nàng thều thào ban chỉ:
– Ta tự biết khó qua khỏi. Vậy… các người hãy lui ra để ta dặn con ta mấy câu.
Mọi người rời khoang thuyền.
Đoan-Nghi nói với con bằng tiếng Mông-cổ:
– Con nghe mẹ dặn đây! Con đã biết, trên đời này gian dối cạm bẫy quá nhiều. Vậy những gì mẹ dặn, con chỉ được nói với năm người mà thôi. Dù người ta tra khảo, dọa giết, con cũng không được khai. Nhớ không? Tuyệt đối không tin ai, không nghe ai!
Thủ-Độ tuy kinh hoảng cùng cực, nhưng được cha huấn luyện từ năm ba tuổi, nên nó cực can đảm, lại thông minh. Nó hỏi:
– Nhưng nếu nó cứ khảo, bắt con khai thì sao?
– Con khai rằng, mẹ dặn: Mẹ dấu một kho tàng gồm rất nhiều ngọc ngà, vàng bạc dưới cái hầm trong thư phòng của bố. Nhớ không?
– Con nhớ. Còn sự thực con chỉ được nói với năm người mà thôi. Họ là ai?
– Một là bố con. Hai là ông bà nội. Ba là bác Lý, cô Ngân. Con nhắc lại mẹ nghe nào?
– Năm người là bố, ông bà nội, bác Lý, cô Ngân. Thế nói gì?
– “Kẻ gian không hề muốn bắt cóc con. Nó dùng con để phục kích giết mẹ. Muốn biết kẻ gian là ai, thì cứ tìm người đàn ông cụt tay trái. Người đàn bà có vết sẹo tròn trên hai má, mất một tai“.
Đoan-Nghi bắt con nhắc lại câu đó, rồi bảo:
– Sau khi mẹ chết, con phải giả ngây, giả dại, như người mất trí, cho đến khi gặp năm người mẹ dặn mới thôi. Con ra ngoài gọi họ vào đây.
Đám sứ đoàn cùng đám võ quan thủy quân vào trong khoang. Viên chánh sứ Vũ Khải hỏi:
– Thưa công chúa! Ác nhân là ai?
– Từ đầu đến cuối ta không nhận được mặt chúng. Lại cũng không biết võ công chúng xử dụng là võ công gì? Có lẽ là bọn cướp chúng thấy Thủ-Độ đeo nhiều vàng bạc trên người, định bắt cóc, cướp của.
Đến đây nàng mệt quá nói nhỏ như tơ:
– Ngày mai… Ngày mai… các người vào chầu, tâu với… mẫu thân ta. Xin… người tha tội cho… ta…
Đến đây Đoan-Nghi trợn ngược mắt, rồi nghẹo đầu sang một bên.
Thủ-Độ hét lên bằng tiếng Mông-cổ:
– Mẹ… Mẹ chết rồi à! Thành-cát Tư-hãn nói, “Con người ta ai sinh ra cũng phải chết. Người chết là hết. Người sống không được khóc. Mà lo làm những việc mà người chết bỏ dở, và trả thù cho họ“. Ta nhất định không khóc.
Nói rồi nó ôm xác mẹ, mở to hai con mắt căm hờn nhìn mọi người xung quanh. Mệt quá, nó ngủ đi lúc nào không hay.
Khi Thủ-Độ tỉnh giấc, thì thấy mình nằm trên một cái giường rất lạ. Cạnh có một người con gái đang quạt cho nó. Người con gái thấy nó tỉnh thì lên tiếng:
– Tâu Thái-phi. Công tử tỉnh rồi.
Một người đàn bà xinh đẹp quần áo sang trọng, dáng người xanh ao, vàng vọt, đang nằm dài trên dường, cố ngồi dậy, lê chân chạy lại sờ đầu nó rồi hỏi :
– Cháu có đau đớn gì không?
Thủ-Độ hỏi:
– Bà là ai?
