Áo Mơ Phai (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 6 (Tiếp theo)

Áo Mơ Phai (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 6 (Tiếp theo)

ÁO MƠ PHAI
* Tiểu Thuyết – NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
* Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc VNCH 1973
* Nguyễn Đình Vượng xuất bản lần thứ nhất, Sài Gòn – 1972

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài & Hồi Ký.

CHƯƠNG SÁU

(Tiếp theo)

Đến một tuổi nào người đàn bà không còn đẹp nữa, nhưng có những lúc nhan sắc vẫn ánh lên cái vẻ quyến rũ buồn bã của buổi xế chiều, giống như một bông hoa đang tàn đẹp cái vẻ đẹp tàn tạ của nó, những lúc nhìn thấy vợ mỏi mệt, héo hon, bị xâm chiếm bởi tuổi già, như cái bóng chiều đang chậm chạp tắt đi, ông thấy ruột gan thắt lại, và chính ông, ông cũng đang bị cái bóng chiều ấy đè nặng trên đầu, nó đang biến mái tóc của ông thành nửa trắng nửa đen, nó đã làm cho ông quên hết những lời nói đủ sức thắp nàng sáng lên trong đêm khuya. Chuyện của hai người bây giờ là chuyện về những ngày thời tiết lạnh lẽo, chuyện về bữa cơm ăn hàng ngày, chuyện về ly cà phê buổi sáng tách trà buổi chiều, chuyện về đứa con gái duy nhất đã đi học, đi chơi, đòi may áo quần, xin thứ này thứ nọ, chuyện về những hôm trái nắng trở trời, đau xương, đau cốt, ông tự tay kiếm cho bà những hộp thuốc, những lọ thuốc, chỉ dẫn cách dùng, dặn dò con gái tiêm cho mẹ những ống thuốc vào giờ nào, những đêm khuya hai vợ chồng thức giấc chuyện trò về những công việc đã làm, kể lại những ngày tháng đi theo kháng chiến, những ngày chiến dịch Cao Bắc Lạng được phát động rầm rộ, những thanh niên trong một trận đánh úp một đồn binh Pháp tại biên giới đã chia làm hai toán, một toán đi vòng sau đất Tàu, leo núi đánh úp phía sau, trong lúc leo núi đã có mấy người chết vì lạnh, những người chết, theo những người còn sống kể lại, trước khi chết đều rú lên những tiếng như những con lợn bị chọc tiết, vì không chịu nổi cái lạnh, sau đó lăn ra chết, hai lỗ tai, hai lỗ mũi và miệng, đều rỉ máu, họ nhắc lại những ngày ông đã phải chữa chạy cho các bệnh nhân, các thương binh, trong điều kiện thiếu thốn thuốc men, vật dụng, có những người không đáng chết đã phải chết, những cái chết đó đã trở thành nỗi ám ảnh ghê sợ đối với một y sĩ như ông, những trường hợp bệnh phải cưa, mổ, không có thuốc mê, những bệnh nhân được giải phẫu và khỏi bệnh khiến các y sĩ ngạc nhiên, làm việc như thế, ông khám phá ra một điều, sức chịu đựng của con người rất bền bỉ và đời sống không phải là một thứ dễ bị hủy diệt. Tuy nhiên sau những ngày, đêm làm việc trong các điều kiện kinh khủng đó, lương tâm của một y sĩ đã ray rứt ông không nguôi, phép lạ không thể xẩy ra mãi được, trong tình trạng nào đó, không đủ phương tiện chữa chạy, một bệnh nhân, một thương binh phải chết, hắn phải chết, một y sĩ như ông không muốn tin ở những ngoại lệ, ông chỉ muốn tin ở khả năng của y khoa, dần dần ông nhận ra ông dự đoán những trường hợp người bệnh sẽ chết dễ dàng hơn dự liệu những phương cách cứu chữa, dĩ nhiên đó không phải lỗi ông hay những đồng nghiệp của ông, nhưng chịu đựng một hoàn cảnh như thế không phải một việc dễ dàng, một y sĩ không thể giải phẫu trong tình trạng tinh thần một kẻ sát nhân, sốt rét không phải là một bệnh khó chữa, nhưng những kẻ chết về chứng bệnh này như sung rụng mỗi ngày, cái bàn tay đã chùn trước những công việc biến ông thành một kẻ gần như vô dụng, bàn tay ấy ông cũng khó khăn khi cầm giữ hạnh phúc của mình, vẻ bạc nhược của ông đã hiện rõ trên nét mặt buổi chiều khi ông trở về nhà.

