Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 39

Anh Hùng Đông A (Tiểu Thuyết Lịch Sử – Trần Đại Sỹ) Hồi 39

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

HỒI THỨ BA MƯƠI CHÍN
Vạn-lý trường-thành

Niên hiệu Trị-bình long-ứng thứ tư (Mậu-Thìn, DL.1208) đời vua Lý Cao-tông Đại-Việt, bên Trung-nguyên nhằm niên hiệu Gia-định nguyên niên đời vua Tống Ninh-tông.

Sứ đoàn Đại-Việt do quan Tổng-lĩnh thị-vệ, tước Đằng-châu hầu Trần Thủ-Độ, tuân chỉ nhà vua lên đường đi Mông-cổ, thỉnh phò mã Trần Thủ-Huy về nước để trao đại quyền an định xã tắc.

Sứ đoàn đi bằng thuyền, khởi hành từ bến Tiềm-long ở Thăng-long, trên một thương thuyền rất lớn. Thương thuyền kéo cây cờ có hình con ó đen đang bay trên không, hai chân co lại, cánh nghiêng, mắt nhìn xuống dưới trong tư thế rình mồi . Đề phòng bất trắc có thể xẩy ra cho Thủ-Độ, Đại đô đốc Phùng Tá-Chu đã chọn từ thuyền trưởng cho tới thủy thủ, đầu bếp, đều là đệ tử phái Đông-a. Còn viên phó sứ Chu Mạnh-Nhu, với bốn bồi sứ Vũ Khắc-Kim, Phạm Hoàng-Quy, Lê Trọng-Anh, Tạ Quốc-Ninh là những viên quan ở bộ Lễ, học trò Phạm Kính-Ân. Chính Kính-Ân chọn cho Thủ-Độ, với lời dặn dò rằng Thủ-Độ là người đồng môn, phải lấy lòng mà đối xử với nhau.

Biết rằng khi thuyền đến bến Liêu-Đông, thuộc lãnh thổ Kim, sứ đoàn còn phải vượt qua mấy trăm dặm mới tớí Vạn-lý Trường-thành. Ra ngoài Trường-thành, bắt đầu đi vào vùng Thảo-nguyên. Cho nên Thủ-Độ đã chuẩn bị cho sứ đoàn giả làm thương nhân. Vì trước đây, Kim với Đại-Việt từng giao hảo, trao đổi sứ, kể từ đấy, có nhiều thương nhân Việt sang buôn bán với Kim.

Sau hai tháng lênh đênh trên mặt biển, sứ đoàn đã đến cửa biển Liêu-Đông. Thủ-Độ lên trình điệp thông quan. Viên quan phụ trách thương bạc xuống thuyền kiểm kê hàng hóa, quyết định số tiền thuế phải nộp, rồi đóng dấu vào điệp thông quan.

Ở Liêu-Đông mấy ngày, Thủ-Độ để thủy thủ đoàn sống trên thuyền Ó-đen. Còn Hầu cùng với nhân viên sứ đoàn, mua xe, ngựa lên đường. Sau mười ba ngày, thì tới  Trương-gia khẩu của Vạn-lý Trường-thành. Vừa vượt Vạn-lý Trường-thành mười lăm dặm, tới lãnh thổ Ong-gút thì gặp một đội kị mã kéo cờ Mông-cổ đang đi tuần thám.

Một võ quan trong y phục Bách-phu trưởng dẫn đầu.  Y hỏi bằng tiếng Mông-cổ :

– Thương nhân của nước nào?

Viên thông ngôn tưởng Thủ-Độ là người Hoa. Y dịch sang tiếng Hoa. Thủ-Độ trả lời bằng tiếng Mông-cổ :

– Tôi không phải là thương nhân. Tôi là chánh sứ của Đại-Việt hoàng đế, sang Mông-cổ yết kiến Thành-cát Tư-hãn. Dám hỏi, đây thuộc quyền của vị tướng quân nào?

Trên mặt tên Bách-phu trưởng hiện ra nét thiện cảm:

– Vùng này này do Thiên-phu trưởng họ Vũ trấn nhậm. Để tôi đưa các vị tới gặp người.

Thủ-Độ theo tên Bách-phu trưởng về trại quân. Vừa nhác thấy viên Thiên-phu trưởng, Thủ-Độ nhận ra ngay, đó là một võ sĩ trong đoàn Long-biên cũ. Hầu kêu lên:

– Chú Vũ Mạnh!

Vũ Mạnh nghe báo có sứ thần Đại-Việt tới, thì mừng chi siết kể. Ông vội sửa sang y phục ngay ngắn ra đón. Ông chưa kịp lên tiếng, thì sứ thần đã gọi tên ông lên. Ông kinh ngạc, hỏi bằng tiếng Việt :

– Không biết đại nhân xưng hô thế nào?

– Cháu là Trần Thủ-Độ đây! Bố cháu là…

Vũ Mạnh đã nhận ra Thủ-Độ, vì Hầu giống hệt cha. Vũ Mạnh ôm lấy Thủ-Độ:

– Cháu tôi lớn thế này, hèn gì chú không nhận ra cũng phải.

Thủ-Độ tóm lược qua tình hình Đại-Việt, rồi nói rõ sứ mệnh của mình. Đưa mắt nhìn trại quân Mông-cổ, Thủ-Độ hỏi:

– Từ ngày rời Thảo-nguyên ra đi, cháu không được tin tức gì ở vùng Thảo-nguyên cả. Tại sao chú lại ở đây? Mông-cổ đã khởi binh diệt Ong-gút (1) rồi à?

– Đúng vậy. Sau khi mẹ cháu với cháu về nước, thì Mông-cổ khởi binh đánh Nãi-man, sau đó đánh Tây-hạ, rồi tiến quân vào Kim.