Người đàn bà bế nó vào lòng, rồi rưng rưng nước mắt:
– Bà là bà của con. Bà là mẹ của mẹ con.
Thủ-Độ nhớ lời cha dạy, khi ta không biết người, mà người nhận là họ hàng thân thuộc với ta, thì phải hỏi lại đã. Đừng tin vội. Nó hỏi:
– Thế tên con gái của bà là gì nào? Bà nói trúng tôi mới tin.
Người đàn bà ghé miệng vào tai nó nói nhỏ:
– Bùi Chiêu-Dương.
– Không phải tên đó! Mẹ nói, bà tôi còn một tên mà chỉ mẹ tôi biết mà thôi. Bà có nhớ tên đó không ?
Thái-phi Bùi Chiêu-Dương nghĩ thầm:
– Đoan-Nghi lưu vong nơi hải ngoại, nó dậy con cẩn thận như vậy cũng phải.
Bà nói nhỏ:
– Tên đó là Cái Nhớn.
Thủ-Độ ôm lấy cổ Thái-phi Bùi Chiêu-Dương:
– Bà ngoại! Bà ngoại ơi, mẹ chết rồi. Mẹ bị người ta bắn chết rồi.
Thái-phi bồng cháu vào lòng:
– Trước khi chết mẹ có dặn gì không?
Nhớ lời mẹ, nó nói dối:
– Mẹ dặn, mẹ chôn vàng ngọc trong thư phòng của bố. Có vậy thôi.
Nó nghĩ thầm:
– Trước khi chết mẹ bảo ta giả ngây thì ta giả ngây.
Trong trí nó nhớ lại, hồi ở Mông-cổ, có rất nhiều trẻ mồ côi, mà cha mẹ bị quân Mông-cổ giết, chúng trở thành ngây ngây dại dại. Thủ-Độ vội bắt chước, nó mở măt thao láo, nhìn vào quãng không, rồi giả bộ nằm vật xuống dường, nhắm mắt lại. Thái-phi kinh hoảng lay gọi:
– Cháu! Cháu! Khổ quá.
Bà ban chỉ:
– Mau đi mời Ngự-y.
Lát sau Ngự-y Trần-thị Phương-Thanh tới. Bà hành lễ với Thái-phi, rồi cầm mạch Thủ-Độ. Nó mở mắt nhìn bà như người mất hồn. Bà cau mặt lại suy nghĩ một lúc rồi hỏi :
– Tâu Thái phi, đứa trẻ này là ai?
Thái-phi thuật vắn tắt những việc xẩy ra một lượt. Phương-Thanh suy nghĩ một lát rồi tâu:
– Thần bắt mạch thì thấy hồng-đại, tức là mạch của một đứa trẻ khỏe mạnh. Tại sao bề ngoài lại có vẻ của một đứa trẻ mất trí?
– Cứ theo Vũ Khải tâu, thì trong suốt ba tháng hải hành, Thủ-Độ cực kỳ thông minh. Mẹ nó giảng cho nó nghe về sử Đại-Việt, chỉ một lần là nó nhớ, kể lại vanh vách. Sở dĩ nó bị thế này, có lẽ nó quá sợ hãi khi bị bắt cóc, sau lại chứng kiến cảnh mẹ nó giao chiến với bọn cung thủ rồi bị giết mà thành thế này chăng?
– Thần không tin thế. Tuy nhiên thần cũng xin trị cho tiểu công tử bằng châm cứu.
Nói rồi bà lấy kim thực nhỏ, châm vào huyệt Nhân-trung, Giản-sử, Phong-trì. Châm xong, rút kim ra ngay. Tuy bị châm đau, nhưng Thủ-Độ được huấn luyện thành người can đảm cùng với bọn con nhà quý tộc Mông-cổ, nên nó không kêu, cũng không dãy dọn. Ngự-y Phương-Thanh gật đầu:
– Có lẽ tiểu công tử bị kinh hoảng thực.