Cái phút giây hạnh phúc và không hạnh phúc, cái tình của tuổi già đôi khi ông thấy nó cũng chẳng khác chi đời sống và cái chết, đời sống được treo lửng lơ trong cái chết bằng những hơi thở, cái chết ẩm ướt đã tản mạn khắp mọi nơi, thút nút trong hai lỗ mũi ông mỗi ngày nắng hanh, trời sáng chói trong nắng, nhưng cái lạnh vẫn đủ làm cho người ta tê cóng, ông đã khổ vì cái chứng ngạt mũi, nếu là một bệnh nhân do ông điều trị ắt ông đã đề nghị với họ hãy chịu một cuộc giải phẫu để chữa trị tận gốc cái chứng đó, một công việc dễ dàng không mất bao nhiêu thì giờ, nhưng để tự điều trị thì ông lại lười biếng, kiếm thuốc nhỏ những khi bị nghẹt thở, sau đó tự hẹn lần, cứ như vậy kéo dài đến tận bây giờ ông đâu đã chữa dứt được cái chứng đó, các ông thầy thuốc thường coi thường những bệnh của chính mình, hình như đó tật chung của họ, nhiều người đã chữa bệnh của mình không phải vì cho là cần thiết, nhưng chỉ vì một lẽ giản dị để bệnh như thế là một điều khó coi đối với các bệnh nhân mà họ điều trị. Tình ái trong tuổi của ông với bà bây giờ hiếm muộn như những ngày ấm áp trong mùa Đông, không còn những ham mê nồng nhiệt, mọi sự diễn ra lặng lẽ, xưa kia mỗi lần nghĩ đến nàng trong những ngày vì công việc phải xa nhà, xa không bao lâu, dăm bữa, nửa tháng, nhưng nghĩ tới nàng, cái rạo rực mà ông cảm thấy, cái đời sống luân chuyển rộn ràng trong huyết quản khiến ông luôn luôn nghĩ tới một bình minh trong một vịnh biển, một mặt trời chói lọi trên đỉnh núi, chiếu ánh hồng trên muôn cây, trên những mỏm đá, trên mặt nước rạt rào, cái êm ái, cái mênh mông đó, bây giờ đây, chỉ ngay phút rời khỏi nàng, ông có khi đã nghe cái lạnh lẽo truyền đi khắp người, một cảm giác khô cạn vang âm tiếng im lặng, tựa một chiếc giếng khô, không phải là lúc chiều tà nữa mà đó là thời khắc trời đất đã nhá nhem, chính cái sự giá lạnh ông cảm thấy đó, đã làm cho ông nhận ra sự thu nhỏ lại của mình, cứng nhắc trong nỗi cô đơn, sợ hãi ngay cả sự tưởng tượng đến lần kế tiếp.

Nhưng không phải vì thế không có những ngày, ông nhận thấy lại lòng phấn khởi, yêu đời, khiến ông không phải chỉ ước ao, mà còn thấy như là, mình có thể sống thêm một trăm năm và còn sống thêm một trăm năm nữa, ông trở về nhà với nỗi hân hoan giấu kín, chuyện trò vui vẻ với vợ con, nhưng nàng thì dường như không còn đủ sự nhậy cảm để nhận ra cái sự vui mừng kín đáo của ông nữa, cũng có thể nàng nhận ra, nhưng chính nàng không còn thể hòa nhịp với ông nữa, và nàng giữ vẻ lặng lẽ bình thường, điều có thể làm ông thắt ruột, nàng như vậy, ta đã không thể nào biến nàng thành một người khác được, bây giờ cái vỏ đã quá cứng, ông không còn cách nào đập vỡ cho nàng, nàng sẽ không thể nào thích hợp được với tình trạng bị nhấc ra khỏi cái vỏ cũ như một chiếc hột bàng đã bị đập vỡ, ông cũng chẳng thể nào biến thành cậu học trò để làm cái công việc này, dù đó là cái việc ông chẳng hề quên, cứ mỗi lần đi qua dưới những cây bàng trái chín vàng rụng đầy gốc, hay những mùa Thu nhìn lên cái tàng cây, tất cả những chiếc lá còn lại bên trên, đều đang cùng một lúc chuyển từ màu hồng sang sắc đỏ xen lẫn ánh vàng, những chiếc lá mỗi trận gió thổi qua thế nào cũng có chiếc rời khỏi cành rơi lảo đảo trước khi rớt xuống đất, ông vẫn còn như nhìn thấy bóng đứa nhỏ là chính mình xưa kia đi nhặt hột bàng, đập lấy cái nhân bỏ vào miệng nhai, ông sợ hãi chính cơn mơ tưởng của mình, sợ hãi những giây phút hiếm hoi của những ngày bỗng nhiên ông cảm thấy sự sống bừng lại dưới những cơn mộng mị khô héo của mình, hơn ai hết, ông biết rõ cái ngọn lửa yếu mềm giả tạo đó nó chẳng được bao lâu, và chính nó sẽ làm cho ông sau đó, thấm ngầm hơn cái nỗi tuyệt vọng, sầu thảm của tuổi già mình, và lại thêm một lần, ông phải tự nhủ đừng để trí tưởng lôi cuốn, ta đã già ta không thể và cũng không muốn làm đứa trẻ đập hột bàng nữa, từ một ông già với mái tóc bạc trong gương cười cợt sự già nua của mình đến đứa nhỏ vai đeo cặp, tay xách giầy chạy nhảy trên đường đến trường, lê la dưới gốc bàng nhặt những trái bàng chín rụng, những trái bàng còn nguyên cùi đỏ tươi, khi bị ghè đập ứa ra một chất nước thơm ngọt nhưng đứa trẻ vẫn thích cái nhân béo ngậy của trái bàng hơn, cái nhân phải đập cho khéo để còn nguyên hạt, cái hạt có một lần da nâu mỏng nhăn nheo bọc ngoài nhưng cái nhân bên trong trắng nõn, đập một lượt năm bảy hột nhặt được, những hột bàng đã khô đập lấy nhân dễ hơn, bỏ những cái nhân vào túi, vừa đi đường vừa ăn, những cái nhân hột bàng bị nhai vỡ lọt trong khe những chiếc răng sún, vào lớp học phải lấy ngòi bút, cái ngòi bút đầy mực tím, khẽ lùa vào kẽ răng lấy ra, mực bị dính nước bọt chảy tèm lem ra hai bên mép và dây trên môi, và cứ thế mang cái miệng đầy vết mực về nhà, bị mắng, bị hỏi vặn, nhất định không chịu hé răng nhận là đã sỉa răng bằng ngòi bút.