Vũ Mạnh truyền quân làm tiệc đãi sứ đoàn. Trong khi ăn, Thủ-Độ hỏi chi tiết về các trận đánh giữa Mông-cổ với Nãi-man, Tây-hạ, và Kim. Vũ Mạnh thuật:

– Sau khi thắng Khắc-liệt, Mông-cổ đang là một nước nhỏ, bỗng trở thành một nước lớn, binh lực hùng mạnh, quốc sản trù phú. Các nước xung quanh như Thổ-phồn, Tây-hạ, Tây-liêu, Nãi-man, Đại-kim…cùng cảm thấy lo lắng rằng, cứ cái đà phát triển này, thì không mấy chốc Mông-cổ sẽ đánh chiếm nước họ. Song Tây-hạ, Tây-liêu, Đại-kim thì lãnh thổ không nằm trong vùng Thảo-nguyên. Họ không mấy lo ngại cái họa Mông-cổ. Duy Nãi-man, là nước có nền văn minh, có văn tự, lại là một nước lớn, binh lực hùng mạnh bậc nhất vùng Thảo-nguyên, nên Đại-hãn của họ lo lắng, sợ hãi khôn cùng.

Thủ-Độ hỏi:

– Thưa chú, thế Nãi-man lập quốc từ bao giờ?

– Khoảng trên dưới một trăm năm nay thôi. Người khai quốc là Khả-hãn I-năng-sơ. Ông là một nhà chỉ đạo quân sự đại tài. Trong khoảng hai chục năm, ông chinh phục được trước sau hơn hai chục nước nhỏ rồi lên ngôi Đại-hãn. Có thể nói, lúc đó Nãi-man là nước hùng mạnh nhất Thảo-nguyên. Sau khi I-năng-sơ chết, thì hai con trai là Bui-Rúc và Bai-bu-ka chia Nãi-man thành hai, mỗi người cai trị một nửa, do vậy Nãi-man yếu đi . Lãnh thổ của Bai-bu-ka tiếp cận với Mông-cổ. Ông ta muốn đem quân diệt Mông-cổ ngay khi Mông-cổ mới chiếm được Khắc-liệt. Ông viết thư cho Khả-hãn Tê-Kinh của nước Ong-gút, rủ Ong-gút cùng ra quân. Thư đó nội dung như sau:

…Tôi vừa được tin trong đế quốc của chúng ta, có một thằng nhãi mới xuất hiện, tự xưng là Khả-hãn Mông-cổ. Y chỉ nhìn lên mây xanh, muốn chinh phục cả mặt trăng mặt trời. Ngài thử nghĩ xem: Một cái bao làm sao chứa được hai thanh kiếm? Một thể xác không có hai linh hồn. Dĩ nhiên một đế quốc không thể có hai Đại-hãn. Ngài hãy cùng tôi tước lấy cây cung và mũi tên của thằng nhãi đó.

Thủ-Độ cau mặt:

– Ông ta kiêu ngạo quá! Cháu chắc Khả-hãn Tê-Kinh không chịu xuất quân!

– Sao cháu biết?

– Cứ lý mà suy! Lãnh thổ Ong-gút sát với Kim. Mỗi lần các bộ tộc vùng Thảo-nguyên tràn vào Kim cướp phá, hoặc Kim đem quân đánh các bộ tộc đó… đều vượt qua lãnh thổ Ong-gút. Dân Ong-gút bị vạ lây. Vì vậy Ong-gút thấy Mông-cổ chiếm các bộ tộc ấy, kiềm chế chúng, thì Ong-gút thoát khỏi cái vạ đó, điều mà Tê-Kinh mong ước… Tội gì Ong-gút phải ra quân?

– Giỏi! Cháu luận giống như cha cháu. Để chú thuật tiếp: Khả-hãn Tê-Kinh sai sứ đem bức thư  đó cho Tư-hãn. Được tin này, Tư-hãn kinh hoảng, vội triệu tập hội đồng quý tộc loan báo tin trên. Hội đồng cùng nhận thấy rằng chiến tranh giữa Mông-cổ với Nãi-man không thể nào tránh được. Nhưng bây giờ đang giữa mùa Đông, khí hậu lạnh cắt da, xé thịt, ngựa thiếu ăn gầy còm. Cần chờ đến mùa Hạ hay mùa Thu, ngựa khỏe, khí hậu ấm áp hãy ra quân.

Thế nhưng Phò-mã cũng như chín vị đại tướng thì cho rằng: Thắng nhờ xuất kỳ bất ý, nhờ binh lực hùng mạnh, chứ không phải nhờ sức ngựa.

Thành-cát Tư-hãn đồng ý với phò mã. Lập tức ra quân.

Trước khi xuất quân, Tư-hãn họp chư tướng lại, rồi cung cung, kính kính hỏi Phò-mã:

– Phò-mã là thầy của tôi cũng như các tướng. Xin Phò-mã dạy cho những điều phải làm, những điều phải tránh.

– Đa tạ Tư-hãn đã lấy lòng mà ở với tôi. Tôi có ba điều muốn thưa vơí Tư-hãn và anh em. Điều thứ nhất, so về quân số thì Nãi-man đông hơn chúng ta. Quân của họ cũng thiện chiến, tổ chức chặt chẽ. Họ lại có những đội tàn quân của Thát-đát, Khắc-liệt, Miệt-nhi, Trác Mộc Hợp theo trợ chiến. Nhưng ta nắm chắc phần thắng, vì cho đến lúc này, họ vẫn không biết gì về sự cải tiến, trang bị của ta, họ khinh ta. Vì vậy, ta cần tạo cho họ kiêu căng hơn, rồi áp dụng chiến thuật xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị, thì thắng. Cuộc chiến này kéo dài nhất là mười ngày, ngắn nhất là nửa ngày.

Các tướng vỗ tay hoan hô.

Điều thứ nhì, từ trước đến nay, các bộ tộc vùng Thảo-nguyên, sau trận giao tranh, bên thắng thường cướp hết súc vật, tài sản, kể cả vợ con của địch, tàn phá hết lều trại, rồi rút về. Kẻ bại âm thầm tập trung tàn quân lại, nung nấu lòng căm thù, tìm dịp trả hận. Tôi đã bàn với Tư-hãn, chúng ta cần đánh tan chủ lực của Nãi-man. Tuyệt đối cấm cướp, phá, đốt tài sản, giết dân chúng. Sau cuộc chiến, ta cắt Nãi-man ra thành năm vùng, mỗi vùng trao cho một Đại-hãn cai trị. Còn hàng binh thì cho nhập vào với quân ta. Tù binh thì cho làm lao nô một thời gian, rồi cũng cho nhập ngũ. Bất cứ tướng sĩ nào giết, đánh đập, làm nhục tù hàng binh đều bị trừng phạt nặng nề.