Bà châm vào huyệt Can-du, Thái-xung, Dương-lăng-tuyền của nó, lưu kim một khắc, rồi rút kim ra. Bà tâu:
– Về thuốc, thì xin Thái-phi cho tiểu công tử uống Định-tâm hoàn là được rồi.
Định tâm hoàn là thần dược do Thánh-y Minh-Không chế ra đã trên một trăm năm. Thuốc này có hiệu năng an thần, định tâm, kiên não, ích trí. Thủ-Độ vốn thông minh, nhớ dai. Bây giờ nó giả ngây lại được uống thuốc bổ não, nhờ vậy tuy xa cha, mẹ chết, nhưng thần chí của nó không bị khủng hoảng. Trái lại nó thông minh khác thường. Hơn nữa tại Mông-cổ trẻ con quý tộc thường được huấn luyện trở thành người trầm tư giống Thành-cát Tư-hãn. Nên nay nó trầm tư, thì Thái-phi tưởng nó kinh hoảng, chưa khỏi bệnh.
Hằng ngày nó lấy sách, rồi tìm chỗ vắng ngồi đọc. Thái độ đó của nó vô tình giống một người điên.
Nó sống cô độc, an nhàn trong cung với Thái-phi được hơn tháng. Tuy Thái-phi thương yêu nó cùng cực, nhưng bà đang bị bệnh hành hạ đau đớn đến chết đi sống lại, nên mọi việc chăm sóc nó đều do cung nga phụ trách.

Hôm ấy thình lình bệnh Thái-phi trở thành trầm trọng. Viên Thái-giám hầu cận bà vội phi báo cho nhà vua. Chiều hôm ấy nhà nhà vua cùng Đàm hoàng-hậu dẫn hai đứa trẻ ngang tuổi với Thủ-Độ vào cung vấn an Thái-phi. Đi theo nhà vua còn có Ngự-y Trần-thị Phương-Thanh.
Lễ nghi tất.
Thái-phi nằm trên dường, chỉ hai đứa trẻ nói với Thủ-Độ:
– Đây là Long-Thẩm, Long-Sảm. Cả hai với con đều là con cô con cậu. Các con thân thiện với nhau đi.
Trên đường từ Mông-cổ về Đại-Việt, Thủ-Độ đã được mẹ giảng cho biết về những liên hệ trong hoàng tộc. Nó biết mình có ba ông cậu còn tại thế. Ông cậu lớn nhất là Long-Ích, tước phong Kiến-khang vương. Ông cậu nhỏ nhất là Long-Tường, tước phong Kiến-bình vương. Hồi thơ ấu, cả hai ông đều được bố mẹ nó nuôi nấng, dạy văn luyện võ cho. Riêng Long-Tường, còn là đệ tử của ông bà nội nó. Còn một ông cậu, ở giữa hai ông ấy, chính là Đại-Việt hoàng đế. Ông cậu này sở dĩ còn sống còn ngồi trên ngai vàng, là do bố mẹ nó phò tá. Nó cũng được mẹ cho biết, nhà vua có hai con trai là Thái-tử Long-Sảm, hoàng tử Long-Thẩm. Long-Sảm bằng tuổi Thủ-Độ, Long-Thẩm lớn hơn Long-Sảm hai tuổi. Nhưng vì Thẩm làm con một thứ phi sinh ra, nên không được phong Thái-tử.
Suốt mấy tháng trên mặt biển, Thủ-Độ mơ màng rằng khi về Đại-Việt, thì sẽ gặp lại đám anh em con cô con cậu. Nó tưởng tượng ra rằng, các cậu đều nhờ ân đức của cha mẹ nó, thì đám anh em cô cậu với nó sẽ thân thiện với nó hơn đám con của Tốc Bất Đài, Bác Nhĩ Truật. Quen với tục lệ của các thiếu niên Mông-cổ, mỗi khi anh em, bạn hữu găp nhau là ôm lấy nhau. Nó chạy lại ôm lấy Long-Sảm. Không ngờ Long-Sảm co chân đá vào ngực nó một cái. Tuy có căn bản võ công, nhưng muôn ngàn lần Thủ-Độ không ngờ rằng mình bị đá, nó không đề phòng, nên bị ngã lăn lông lốc. Trong khi Long-Sảm hỏi:
– Thằng mọi này là ai mà mi dám ôm ta?