Trong những buổi chiều đầu mùa Thu, khi những trận gió heo may bắt đầu thổi rơi những chiếc lá bàng to mầu nâu hay mầu vàng rám đỏ rớt xuống đầy đường giống như những chiếc khăn tay, ông Nam từ giảng đường ra thường thấy lòng bỗng nhiên xao động, những trận gió heo may thứ nhất trong năm bao giờ cũng làm ông cảm thấy bị xao động như thế, và ông không định trước nhưng cứ đi bộ loanh quanh qua những con đường vắng vẻ, những con đường ông còn ghi dấu vàng son của tuổi thanh xuân ông, cả những viên gạch lát đường đã có lúc ông tưởng như đập theo trái tim rộn rã trong lồng ngực ông trong buổi hẹn hò thứ nhất, những cái cây ngày nào còn ngang tầm tay với của đứa trẻ, bây giờ đã cao ngất, cành lá rườm rà với cái lần vỏ nứt nẻ của một thứ cổ thụ, mọi vật đã biến đổi trong cái phù thế, trong cái trầm luân, với ta nữa, từ một đứa trẻ nhảy nhót như chim sẻ trên đường bây giờ đã trở thành một kẻ da mồi tóc bạc, đứa nhỏ chập chờn trước mắt ông đó luôn luôn có một vẻ sợ sệt, như một con chim sẻ khôn ngoan, chỉ còn nghe một tiếng động nhỏ có khi còn đoán được ý nghĩa của kẻ muốn chụp bắt nó nên bao giờ cũng cất cánh bay thoát đúng lúc, chẳng khi nào ông có thể lại gần.

Khi chiếc xe chạy về đền Ô Cầu Giấy, nắng chiều cũng đã hết. Nhưng ánh sáng còn sót của ngày vẫn đủ sáng để mọi người và xe cộ đi lại trong thành phố chưa cần đến đèn.

Đó là lúc ông Nam cũng nhớ ra đã đi với vợ con suốt một con đường dài như vậy mà ông không hề mở miệng nói một tiếng nào.

Ông nhìn lại vợ một lần nữa trong tấm gương, và nhìn vợ một lần ở bên ngoài.

Người đàn bà không hề biết chút gì về cái sự nhìn ngó và suy nghĩ của chồng, từ nãy đến giờ.

Bà giữ vẻ bình thản và có vẻ hơi mệt vì chuyến đi.

Ngồi ở băng sau xe, Lan có trông thấy bố nhìn mẹ, có để ý đến vẻ mặt lặng lẽ và đôi khi hai hàng lông mày của bố cau lại, nhưng nàng cho rằng có lẽ ông phải chú ý đến việc lái xe nên đã có vẻ mặt như vậy.

Xe chạy về đến Chợ Cửa Nam, vừa lúc các nhân viên trong các công tư sở tan ra, chạy xe tản mạn trong các khu phố trở về nhà. Hè phố cũng đông khách bộ hành, những người ở trong chợ cũng sửa soạn ra về, chạy nhớn nhác trước cửa chợ.