Các tướng im lặng, tỏ vẻ không hài lòng.

Thứ ba, Nãi-man là một nước lớn nhất vùng Thảo-nguyên. Họ lại có một nền văn minh, một nếp sống văn hóa cao hơn chúng ta nhiều. Từ trước đến giờ, họ vẫn coi tất cả các tộc vùng Thảo-nguyên là man di, mọi rợ. Còn Mông-cổ ta? Ta đang là một bộ tộc nhỏ, nhờ tài lãnh đạo của Tư-hãn. Nhờ sự cố gắng phi thường của anh em, mà chúng ta có địa vị ngày nay. Ta cần trộn dân Mông-cổ với Nãi-man với nhau, để dân Mông-cổ thu nhập được văn minh Nãi-man.

Về phần Nãi-man, khi thấy ta xuất quân, Bai Bu Ka cho tiến quân về  Khan-gai, rồi dàn ra đó để chờ ta. Trong khi đó Thành-cát Tư-hãn cũng dàn quân tại một vùng lựa chọn, thuận lợi cho Mông-cổ. Thấy giặc giữ thế thủ, Thành-cát Tư-hãn sai Triết Biệt đem một đội quân tiến vào vùng địch tấn công. Sau hơn khắc giao chiến, giả thua bỏ chạy.

Các tướng Nãi-man thấy đội quân Triết Biệt hàng ngũ lộn xộn, ngựa thì gầy yếu, người thì mệt mỏi, y tỏ ý khinh thường, ào ạt tấn công. Triết Biệt dẫn quân chạy dài. Bai Bu Ka ra lệnh thu quân. Các tướng Nãi-man muốn đánh tràn vào vùng đóng quân của Mông-cổ. Bai Bu Ka không cho. Đại tướng Rô Ri Su than: “Hồi Tiên-vương còn tại thế, làm gì địch nhân thấy được lưng chúng ta? Nếu ngài có sợ, thì nên trở về sống với phi tần. Chúng tôi quyết trừng trị bọn Mông-cổ, rồi gom chúng lại, lùa về đây như một bầy cừu. Bai Bu Ka bị chạm tự ái, ông ta ra lệnh tấn công ào ạt. Quân Mông-cổ rút chạy, dụ quân Nãi-man vào trận địa đầy chông, rồi Lôi-tiễn nã lên đầu.

* Ghi chú của thuật giả: Đoạn này, bộ Mông-cổ bí sử chép như sau:

Bai Bu Ka bị thương nặng, bọn tả hữu đỡ y nằm trên sườn đồi. Y dựa lưng vào tảng đá quan sát trận chiến. Y hỏi Trác Mộc Hợp:

– Bọn tướng đang đuổi theo quân ta như sói đuổi bầy cừu kia là ai vậy?

– Đó là bốn con chó sói  nuôi bằng thịt người của Thiết Mộc Chân. Hắn phải dùng xích sắt cột chân chúng, vì chúng có răng bén, móng nhọn với trái tim sắt đá. Chúng dùng mã tấu để khiển ngựa. Ngựa của chúng phi nhanh như gió. Ngoài mặt trận chúng chỉ uống sương, và ăn thịt người. Bây giờ được tháo xiềng, chúng tha hồ cắn xé. Vậy mà mõm chúng vẫn còn dỏ dãi. Bốn con chó đó là Triết Biệt, Bác Nhĩ Truật, Gia Luật Mễ và Tốc Bất Đài.

– Còn người nào ở phía sau mặt trận đang phi ngựa, dáng nom như con diều hâu đói kia?

– Thiết Mộc Chân đấy! Hắn thuộc thứ người mình đồng da sắt. Quả hắn là một con diều hâu đáp xuống xứ này. Hãy xem hắn tiến về phía chúng ta kìa. Ngài nói rằng quân Mông-cổ tới đây chẳng khắc nào con cừu bị đặt trên thớt thịt. Tôi nghĩ rằng con cừu là chúng ta, chúng ta sẽ bị bốn con sói ăn thịt… chắc chắn chỉ còn móng và sừng thôi….

Đến đây Bai Bu Ka lịm dần rồi chết.

Đến chiều thì bọn Miệt-nhi, rồi Trác Mộc Hợp bỏ chạy. Quân Nãi-man tan rã.

Thủ-Độ nghe thuật, trong lòng hầu rừng rực bốc lên cái hùng khí. Hầu nghĩ thầm:

– Ngay bây giờ trở về đất nước, ta phải tạo bọn Tây-hồ thập bát anh hào thành những đại tướng như Mông-cổ. Bọn thiếu niên theo ta bấy lâu, sẽ thành những dũng sĩ. Rồi, ta lật đổ cái triều Lý thối tha, lập một triều đình nhẹ nhàng, vua tôi sống trong tình huynh đệ như Thành-cát Thư-hãn với chư tướng.

Hầu hỏi Vũ Mạnh:

– Thế Thành-cát Tư-hãn tiến binh đánh Kim bao giờ?

– Bình định được Nãi-man rồi, Thành-cát Tư-hãn để ra hai năm chỉnh bị binh mã, tổ chức cai trị. Sau đó người tiến binh đánh Tây-hạ. Phò mã thấy mọi mạng lệnh đều phát từ Thành-cát Tư-hãn với người, thì không thể nào điều động nổi một quân đội đông đảo. Người đề nghị với Tư-hãn, cho thành lập Khu-mật viện, giống như Khu-mật viện bên Đại-Việt. Chính phò mã là người huấn luyện các nhân viên Khu-mật viện. Khu-mật viện gửi Tế-tác đi khắp nơi, để lấy tin tức của các nước xung quanh như Tây-hạ, Tây-liêu, Thổ-phồn, Đại-kim. Từ đấy, nhất cử nhất động của các nước, Mông-cổ biết hết.

– Hay lắm. Cháu có một điều thắc mắc : Vơí một lãnh thổ rộng mênh mông như vậy, làm thế nào Mông-cổ có thể duy trì thông tin mau chóng?