Thủ-Độ ngồi dậy, phóng con mắt hận thù nhìn Long-Sảm, không nói không rằng. Trong khi nhà vua quát Long-Sảm:
– Thủ-Độ là con cô con cậu với con. Nó là vai anh con. Con không được đánh nó.
Nhà vua ban chỉ:
– Long-Sảm, con mau lại xin lỗi anh Thủ-Độ đi.
Long-Sảm vùng vằng:
– Phụ hoàng đánh chết con, con cũng không nhận thằng điên này là anh em đâu.
Hoàng-hậu can thiệp:
– Long-Sảm hành sự đúng lễ nghi. Dù Long-Sảm là em nhưng danh phận là trừ quân. Dù Thủ-Độ là anh nhưng danh phận là bầy tôi. Xưa nay chưa từng có lễ nghi nào mà tôi lai ôm lấy chúa bao giờ?
Nhà vua ngượng ngập tâu với Thái-phi:
– Chuyện trẻ con, xin Thái-phi chẳng nên quan tâm.
Thái-phi bảo Thủ-Độ:
– Thôi, con ra ngoài vườn chơi đi.
Thủ-Độ phóng con mắt ghê tởm nhìn anh em Long-Sảm, rồi ra ngoài. Nó thẩn thơ nhìn trời, nghiến răng:
– Nhất định ta không khóc! Khóc là hèn.
Dù chưa gặp mặt, nhưng qua lời giáo huấn của mẹ, Thủ-Độ dành ra biết bao tình cảm cho quê hương, cho anh em con cô, con cậu, con chú, con bác trong mấy năm qua… Bây giờ, vừa về đến Đại-Việt thì mẹ bị giết, nó bị Long-Sảm làm nhục; trong tâm nó nảy một mối nghi ngờ, rồi từ nghi ngờ biến ra hận thù. Nó nghĩ thầm:
– Ta phải trả thù cho mẹ! Ta phải rửa cái nhục hôm nay.
Nghĩ vậy, nó núp sau cửa sổ, ghé mắt nhìn vào bên trong. Thái-phi đã mệt mỏi lắm rồi, bà hỏi nhà vua:
– Hoàng nhi đã điều tra ra vụ ám toán Đoan-Nghi chưa?
Nhà vua tâu:
– Khu-mật viện đã đúc kết điều tra. Thần nhi xin kính tâu lên Thái-phi tường.
– Vụ này ra sao?
Nhà vua thuật lại vụ Vũ Khải đem thư lên Mông-cổ. Thủ-Huy, Tử-Kim không chịu về, vì không có chiếu chỉ. Dọc đường ra sao. Đoan-Nghi lấy xe dạo phố ra sao, rồi bị ba tên cướp giả mãi võ bắt Thủ-Độ ra sao. Công chúa đuổi theo. Phần kết luận, nhà vua trao cho viên thái giám hầu cận đọc:
Phu xe là một lính Thủy-quân. Y chờ mãi không thấy công chúa về, thì vội trở lại báo với Vũ Khải. Vũ Khải cáo với viên đô đốc Thủy-quân. Viên đô đốc sai một tốt binh sĩ theo giúp Vũ Khải, thì tìm thấy công chúa bị thương nặng. Cạnh đó có 26 xác chết. Y đoán rằng đó là những xác bọn cướp bị công chúa giết chết. Y hoảng hốt mang công chúa về thuyền trị bệnh. Sáng hôm sau viên đô đốc báo cho phủ thừa Thăng-long. Phủ-thừa Thăng-long đến phạm trường điều tra, thì 26 xác chết không thấy đâu nữa. Vũ khí, y phục cũng biến mất. Trong lúc lâm chung, công chúa có di ngôn với Vũ Khải rằng: Bọn cướp thấy Thủ-Độ mang nhiều vàng, ngọc. Chúng định bắt cóc để lấy của. Công chúa không nhận được võ công bọn chúng là võ công nào. Kết lại: Vụ này do bọn cướp gây ra. Nhưng chúng bị chết hết rồi, không thể điều tra thêm gì được nữa“.