Xe điện giật chuông leng keng. Một đám học trò đi xe đạp từ phía Hàng Bông xuống, len lỏi, vượt qua mấy chiếc xích lô và mấy chiếc xe hơi, bị một chiếc xe nhà binh từ phía Ga Hàng Cỏ chạy vòng tới, luýnh quýnh ép vào nhau chạy nép vào lề đường, và trước khi băng qua con đường sắt của xe điện một người bị lọt bánh xe xuống đường xe điện, ngã lăn chiêng, chiếc xe nhà binh chồm tới, người lính Pháp lái xe đạp phanh gấp, chiếc xe bị hãm bất thình lình chồm lên, bánh siết trên mặt đường cháy khét, những người đi đường rú lên kinh hãi, bánh xe nghiền nát chiếc xe đạp nhưng cậu học sinh ngã văng ra phía xa may mắn thoát chết, người lính Pháp mở cửa xe nhảy xuống chửi bới om sòm, bạt tai người học sinh, một số người bu lại can thiệp. Khu phố trong phút chốc bị nghẽn lối. Cảnh binh tới lập biên bản, cậu học sinh mặt tái mét, đứng run lập cập.

Bà Nam chứng kiến cảnh này được dịp nhắc lại lời khuyên con đi đường phải để ý đến xe cộ, cứ nghếch mắt ra có ngày chết.

Lan không kịp nghe những lời mẹ nói, nàng khó chịu khi nhìn thấy cảnh người học sinh bị tên lính Pháp đánh.

Phải chờ một lúc khá lâu, xe cộ mới lại di chuyển được. Xe đi qua nhà một người bạn, một cửa hàng bán kẹo bánh. Người bạn nổi tiếng đẹp ở trường, Lan ngó vào bên trong nhưng không thấy bạn đâu. Những dãy lọ đựng bánh kẹo được xếp trên mấy chiếc bục gỗ đóng thành từng, kê sát vào hai bên tường và đấu lưng vào nhau ở giữa nhà làm thành bốn dẫy kệ. Lan nhìn thấy những lọ kẹo gói bằng giấy bóng màu, giấy bạc, và những lọ kẹp gói bằng giấy bóng màu, giấy bạc, và những lọ bánh với những chiếc bánh có hình thù khác nhau, vuông, tròn, dài xoắn hình ốc. Người bạn có tên trùng với Lan, Lan ít bạn và đó là người bạn hiếm hoi Lan thấy có những điều kiện thích hợp để chơi với nhau, học hành, trò chuyện trong những giờ ra chơi, bơi thuyền, đi xem chớp bóng, dạo phố và đôi khi bàn phiếm về một vài dự tính trong tương lai. Bạn Lan tin rằng nó có thể định trước được tương lai của mình. Đó là điều Lan vừa có vẻ phục vừa có vẻ muốn riễu cợt. Bạn nàng cho rằng nếu người ta không dự liệu được tương lai của chính mình thì người ta sẽ chẳng mong làm nên trò trống gì khác.

Một buổi trưa hai đứa đã đi bộ từ nhà bạn Lan ra còn đường Gambetta, băng qua con đường nhựa rộng nóng bỏng trước Ga Hàng Cỏ, vào hẳn trong Ga ngồi chơi.

Cái nhà ga, trông bên ngoài có vẻ to lớn với một bức tường dài, và một lối kiến trúc đằng trước cửa trông giống như một nhà bưu điện, tất cả được quét vôi vàng nhạt, cái mầu vàng đã bị mưa nắng làm phai thêm mãi, gần biến thành màu trắng, mà cũng có thể thực ra nó là màu trắng đã bị ố vàng, nhiều chỗ vôi bị tróc từng mảng, hoặc rêu đen. Ga khá lớn thật, mái cao, đi vào phía trong chiếc vòm cổng lớn, tiếng guốc vang vang vui tai, cùng một lúc gió mát và hơi nóng lùa thổi từ khoảng sân ga tráng xi măng và những con đường sắt ngoằn ngoèo chằng chịt chia đi các ngả phía xa lại, làm quần áo hai người bay tung, nhà ga vào giờ này không có tàu đi, đến, vắng vẻ, trong các nhà kho thỉnh thoảng vọng lên tiếng chát chúa của những chiếc búa đập trên sắt, người ta đang sửa chữa một cái gì đó. Trong một quầy bán vé, một người đàn ông đội mũ kết, ngồi cúi gầm trên mặt bàn, Lan không thể biết chắc ông ta đang ngủ hay đang làm việc. Một vài người lao công, mặc quần áo cụt mang theo các vật dụng trong một cái túi nặng, một sô nước. Lan và bạn tìm được một chỗ ngồi vắng vẻ trong một góc sân ga, trên một thùng gỗ lớn, rộng, Hai đứa tò mò chui hẳn vào bên trong thùng. Thùng gỗ này chắc đã có nhiều tới ngồi vì trên thành gỗ thông trắng sạch sẽ có những hình vẽ và những dòng chữ, các cặp tình nhân đã đưa nhau tới đây hú hí, chắc vậy, những cái tên được viết chồng lên nhau, một hình đàn bà khỏa thân uốn éo trong một dáng điệu hớ hểnh, tục tĩu, hai đứa đỏ mặt và ngượng nhưng vẫn lần mò xem hết mọi hình vẽ, mọi hàng chữ được viết trong lòng chiếc thùng,

Lan nói:

– Tương lai của nhiều kẻ đã được sắp sẵn trong thùng cả.