– Phò-mã cho lập một Mã phi tiễn viện, do Gia Luật Mễ chỉ huy. Viện gồm ba Thiên-phu kỵ mã Phi-tiễn. Họ là những người có sức khỏe dẻo dai nhất, mỗi người xử dụng ba chiến mã khác nhau. Để phân biệt với các kỵ mã khác, kỵ mã Phi-tiễn dắt trên đầu một một lá cờ xanh. Họ đeo trên ngực một hộp bằng kim khí. Trong hộp đựng thư từ, lệnh bài, thẻ bài, lệnh tiễn. Khi thấy kỵ mã Phi-tiễn phi ngựa, thì bất kể một đoàn quân đang đi, bất kể là Thân-vương, Đại-hãn, Đạo-sư đều phải tránh đường cho. Trên toàn lãnh thổ, thiết lập những trạm trú thường trực của kỵ mã Phi-tiễn. Trung bình cứ mỗi đoạn đường 300 dặm lại có một trạm. Khi một kỵ mã Phi-tiễn từ xa sắp tới trạm, thì một kỵ mã Phi-tiễn thay thế phải đứng chờ sẵn, để bạn vừa tới nơi, thì tiếp hộp đựng thư, rồi phi như bay. Ngày đêm, các kỹ mã Phi-tiễn duy trì liên lạc giữa các cánh quân mau chóng. Cho nên, dù các đội quân chinh tiễu ở Vạn-lý Trường-thành, ở kinh đô Ninh-hạ của Tây-hạ, cũng có thể liên lạc với nhau nhanh chóng. Những báo cáo của các tướng về cho Tư-hãn, những lệnh của Tư-hãn ban ra chỉ cần một ngày là tới nơi.

– Hà! Bố cháu đã tổ chức đội Phi-tiễn giống như ngựa trạm của Đại-Việt. Có điều, kỵ mã Phi-tiễn có nhiều quyền hành hơn, có nhiều ngựa tốt hơn, người cũng ưu tú hơn.

Vũ Mạnh tiếp:

– Thành-cát Tư-hãn gửi sứ sang Thổ-phồn, Tây-hạ chiêu dụ làm chư hầu. Lập tức Thổ-phồn cử sứ mang cống lễ đến Hoa-lâm xin quy phục. Còn Tây-hạ thì vua tôi bật cười với nhau: Cái bọn rợ vùng Thảo-nguyên mà dám hỗn với một Hoàng-đế ư?” Họ xé thư, đánh sứ giả ba chục roi, rồi đuổi về. Nghe sứ giả về tâu lại, Thành-cát Tư-hãn lập tức cất quân tiến đánh Tây-hạ.

Thủ-Độ than:

– Hỏng! Tư-hãn  nóng nảy quá. Cháu e sẽ thất bại!

Vũ Mạnh kinh ngạc:

– Sao… Sao cháu biết?

– Dễ hiểu! Quân Mông-cổ là quân kị, chuyên đánh theo lối dàn quân, xung phong trên cánh đồng. Bây giờ lăn mình vào công kiên, đánh thành, thì sao thắng được!

– Đúng thế. Một vài trận đầu, quân Tây-hạ dàn ra nghênh chiến, bị quân Mông-cổ đánh tan. Sau họ rút vào cố thủ trong các thành cao, hào sâu, quân Mông-cổ xung phong nhiều lần đều thất bại. Cuối cùng Thành-cát Tư-hãn phải sai sứ về Hoa-lâm thỉnh phụ thân đệ tới. Tới nơi, lập tức người đem các phương pháp công thành huấn luyện hai vạn quân. Sau đó dùng Lôi-tiễn nã vào thành, rồi cho quân xung phong. Thành hạ được. Thấy rằng đánh nữa, cũng khó thắng, Thành-cát Tư-hãn gửi sứ tới kinh đô Linh-hạ dụ hàng. Vua tôi Tây-hạ chịu đầu hàng. Mông-cổ rút về. Thành-cát Tư-hãn lại nhờ phụ thân đệ với chúng ta huấn luyện phương pháp công thành cho toàn quân Mông-cổ. Việc huấn luyện vừa hoàn tất, thì Kim gửi sứ tơí. Rồi giữa Mông-cổ với Kim xẩy ra một vụ đụng chạm lớn.

– Không phải đụng chạm lớn, mà Kim hành sự ngu xuẩn!

– Ý cháu muốn nói…?

– Kim mù tịt về những thay đổi trên vùng Thảo-nguyên. Họ tưởng Mông-cổ vẫn là một bộ lạc mọi rợ. Họ sai sứ tới, khệnh khạng, hách dịch. Thành-cát Tư-hãn ắt nổi giận, rồi đem quân vượt Vạn-lý Trường-thành đánh Kim.

– Đúng vậy.

– Chuyện xẩy ra như thế nào?

– Hoàng-đế Kim băng hà, đệ lục vương tử Vĩnh-Tế lên kế vị. Trước kia Vĩnh-Tế từng đi sứ Khắc-liệt, y thiết kế cho Khắc-liệt diệt Mông-cổ. Trong khi Mông-cổ với Khắc-liệt có chiến tranh, y đã ra lệnh cho quân biên phòng Kim tràn sang cướp phá bộ tộc Ong-gút thuộc Mông-cổ; để chia bớt lực lượng Mông-cổ đang giao chiến vơí Khắc-liệt… Bây giờ vừa lên ngôi, y sai một sứ đoàn vượt Trường-thành đem chiếu chỉ tới hoạnh họe ba điều. Một là mấy năm qua không tiến cống. Hai là đem quân đánh Tây-hạ, Thổ-phồn là những phiên thuộc của Kim. Ba là để cho quân lính vượt Trường-thành vào Trung-nguyên cướp phá. Hoàng đế Kim bắt Tư-hãn phải tuân theo ba điều: Một là nhận sắc phong của triều đình Kim. Hai là đích thân đến Yên-kinh chầu. Ba là phải cống hàng năm.

Thủ-Độ lắc đầu:

– Cháu đoán có sai đâu. Thế Tư-hãn phản ứng ra sao?

– Khi sứ đoàn Kim đến, thì gặp giữa lúc Tư-hãn viễn chinh Tây-hạ về. Hai bên gặp nhau giữa đường. Sứ giả Kim bắt Tư-hãn phải xuống ngựa, quỳ gối hướng Nam bái vọng.