Thái-phi thều thào:
– Hoàng nhi phải sai sứ báo cho phái Đông-a với Thủ-Huy ngay… Khổ lắm ! Đoan-Nghi là đứa con dâu mà đại hiệp Tự-Hấp sủng ái nhất… Tin này mà đến với ông, thì cả môn phái Đông-a rúng động. Họ ắt tung người đi điều tra. Không biết sẽ có bao nhiêu người chết nữa đây? Lại còn Thủ-Huy nữa. Nó không về, thì có nghĩa là nó nghi triều đình. Bây giờ Đoan-Nghi chết tức tưởi thế này, đời nào nó ngồi im?
Đến đây bà mệt quá, nắm tay nhà vua:
– Hoàng nhi! Nếu Hoàng-nhi không vì tình huyết tộc, thì cũng… cũng tưởng nhớ… công lao cha nó, mà… đưa nó về Thiên-trường cho… ông nội nó nuôi dạy nó…
Đến đây, bà nhắm mắt lại:
– Ta sắp về với Tiên-đế! Nghĩ lại, ta nhập cung, được Tiên-đế sủng ái, sinh ra ba người con anh hùng là Kiến-Ninh vương, Kiến-Hòa vương và Đoan-Nghi. Nhưng, nay thì… tay không! Chúng đều đi trước ta cả rồi… Hỡi ơi! Ta tưởng gọi Đoan-Nghi về để mẹ con thấy mặt nhau lần cuối. Không ngờ… Không ngờ…
Đến đây, bà nhắm mắt lại.
Ngự-y Phương-Thanh kinh hãi, bắt mạch Thái-phi. Bà lắc đầu:
– Tâu bệ hạ, Thái-phi băng rồi.
Nhà vua than:
– Trẫm vì muốn kiến tạo lại thịnh thời của bốn vị Tiên-đế mà bàn với Thái-phi viết thư mời công chúa Đoan-Nghi, phò mã Thủ-Huy về phò tá. Không ngờ Thủ-Huy nghi trẫm thiếu thành tâm, mà ở lại đất khách. Còn Đoan-Nghi vừa về thì bị ám toán. Vụ này e có loạn chứ không giản dị đâu. Nếu như Thái-phi còn tại thế thì người có thể nói một lời với Thủ-Huy với phái Đông-a dùm trẫm. Bây giờ Thái-phi lại băng, làm sao? Phải làm sao?
Đàm hoàng hậu đề nghị:
– Hay ta dấu nhẹm việc công chúa hoăng đi. Coi như công chúa chưa về tới Đại-Việt. Sau này, Thủ-Huy, hay phái Đông-a cho người đi điều tra, thì ta cứ nói là thuyền chở công chúa Đoan-Nghi bị đắm trên biển Đông. Còn Thủ-Độ nó kinh hoảng quá, đến mất trí, thì cứ nói dối rằng nó là đứa trẻ mồ côi, ta đem về nuôi. Ta cải họ, đổi tên cho nó. Khi nó lớn lên, ta cho nó tĩnh thân làm thái giám. Bây giờ ta tạm cho nó vào trường Quốc-tử giám học cùng với Long-Sảm.
Nhà vua tán thành:
– Đành vậy. Ta cải họ Trần của nó thành họ Đàm, còn tên thì giữ nguyên.

(Hết Hồi 32)

Share this post