Người bạn sau khi đã cắm cúi xem hết những hình ảnh cũng như những dòng chữ kỳ quái trên thành gỗ của chiếc thùng, ngồi xuống cạnh Lan, nhìn ra phía con đường sắt chói chang dưới nắng, bảo:

– Tao có cảm tưởng chính những người lớn đã làm cho mình nghi ngờ tương lai.

Lan nói:

– Đó là một cách họ chỉ dẫn đích thực cho mình về tương lai, hoặc nó ở một chỗ nào khác.

Người bạn nói:

– Ở chỗ nào không cần biết, nhưng điều chắc chắn là nó sẽ tới. Như những chuyến tàu từ ngã nào rồi cũng chạy tới ga.

Lan cười:

– Và trên những con đường sắt?

– Đây này tao nói cho mày nghe.

– Mày trông thấy cái hình vẽ mụ đàn bà gớm ghiếc trong cái thùng này chứ?

– Cái đó liên quan gì đến mình?

– Rồi cả tao lẫn mày đều bị đóng dính vào tương lai như vậy.

– Mày nói cái gì?

– Đó là một hình ảnh tục tĩu, ngớ ngẩn, nhưng tao tin là cả tao lẫn mày rồi đây đều sẽ có lúc giống hệt như thế.

– Mày phải biết, trước hết tao sẽ chẳng bao giờ là người rồi ra sẽ hẹn hò ở trong một cái thùng như thế này.

– Làm thế nào mày biết trước được?

– Nếu mày không biết việc đó thì mày còn biết cái gì nữa.

Lan bao giờ cũng hình dung một đời sống không phải nhỏ hẹp và ít hy vọng, nhưng ngược lại nàng biết nó to lớn và có lẽ đúng như người ta thường nói, không đóng cửa ai bao giờ, song chính vì nó quá bao la nên người ta chẳng hề vẽ trước một tương lai nào cả, chẳng thể nhận ở nó một hứa hẹn nào, lời hứa hẹn của cuộc đời nếu có là lời hứa hẹn của một dòng sông cuốn trôi, không thể biết nó sẽ mang ta phiêu bạt tới chốn nào nêu muôn ngàn cánh cửa đều không đóng, mỗi kẻ vẫn phải làm cái việc may rủi mở cánh cửa định mệnh của mình.

Lan hỏi:

– Mày muốn trở thành cái gì mai sau?

Người bạn nói:

– Tao muốn làm luật sư. Tao tin ở công lý.

Lan cười bảo:

– Thật là kỳ lạ.

– Kỳ lạ?

– Tao không hiểu tại sao người ta xét xử người khác được.

– Bao giờ cũng vẫn có lẽ phải.

– Chính đó là vấn đề. Ngộ nhỡ lẽ phải không ở phía người bị xử thì sao.

– Nhiệm vụ của luật sư là làm sáng tỏ điều ấy.

– Hoan hô. Nhưng tao chỉ mong được một điều.

– Điều gì ?

– Đừng bao giờ bị đưa ra tòa cả.

– Đúng. Nếu mày không muốn bị công lý chẹt phải, thì tốt nhất hãy tránh đi chỗ khác.

Ông Nam lái xe băng qua Hàng Gai chạy thẳng ra bờ hồ. Cái mặt nước xanh lơ đó luôn luôn cho Lan cảm tưởng dịu dàng dù hơi tù túng. Nó giống như tấm gương trang điểm của thành phố. Một ngày không nhìn thấy cái hồ đó, chẳng khác không nhìn thấy bóng mình trong tấm gương.

Lan nói với bố:

– Sao ba không ngừng xe xuống đây uống nước?

Ông Nam có vẻ ngại. Nhưng nghe con nói ông tự nhiên cũng cho xe chạy chậm lại.

Bà Nam bảo:

– Thôi về nhà cho rồi.

Ông Nam hỏi vợ:

– Bà có mệt không?

Bà Nam nhìn chồng trong tấm gương chiếu hậu của chiếc xe.

Bà nói:

– Cũng hơi mệt.

Ông nói:

– Hay xuống ngồi chơi một tí?