Thủ-Độ cười ha hả:

– Cháu mà là Tư-hãn thì cháu nhổ nước bọt vào mặt tên sứ!

– Hay! Cháu đoán đúng! Tư-hãn cười nhạt rồi nhổ một bãi nước bọt vào mặt chánh sứ… Thế là sứ đoàn Kim thui thủi ra về như chó cụt đuôi.

– Vậy Kim đem quân đánh Mông-cổ trước, hay Mông-cổ đem quân đánh Kim trước?

– Kim ra quân trước. Sau khi sứ Kim về nước, Vĩnh-Tế nổi giận, sai tướng mang mười vạn quân, vượt Trường-thành quyết làm cỏ Mông-cổ. Nhưng quân Kim là quân bộ, khi tiến vào vùng Thảo-nguyên mênh mông, thuộc lãnh thổ Ong-gút cũ. Người người đều ngao ngán. Viên tướng cho quân đóng trại, cướp lương thực của dân, mục đích để dò xét tình hình Mông-cổ. Tư-hãn sai Triết Biệt mang hai vạn phu, đi nghênh chiến.

– Thế trong hai vạn phu đó, ai là vạn phu trưởng?

– Là hai vương tử Sát Hợp Đài và Truật Xích.

– Trận chiến diễn ra như thế nào?

– Triết Biệt ém quân, rồi thình lình tấn công ban đêm. Chỉ trong vòng không đầy hai giờ, toàn bộ binh tướng Kim bị tiêu diệt… Tin này làm rúng động toàn thể nước Kim. Từ đấy Kim chúa cấm không cho ai nhắc nhở đến Mông-cổ cả. Nhờ vậy mà Mông-cổ được yên ổn, để chuẩn bị tiến vào Trung-nguyên.

oOo

Hôm sau Thủ-Độ từ biệt Vũ Mạnh, lên đường đi Hoa-lâm. Kể từ ngày theo mẹ rời Mông-cổ, cho đến nay trải qua gần mười năm, Thủ-Độ mới trở lại đất cũ. Mỗi bước đi của Hầu, là mỗi kỷ niệm. Trong lòng Hầu nao nao khó tả: Nào sắp gặp lại người cha thân yêu. Nào sắp gặp lại các bạn cũ như Hốt Tất Liệt, Ngột Lương Hợp Thai, Bạt Đô, A Lý Hải Nha. Nào sắp được phi ngựa trên giải đồng mênh mông!

Cái mà Thủ-Độ thấy dọc đường, khác hẳn với xưa kia là: Dân chúng giầu có, những đàn gia súc đếm không thể hết.  Binh lực Mông-cổ hùng hậu hơn  nhiều. Trước, chỉ trang bị cung tên, lao, đao, kiếm. Nay thì máy bắn đá, xe phóng hỏa, Lôi-tiễn, cùng các dụng cụ công thành như thang mây, móc câu…

Trưa hôm ấy sứ đoàn tới thủ đô Hoa-lâm. Vì Thủ-Độ trở lại Mông-cổ với tư cách là sứ thần, nên Hầu không thể về thẳng dinh của phụ thân, mà phải xin vào yết kiến Thành-cát Tư-hãn trước.

Thành-cát Tư-hãn đang họp chư tướng, thì viên lễ quan vào báo:

– Có sứ thần Đại-Việt xin yết kiến Tư-hãn.

Thủ-Huy hỏi:

– Sứ thần là ai?

– Thưa là Đằng-châu hầu Tổng-lĩnh thị vệ tên Trần Thủ-Độ.

Cả triều đình Mông-cổ đều đưa mắt nhìn Thủ-Huy. Tư-Hãn kinh ngạc:

–  Thiên-sứ! Phải chăng là cháu Thủ-Độ của mình?

– Không lẽ…?

Tư-hãn ra lệnh:

– Dù là cháu Thủ-Độ hay người khác, thì cũng là sứ thần Đại-Việt. Vậy xin Bác Nhĩ Truật huynh ra đón sứ đoàn vào.

Cửa viên môn mở rộng. Trống thúc ba hồi, Bác Nhĩ Truật ung dung ra cửa. Thủ-Độ vừa trông thấy ông, Hầu reo lên :

– Chú Bác Nhĩ Truật! Chú có nhớ cháu không?

Đúng ra với thời gian gần mười năm, Thủ-Độ từ một đứa trẻ ngây thơ, bây giờ trở thành một thiếu niên hùng vĩ trong y phục đại triều Đại-Việt, thì muôn ngàn lần ông không nhận ra được. Nhưng Thủ-Độ chào ông bằng tiếng Mông-cổ, thì ông nhận ra Hầu liền. Ông reo lên:

– Chà! Không ngờ sứ thần là cháu.

Thủ-Độ, cùng sứ đoàn đươc mời vào đại bản doanh.

Lễ nghi tất.

Thủ-Độ tâu với Tư-hãn:

– Trị-bình Long-ứng hoàng đế sai cháu lên yết kến Tư-hãn để trình quốc thư, xin cho bố cháu trở về Đại-Việt.

Nói rồi Hầu trịnh trọng trao quốc thư. Thành-cát Tư-hãn tiếp thư đọc xong. Ông nói với Thủ-Huy:

– Phò mã là Thiên-sứ, là người mà trời ban cho ta. Suốt gần hai mươi năm qua, Thiên-sứ như ngôi sao thủ mệnh của Mông-cổ. Nhưng nay, xem ra tình dân thế nước Đại-Việt rối ren lắm rồi, nếu Thiên-sứ không về thì e triều Lý không còn nữa. Hay Thiên-sứ trở về, tuốt gươm quét sạch bọn vua chúa hôn ám bọn quan lại thối tha triều Lý đi, rồi lên làm vua. Vậy Thiên-sứ định sao?

Thủ-Huy nói lớn cho cả triều đình cùng nghe:

– Huy này vốn là khách của Tư-hãn mời lên săn bắn rồi hòa hợp với anh em, cùng chung sức thống nhất Thảo-nguyên. Vì vậy Thủ-Huy này không còn là một người của triều Lý nữa, mà là của Mông-cổ. Mông-cổ là đất nước của Thủ-Huy. Vậy xin đợi cho đệ hỏi han chuyện nhà đã rồi sẽ thưa với Tư-hãn sau.