Bà Nam ngó ra phía mấy chiếc quán bên ven hồ. Bà cũng hiểu rằng chồng muốn phá lệ thường một lần, vì ít khi nào hai người ngồi chơi trong một tiệm ăn, chứ đừng nói ngồi ở một cái quán nước bên đường như thế.

Thành thử bà trả lời một cách lưỡng lự:

– Tùy ông.

Ông Nam hãm xe chậm lại, và đậu sát bên lề đường.

Ba người mở cửa xe bước xuống.

Lan thích lắm. Vì khi đề nghị như vậy, Lan không mong được bố mẹ bằng lòng.

Chiều đã dịu hẳn, chỉ còn sót một chút nắng trên lưng chừng những hàng cây bên kia bờ hồ. Thực ra thì cái nắng đã rút cao hơn, gần như chỉ còn là cái ánh vàng trên những đọt lá non.

Ba người tới ngồi quanh một chiếc bàn nhỏ kê dưới gốc một cây phượng, sát tới ven hồ.

Người hầu bàn đến, ông Nam hỏi ý kiến vợ con, sau đó ông gọi cho mỗi người một ly nước chanh tươi.

Lan nói:

– Bây giờ con mới thấy mát một chút.

Gió từ mặt hồ thổi lên làm cho không khí mát và dễ thở. Ba người đã phải thở gần suốt một ngày cái không khí gần như được hun nóng dưới nắng tháng Sáu dọc theo một con đường dài suốt từ Sơn Tây trở về, cái nồng nực dường như còn vương vất trong người.

Lan lấy khăn tay thấm những giọt mồ hôi trên trán và chỉ một lát sau, gió đã làm khô se cả.

Người hầu bàn bưng nước lên, mấy ly nước chanh được thả bên trong những cục nước đá trong suốt, loáng thoáng mấy khoanh chanh cắt mỏng, mùi chanh thơm ngát.

Lan uống một hơi hết quá nửa cốc nước.

Bà Nam nhìn con, cười bảo:

– Con gái mà chẳng có ý tứ gì cả.

Lan nói:

– Con khát quá.

Ông Nam yên lặng, cầm chiếc thìa nhôm cán dài khoắng nhẹ cốc nước của mình.

Có những lúc ông hoàn toàn mất hẳn ý thức về mình như vậy. Ông không để ý đến tuổi già đang lấp đầy ông một cách chậm chạp nhưng dầu sao cũng đã gần xong cái công việc của nó. Có những lúc, tự nhiên ông nhận ra trong lòng mình chất chứa khá nhiều cái thứ tình cảm giống như lòng ghen tuông. Cái tình cảm ấy không khác một áng mây bay qua trong bầu trời bỗng làm cho mọi cảnh sắc đột nhiên trở nên u ám, một nỗi ám ảnh tuy rất nhẹ nhàng, nhưng quả thật nó có đủ sức biến đổi ông thành một người khác hẳn cái phút trước đó, và khi cái giây phút ngắn ngủi ấy qua đi mọi việc lại trở lại bình thường.

Buổi chiều trong chốc lát tàn lụi mau lẹ, những đám mây bị cái nắng xua đi đâu mất trong suốt một ngày, đang nương theo những cơn gió mát buổi chiều từ bốn phía bay về tụ lại giữa bầu trời trên thành phố.

Đằng sau những hàng cây, từng đám sương mỏng giống như những đám khói xanh bắt đầu làm cho người ta không nhìn thấy được nữa màu sắc thật của những đám lá.

Màu xanh của nền trời, lẫn với màu xanh của xương khói nối liền với màu xanh của mặt hồ, tất cả kết tụ thành một màu xanh bát ngát làm mỏi mắt.

Thực ra không phải chỉ có màu xanh, những tàng cây đã sẫm lại trông tựa những sườn của một mỏ than đá, và mặt hồ có sắc của một miếng thạch.

Lan hỏi mẹ:

– Mẹ mệt không?

Bà Nam nói:

– Đi từ sáng đến giờ không mệt sao được.

Ông Nam nhìn vợ. Ông không nói gì. Lan dùng thìa múc một miếng chanh bỏ vào miệng nhai. Miếng chanh ứa nước chua làm Lan phải nhắm mắt lại, sau đó vị đắng của vỏ chanh làm dịu bớt chất chua và tỏa mùi thơm gắt trong cuống họng.

Lan nói:

– Suốt ngày nắng thế bây giờ lại sắp mưa.

Bà Nam uể oải nhìn ra hồ bảo:

– Mưa gì. Đêm lại nóng chết ấy chứ.

Ông Nam bưng ly nước lên uống một hụm nhỏ rồi lại để xuống bàn. Ông chẳng có vẻ gì để ý đến vị của ly nước, cũng như sự mệt nhọc một ngày đi đường.

Ông bảo con:

– Uống đi rồi về.

Lan nói:

– Hãy gượm ba, ngồi chơi một tí cho đỡ mệt đã.

Bà Nam nói:

– Sắp tối rồi đó.

Ngoài đường, những chuyến xe đi về đã thưa bớt. Đèn lộ đã được thắp, trong cái chạng vạng của lúc chiều chưa đi hết và đêm chưa xuống hẳn, những ánh đèn trông nhợt nhạt không ra màu trắng mà cũng chẳng ra màu vàng.

Trong thoáng chốc, đèn khắp nơi được bật lên, nhìn trên mặt hồ, màu sắc của những ánh đèn được kéo dài ngoẳng theo những con sóng răn reo và chen chúc, tựa dưới đáy sâu của khu hồ, có một hội hoa đăng.

Ông Nam nói:

– Thôi, về. Hôm nay ba mời hai mẹ con đi ăn.

Ông Nam gọi người hầu bàn, trả tiền.

Sau đó, ba người đứng dậy đi ra xe về.

Lan hỏi:

– Đi ăn ở đâu hả ba?

Ông Nam nói:

– Cứ về nhà thay quần áo đi đã.

Tới nhà, Lan chạy lên lầu, vào phòng lấy quần áo, nhẩy vào phòng tắm.

Một ngày đi đường xa, nắng và bụi làm cho da khô khan, nước tuôn mát, làm Lan tưởng như mình được tưới như một cái cây, và cảm tưởng này khiến Lan vui thích.

Lan tắm rửa xong, ra ngoài phòng chải đầu, thay áo quần, xuống dưới nhà vẫn chưa thấy bố mẹ đâu.

Bà Nam ở trong phòng nói vọng ra:

– Lan xong rồi hả?

Lan nói:

– Con xong rồi ạ.

Lan không giấu được sự náo nức trong lòng và sự náo nức ấy đã hiện ra trong giọng nói.

Bà Nam trong phòng bước ra, bà vừa đi vừa cài nút áo dài bảo:

– Mày chỉ được cái lo đi chơi là nhanh thôi.

Lan cười hỏi mẹ:

– Ba đâu rồi mẹ?

Vừa lúc đó ông Nam cũng ra tới chỗ hai mẹ con. Ông mặc sơ mi trần, nhưng thắt cà vạt.

Ông nói:

– Bà không bảo chúng nó chải cho tôi đôi giày đen.

Bà Nam bảo:

– Tôi có bảo rồi đấy chứ. Nhưng chắc chúng nó quên.

Ông Nam đi đôi giầy nâu. Trông ông bỗng nhiên nhanh nhẹn lạ thường.

Ông hỏi:

– Hai mẹ con xong chưa?

Lan nói:

– Chỉ còn chờ ba thôi.

Ông Nam ngồi xuống ghế, buộc giây giày.

Ông bảo Lan:

– Con lấy cái ô để trong xe, nếu lát mưa có cái che.

Sau đó ba người ra ngoài chỗ để xe.

Đêm đã bắt đầu ở ngoài thềm nhà, Lan ngửa mặt nhìn lên trời không còn thấy một chút ánh sáng nào. Những vì sao sớm đã mọc, loáng thoáng sau các đám mây. Bóng đêm đã phủ kín khắp nơi, nên Lan không biết cơn mưa nhìn thấy lúc chiều ngồi ở bờ hồ còn chăng hay đã tan rồi. Tất cả những đám mây nhìn thấy trên trời bây giờ, trông đều giống như những đám mây trong một cơn mưa cả, thành thử Lan không thể biết rõ trời còn muốn mưa nữa hay đã hết.

Lan nói:

– Chắc không mưa nữa đâu mẹ.

Bà Nam bước xuống thềm, đi lại phía chiếc xe ông Nam đã mở sẵn cửa, leo lên.

Lan cũng trèo lên phía băng sau xe ngồi.

Ông Nam cho xe chạy ra phố.

Ông nói:

– Ra Hàng Buồm.

Lan không thể đoán bố sẽ cho đi ăn ở đâu. Hàng Buồm, con phố Lan và người bạn ở Cửa Nam thỉnh thoảng có dịp đi qua thường buồn cười vì mùi thơm của các món ăn bốc ra thơm lừng cả góc phố. Ngoài những tiệm thịt quay, tiệm bán trái cây, nhà hàng Đông Hưng Viên, còn có các hàng cơm tám giò chả. Mùi vị của các món ăn biến khu phố thành một thế giới đặc biệt, rất Tàu, người bạn Lan đã có một lần nói đùa, chỉ cần mỗi ngày đi qua phố này một lần đủ béo rồi.

Lan hỏi bố:

– Ăn cơm Tàu hay cơm Ta hả ba?

Ông Nam hỏi lại con:

– Con muốn ăn gì?