Cuộc họp bãi.

Hai cha con Thủ-Huy về tư dinh. Thúy-Thúy thấy Thủ-Độ cao lớn, uy vũ còn hơn cha khi xưa. Nàng mừng lắm:

– Con! Con đã lớn thế này rồi ư?

Buổi chiều hôm đó, Thủ-Huy, Thúy-Thúy ngồi im lặng nghe Thủ-Độ tường thuật những gì đã xẩy ra từ khi Hầu theo mẹ về quê. Trước hết là cái chết  của công chúa Đoan-Nghi. Nghe con thuật Thủ-Huy nghiến răng kèn kẹt:

– Vụ này quyết do Tống với bọn gian thần Việt làm, chứ nhà vua không biết gì.

Hầu thuật việc bị anh em Thái-tử Long-Xưởng cùng bọn Gia-thụy ngũ anh hành hạ cực tàn nhẫn. Thủ-Huy hừ một tiếng:

– Được! Con phải ghi nhớ cái hận đó để sau này sẽ trả gấp ba, gấp bốn lần.

Thủ-Độ thuật tiếp việc Hầu làm quỷ ba đầu, tập họp bọn ăn mày lại, tổ chức thành đội ngũ, lập bang Lĩnh-Nam. Thủ-Huy mỉm cười tỏ ý hài lòng. Cuối cùng, Thủ-Độ thuật việc hầu phong cho bọn Tây-hồ thập bát anh hào làm Khả-hãn, rồi sai đi khắp nước huấn luyện thanh niên, tập hợp bọn thiếu niên cùng khổ…Tổ chức bang Lĩnh-Nam như một triều đình.

Thủ-Huy cười ha hả:

– Con ta tuy sống trong nhục nhằn, trong cô đơn, nhưng cũng không làm tiêu ma chí khí. Trái lại, nó làm được những điều mà chưa từng một người Việt nào làm được. Hà! Bây giờ, nó từ ông vua ăn mày, bỗng trở thành một ông vua không ngai nắm được một lực lượng quần chúng. Một mai nếu cần, chỉ việc phất cờ, thì cái triều Lý thối tha không còn nữa.

Thủ-Độ thuật tới những việc đạo cô Vương Thụy-Hương làm. Thủ-Huy kinh hãi đến đờ người ra. Công nhìn Thúy-Thúy thở dài:

– Chúng ta tuyệt không ngờ Thụy-Hương còn sống! Cũng không bao giờ ngờ nàng lại giết chết bọn Đỗ An-Di, Mạc Hiển-Tích. Kinh thực!

Thủ-Độ thuật tiếp về cuộc thi võ. Thủ-Huy cau mày cốc lên đầu con:

– Con tôi nhu nhược quá. Cái bọn Gia-thụy ngũ anh làm nhục con đủ điều, định giết con bao phen, mà con chỉ đánh bay chúng xuống hồ sen thôi ư? Con nhớ nhé. Tự hậu, gặp những trường hợp như thế phải nặng tay!

– Thưa bố, giết chúng sao?

– Không! Không nên giết, mà phải đánh cho chúng tàn tật, để rồi chúng sống không nổi chết không xong, ta mới khoan khoái trong lòng.

Thủ-Độ trở lại với vấn đề chính:

– Trị-bình long-ứng hoàng đế ban chỉ…

Đúng ra thì Thủ-Huy phải cho thiết lập hương án, rồi quỳ gối quay mặt về Nam nghe đọc chiếu chỉ. Nhưng vì quá căm thù triều Lý, đi đến khinh rẻ, Công bảo con:

– Con đưa chiếu chỉ cho bố em nào?

Thủ-Độ trao chiếu chỉ cho bố. Thủ-Huy mở ra đọc. Trong chiếu đại ý nói, triều đình ân xá cho Thủ-Huy cái tội vi chỉ, thay vì sang Tống lại bỏ đi Mông-cổ. Cuối cùng là triệu hồi Thủ-Huy về để trao đại quyền.

Thủ-Huy đờ người ra suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Bố đã để ra cả một thời niên thiếu vơí biết bao tâm huyết cho triều Lý. Cuối cùng thì người ta trả ơn bằng cách biến bố mẹ thành cống vật cho Tống. Mẹ con chết cũng do triều Lý mà ra. Bây giờ đất nước loạn ly, kỷ cương tan nát, họ lại gọi bố về như gọi một con chó! Hừ! Bố không ngu đâu. Con gọi phó sứ vào đây!

– Thưa bố để làm gì vậy?

– Bố bảo y về nói với cái triều đình thối tha kia rằng bố quá kinh tởm chúng rồi. Bố không về.

Thúy-Thúy can:

– Thôi anh! Làm vậy thì thỏa cơn tức đấy, nhưng đó không phải là lối hành xử của người trí.

– Thế Thúy-Thúy định sao?

– Trừ phó sứ, bốn bồi sứ, còn lại, toàn thể nhân viên sứ đoàn đều là đệ tử phái Đông-a. Sao anh không lưu họ lại đây. Triều đình nhà Lý không thấy sứ đoàn trở về, thì cho rằng thuyền bị đắm hoặc bị bão chìm rồi. Như vậy có phải là tốt đẹp không?

Thủ-Huy vỗ tay:

– Hay thực! Thôi, Thúy-Thúy thay anh làm đi.

– Anh yên tâm.

Thủ-Huy chỉ Thúy-Thúy bảo Thủ-Độ:

– Khi được tin mẹ con khuất núi, sau thời gian cư tang, bố đã tục huyền với Thúy-Thúy rồi. Bây giờ Thúy-Thúy là mẹ kế của con đó.

Thủ-Độ vội quỳ gối hành đại lễ:

– Con xin ra mắt mẹ.

Thúy-Thúy cảm động đỡ Thủ-Độ dậy. Nàng bảo Hầu:

– Dù con là con, hay là cháu, thì trước sau mẹ cũng vẫn thương yêu con như xưa.

Thủ-Huy mỉm cười nhìn Thúy-Thúy:

– Báo cho con biết tin mừng. Con có hai em, một trai, một gái. Để bố gọi chúng ra cho con xem mặt.

Thủ-Huy lên tiếng gọi:

– Thủ-Minh, Như-Như đâu?

Hai đứa trẻ xinh xắn chạy ra:

– Thưa bố con đây.

Thủ-Huy chỉ vào Thủ-Độ:

– Anh của các con đấy!

Như Như mở to mắt:

– Anh Thủ-Độ hay An-Quốc?

– Thủ-Độ.

Tình nhân luân ngùn ngụt trong tâm Thủ-Độ. Hầu quàng tay ra ôm lấy hai em, rồi lặng đi một lúc. Nước mắt dàn dụa, Hầu nói với Thúy-Thúy:

– Không ngờ con có hai em dễ thương thế này đây. Cảm ơn mẹ đã cho con hai đứa em. Con sẽ yêu thương chúng, dạy dỗ chúng.

Thế rồi, trong nhà Thủ-Huy, suốt mấy tháng, cha con, anh em sống trong cái hạnh phúc nhỏ bé. Thủ-Độ luôn kể chuyện quê hương cho Thủ-Minh, Như-Như nghe. Hai trẻ suốt ngày đeo cứng bên anh.

oOo

Một hôm, Thủ-Độ đang ngồi nghe bố giảng về chiến pháp Mông-cổ, thì thân binh vào báo:

– Thưa Thiên-sứ, có bốn người bạn của tiểu chủ xin vào cầu kiến.

Thủ-Độ hỏi :

– Là những ai vậy?

– Là bốn vương tử Hốt Tất Liệt, Bạt Đô, A Lý Hải Nha, và Ngột Lương Hợp Thai.

Thủ-Huy bảo con:

– Trong thời gian vắng con, bố thu nhận bọn Thảo-nguyên ngũ điêu làm đệ tử, luyện võ cho chúng. Chúng học binh pháp ngày đêm. Không biết con có theo kịp chúng không? Thôi con hãy ra gặp bạn cố tri đi.

Thủ-Độ đứng lên ra ngoài đón khách. Năm trẻ gặp nhau, họ reo lên ôm lấy nhau, rồi cùng hét lên những tiếng vô nghĩa.

Hốt Tất Liệt bảo Thủ-Độ:

– Thằng Hai ! Chúng ta xa nhau thoáng một cái, đã trải mười năm dư. Bây giờ phải tìm chỗ, cùng uống rượu, ăn thịt, kể cho nhau nghe những gì chúng ta đã gặp, đã làm trong thơì gian cách biệt.

A-lý Hải-nha nắm tay Thủ-Độ:

– Cách đây mấy tháng, bọn này được tin nhị ca trở lại Mông-cổ, nhưng vì phải luyện quân ở vùng sông Tây-bình, nên không về ngay được. Hôm qua, luyện quân xong, cả bốn đứa phi ngựa như gió về gặp nhị ca cho thỏa nhớ nhung.

Hốt Tất Liệt hỏi:

– Sư phụ đâu?

– ???

– Là thân phụ đệ đó.

– Ta đây.

Thủ-Huy lên tiếng:

– Các con luyện quân có gì khó khăn không?

Bốn trẻ cùng hành lễ:

– Bái kiến sư phụ.

Bạt Đô tiếp:

– Kỳ này luyện quân để công kiên, chuẩn bị đánh Kim, nên hơi vất vả. Tuy vậy bọn con cũng vượt qua được.

Thủ-Huy vẫy tay:

– Thôi các con cứ tự nhiên. Các con đi chơi với nhau đi.

Năm trẻ từ biệt Thủ-Huy lên ngựa ra đi.

Bạt Đô chỉ vào một ngôi nhà ẩn hiện trên đỉnh ngọn đồi không xa:

– Chúng ta lên ngôi nhà Vọng-thiên của Thành-cát Tư-hãn kia, mà đàm luận mới thú vị.

– Phải đấy.

Năm người trẻ cùng phi ngựa lên đồi. Một tiệc thịnh soạn được bầy ra. Hốt Tất Liệt cầm bình rượu rót ra năm cái chung, rồi nói:

– Nào! Chúng ta cùng uống chung này, để đánh dấu buổi tái ngộ, sau mười năm xa cách.

Năm người đều cạn chung. Hốt Tất Liệt hỏi:

– Thủ-Độ! Trong mười năm qua bốn chúng ta học võ với thân phụ người. Học binh pháp với ông nội ta. Hiện nay, chúng ta đều được phong tướng quân, hàm Vạn-phu trưởng. Rồi đây, ông nội ta sẽ phong cho người làm Vạn-phu trưởng không chừng. Chả biết trong thời gian qua, người đã học được những gì?

– Về võ tôi được ông bà nội đích thân truyền thụ. Về văn thì tôi học với bà vợ của bác tôi. Còn binh pháp, thì tôi học với bác tôi, với chồng của cô tôi. Có điều binh pháp mà tôi học là binh pháp Đai-Việt, khác xa với binh pháp Mông-cổ. Chắc tôi không làm Vạn-phu trưởng được đâu!

Bạt Đô xua tay:

– Anh nói không đúng. Binh pháp mà chúng tôi học, đều do Thành-cát Tư-hãn với sư phụ soạn ra. Chỉ cần thân sư phụ bỏ ra hai tháng dạy anh, thì bản lĩnh của anh sẽ vượt qua chúng tôi ngay.

Ngột-lương Hợp-thai tò mò :

– Này anh Thủ-Độ! Bọn này đều có vợ cả rồi. Vậy anh đã lấy vợ chưa?

– Chưa! Tuy nhiên tôi đã có người yêu. Người yêu của tôi đẹp lắm, võ công lại cao thâm khôn lường.

Rồi Hầu thuật lại mối tình của mình với Kim-Dung cho bốn người bạn nghe.

A-lý Hải-nha nghe xong, gương mặt y tỏ ra đăm chiêu:

– Nguy quá!

Thủ-Độ hỏi:

– Nguy là thế nào? Em nổi danh mưu thần, chước thánh. Chắc em nhìn ra cái nguy, trong khi tôi mù tịt.