Lan nói:

– Cơm Tàu đi ba.

Ông Nam đưa vợ con lên lầu nhà hàng Đông Hưng Viên, ở từng dưới là rạp chiếu bóng. Khi ba người bước vào còn nghe thấy trên mấy chiếc loa phóng thanh của rạp chiếu bóng đang phát ra một bài hát Tàu.

Lan líu ríu đi theo bố mẹ. Nàng khoái chí khi bước vào bực thang đầu tiên được ngắn mấy chữ bằng đồng bóng loáng, ”escalier d’or”.

Ở tiệm ăn ra, Lan nói với bố lái xe qua ngõ Sấm Công. Ở đó có một tiệm bán cháo rất ngon. Nhiều buổi sáng mùa Đông theo bố đi học sớm, trước khi chở Lan đến trường, thỉnh thoảng ông Nam đưa con đến đây ăn cháo. Lan mê thứ cháo thịt bò nóng hổi thả vào đó những miếng dầu tra quẩy cắt nhỏ, vừa thơm, béo lại làm ấm người. Trong tiệm khói bay mù mịt, ngoài hè phố sương muối cũng che khuất mặt người.

Những trận gió lạnh buổi sớm mai dường làm cho hai vành tai Lan cứng lại, nhiều lúc Lan tưởng có thể cầm cái tai mình bẻ gẫy như một cái bánh tai voi. Trước khi ăn Lan loay hoay tìm cách chạm bàn tay lạnh cóng vừa tháo ra khỏi găng của mình vào quanh thành chiếc bát, hơi nóng làm cho hai bàn tay mềm mại trở lại. Lan dùng hai bàn tay đã ấm đó sờ lên hai vành tự bóp tai mình vài cái, hai cái tai bớt lạnh, và chỉ từ lúc đó Lan mới có cảm tưởng thật sự là mình nghe thấy những tiếng động một cách trực tiếp, còn trước đó, những âm thanh nào nghe được dường như chỉ tới tai nàng một cách gián tiếp, nghĩa là chúng đã vẳng qua một làn hơi lạnh đã đông cứng lại thành một lớp màng che bên ngoài hoặc trong lỗ tai nàng.

Con đường họ đi qua nằm ở giữa hai rạp hát, rạp Kim Phụng và rạp Trung Quốc. Vào giờ này, các rạp sắp khai diễn, trên một chiếc cột đèn, một chiếc loa phóng thanh được ròng ra từ rạp Kim Phụng đang phát một bản nhạc buồn bã, chiếc đĩa hát đã cũ xen lẫn trong tiếng nhạc và giọng hát còn có những tiếng nổ lẹt xẹt, nhưng đó là một bài hát đã ảnh hưởng nhiều nhất đến trí tưởng của Lan trong ít năm nay, bài hát Lan đã được nghe lần thứ nhất trong một rạp chiếu bóng, trong khi chờ đợi giờ chiếu phim người ta đã cho chạy dĩa hát này, Lan không biết ca sĩ nào đã hát bài hát đó, có lẽ là Mạnh Phát, bản Nhắn Gió Chiều của Nguyễn Thiện Tơ, Lan đã nghe bài hát đó trước khi xem một phim trinh thám do Humphrey Bogart đóng, trong rạp lúc ấy chỉ có thưa thớt một ít khán giả mỗi người ngồi ở một góc, vài cặp tình nhân ngồi tọt trong các dãy ghế kín khuất, dãy ghế Lan ngồi chỉ có một mình nàng, cả dãy trước và dãy đàng sau Lan không có một người nào. Lan có cảm tưởng cả cái buổi chiều tối ám lạnh lẽo nàng vừa nhìn thấy ở ngoài phố, hiện lên trong bài hát. Chiều nay sớm về với sắc thu đám u buồn, cùng gió vàng với sương thu mờ buông.

Xe băng qua phía Cầu Gỗ ra bờ hồ.

Tới khu vực này xe cộ bắt đầu đông. Xe và người đổ từ các ngả Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Trống và dưới Phố Huế lên đan lại với nhau ở đây trước khi lại chia nhau đi vào các ngã đó.

Lan nói:

– Tháng Sáu mà sao có sương mù hả mẹ?

Bà Nam nhìn qua tấm kính ra lối đi đằng trước, nhìn xuống mặt hồ phía xa bảo:

– Làm sao tao biết được.

Ông Nam cho xe chạy về phía nhà Thủy Tạ qua quán mụ Bèo, nơi Lan đã có lần cùng với người bạn vào ngồi uống nước chẳng thấy thú vị gì cả. Cái thứ nước vàng nhờ được gọi là nước cam đó, đáng lẽ được gọi là nước vỏ cam, Lan chỉ dám nhấp một chút rồi bỏ lại.

(Hết Chương 6)

Share this post