– Đúng vậy! Anh Hai ơi! Cứ như anh Hai nói, thì cái tên khả ố Lý Long-Sảm say mê Kim-Dung của anh. Nó là Thái-tử, ngồi trên cương vị chủ nhân. Anh nhận chức tước của triều Lý, thì anh là bầy tôi của nó. Ví thử bây giờ, nó tâu với nhà vua, hỏi Kim-Dung cho nó, dĩ nhiên bác anh gả ngay. Bấy giờ anh đâu có lý do gì phản đối?

Thủ-Độ phát lạnh:

– Nhưng Kim-Dung không bằng lòng lấy nó. Nàng chỉ biết có tôi thôi!

– Anh nói! Luân lý Đại-Việt không cho con chú, con bác lấy nhau. Kim-Dung không thể mở miệng nói với cha mẹ rằng nàng yêu anh. Có đúng vậy không?

– Đúng.

– Trong khi Long-Sảm đã ở địa vị cao quý, lại không tỵ hiềm máu mủ. Y mà cầu hôn thì bác anh thuận ngay. Tôi sợ, ngay trong lúc chúng ta ngồi đây, tên Long-Sảm đang trên đường tới Thiên-trường cưới Kim-Dung.

Bạt Đô tỏ vẻ hiểu biết hơn:

– Đệ nghĩ, Long-Sảm không cần cầu hôn, y cũng có thể đem Kim-Dung về làm vợ!

Thủ-Độ phát cáu:

– Có lý nào?

– Theo luật lệ Trung-quốc, Đại-Việt, thì tất cả con dân trong nước đều thuộc quyền nhà vua. Nhà vua muốn cho ai sống thì sống. Muốn cho ai chết thì chết. Nhà vua ưng người đàn bà nào thì cứ việc đem vào cung. Đệ nghe sư phụ thuật, trước đây vua Lý Thánh-Tông đi tuần du, gặp một thiếu nữ xinh đẹp đứng dựa gốc lan. Ngài truyền đem vào cung, phong làm Ỷ-Lan phu nhân. Ngài đâu cần hỏi ý kiến cha mẹ thiếu nữ? Bây giờ Long-Sảm cũng dùng quyền ấy, thì… Kim-Dung thành tỳ thiếp của y ngay.

Nghe Bạt Đô nói, lòng Thủ-Độ nóng như lửa. Hầu muốn mọc cánh bay về Đại-Việt tức thời.

Hốt Tất Liệt hỏi A-lý Hải-nha:

– Em có mưu gì giúp Thủ-Độ không?

– Ngay bây giờ Thủ-Độ âm thầm lấy thuyền về Đại-Việt, rồi rủ Kim-Dung đi chơi trăng. Khi nàng xuống thuyền, ta đánh thuốc mê rồi mang sang bên này! Thế là mọi sự tốt đẹp.

Bạt Đô cẩn thận hơn:

– Thủ-Độ phải làm cách nào xin phép sư phụ về Đại-Việt. Chứ trốn đi người sẽ sai thiết kỵ bắt lại thì hỏng bét.

– Không khó! Thành-cát Tư-hãn đang muốn chuyển mấy Vạn-phu về biên giới Kim. Chúng ta cùng tình nguyện đi. Anh Cả xin Thành-cát Tư-Hãn cho Thủ-Độ đi theo làm quân sư. Chúng ta tới Kim, thì để Thủ-Độ lấy thuyền về Đại-Việt.

Ngột-lương Hợp-thai xua tay:

– Không nên. Như vậy chúng ta nói dối sư phụ, nói dối Thành-cát Tư-hãn sao?

Thủ-Độ quyết định:

– Khi gặp đường cùng, thì cũng phải tòng quyền, chứ biết sao được.

Đến đó thân binh vào báo:

– Thành-cát Tư-hãn giá lâm.

Hốt Tất Liệt hô Thảo-nguyên ngũ điêu ra đón. Thành-cát Tư-hãn cùng Thiên-sứ Thủ-Huy, Cửu đại sơn điêu, Cửu đại thiết lang, dùng ngựa thủng thỉnh lên đồi.

* Ghi chú của thuật giả: Trong bộ Mông-cổ dật sử của Lý Khánh viết vào niên hiệu Diên-hựu nguyên niên đời vua Nhân-tông nhà Nguyên (Giáp Dần 1314) và bộ Thái-tổ cảo lục của Hoàng-phủ Đức viết vào niên hiệu Chí-trị thứ ba đời vua Anh-tông nhà Nguyên (Quý Hợi, 1323) thì:

Cửu đại sơn điêu là chín đại tướng khai quốc công thần của Mông-cổ, sau đều được phong thân vương. Chính Thành-cát Tư-hãn truyền làm chín cái răng cưa trên quốc kỳ Mông-cổ, rồi móc chín cái đuôi sơn ngưu lên, tượng trưng uy quyền của chín vị tướng này. Chín tướng xếp theo thứ tự là: Bác Nhĩ Truật. Tốc Bất Đài. Mộc Hoa Lê. Xích Lão Ôn. Gia Luật Mễ. Triết Biệt. Bác Nhĩ Hốt. Dược Sơ Đài. Bác Khô La.

Chín thân vương này chỉ huy chín binh đoàn Lôi-kỵ của Mông-cổ. Người Trung-hoa thù hận Mông-cổ, họ gọi quốc kỳ Mông-cổ là Cửu mao đại đạo (Chín cái lông của bọn cướp).

Cửu đại thiết lang. Tức chín con sói xám. Người Mông-cổ tự cho mình là giòng dõi của sói xám, cũng như người Việt mình xưng là con Rồng cháu Tiên vậy. Thành-cát Tư-hãn ban cho bốn em (Ông chỉ có ba em, nhưng nhận Lý Long-Tùng làm em nuôi), bốn con, con rể, mỹ danh Cửu đại thiết lang, theo thứ tự: Lý Long-Tùng tên Tây-phương phiên âm thành Shevongton. Biên Gô Đài. Cát Xa. Tê Mô Gu. Truật Xích. Oa Khoát Đài. Sát Hợp Đài. Đà Lôi. Đô Gu Sa.

Chín người trong Hoàng-tộc này, mỗi người chỉ huy một binh đoàn, gọi là Thân-binh.

(Còn tiếp – Hồi 39)

Share this post