Áo Mơ Phai (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 6

Áo Mơ Phai (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 6

ÁO MƠ PHAI
* Tiểu Thuyết – NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
* Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc VNCH 1973
* Nguyễn Đình Vượng xuất bản lần thứ nhất, Sài Gòn – 1972

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài & Hồi Ký.

CHƯƠNG SÁU

Sáng Chủ nhật trời ấm áp. Những ngày mưa kéo dài đến nỗi, buổi sáng đẹp trời như thế, Lan vẫn tự hỏi không biết từ giờ đến trưa, trời có mưa nữa không?

Rõ ràng là trời không vẩn một áng mây, xanh lơ, và cả cái đám sương mỏng che kín dưới khu vườn, cái đám sương mùa Hè hiếm hoi, chỉ có thể có vào những ngày mưa ướt, những ngày thời tiết đổi thay đột ngột, những ngày cuối tháng Sáu sang tháng Bảy, nghĩa là dù vẫn còn đang ở mùa Hè, nhưng mùa Hè cũng đã sắp chấm dứt, và mùa Thu lẩn khuất ở đâu đó trong một cánh rừng, trên một dòng sông, một cánh đồng, đã len lén tỏa cái hơi lạnh xâm nhập vào mùa Hè, tạo thành những đám sương mỏng manh hiếm hoi kia, cũng có thể đó chỉ là những đám thán khí do lá cây thở ra trong đêm, vậy thì chút khói mờ nhạt đó, sáng nay cũng chẳng còn thấy vương vất ngay trong lòng những tàng lá rậm rạp nhất, không khí như thế, báo hiệu một người đẹp trời.

Lan lo rửa mặt đánh răng xong xuống nhà ăn sáng đã thấy bố ngồi coi báo bên cạnh ly cà phê bốc khói.

Lan lại đứng đằng sau ghế bố, ngó vào tờ báo hỏi:

– Ba ăn sáng chưa ạ?

Ông Nam khịt mũi một cái không nói gì.

Lan không thấy mẹ đâu, nhưng nhìn cái ghế đối diện với bố thấy cũng có một ly sữa còn bốc khói và một phần ăn có dấu lam nham, đoán chắc mẹ vừa đứng dậy vào bếp có việc gì đó.

Lan ngồi xuống chỗ có để sẵn phần ăn của mình.

Ông Nam nói:

– Sao độ này con hay đi chơi thế?

Lan nhìn bố, vẫn thấy ông cắm cúi đọc tiếp tờ báo.

Lan nói:

– Hôm nào tan học con cũng bị mưa cả.

Ông Nam cầm ly nước của mình lên uống một hớp nhỏ, mắt ông vẫn không rời khỏi cột báo.

Ông nói:

– Để mai ba bảo nó đem xe đón con.

Lan nói:

– Nhưng mà giờ giấc lớp học hè của con thất thường lắm. Sẽ phiền cho ba những lúc phải di chuyển từ trường đến nhà thương.

Ông Nam nói:

– Thế thì con phải tìm cách nào đó mà đi về cho đúng giờ, chứ chiều nào mày cũng cứ đi lếch thếch ở ngoài đường sao được.

Lan lặng thinh sau câu nói của bố.

Bà Nam từ dưới bếp lên, ngồi vào chỗ cũ của mình, tiếp tục ăn nốt bữa ăn sáng.

Bà hỏi Lan:

– Con có muốn pha một chút cà phê vào sữa cho thơm không?

Lan nói:

– Vâng. Mẹ cho con một tí.

Ông Nam hỏi vợ con:

– Sáng nay hai mẹ con có làm gì không?

Bà Nam nhìn chồng xem ý ông định nói gì.

Bà nói:

– Tôi có vài việc lặt vặt thôi.

Lan nói:

– Hôm nay con nghỉ học.

Ông Nam bảo:

– Hai mẹ con sửa soạn đi chơi.

Đó là việc hãn hữu. Ít khi nào ông Nam rủ vợ con đi cùng với ông như vậy.

Mỗi năm việc đó chỉ xảy ra đôi ba lần, vào những dịp cả nhà phải đi ăn cưới, hoặc trong buổi lễ giao thừa còn đáng gọi là buổi đi chơi của gia đình, còn những lần đi ăn cưới, ăn giỗ trong họ chẳng hạn, thực không đáng gọi là đi chơi chút nào, vì luôn luôn ông đưa hai mẹ con ”đi đến nơi về đến chốn”, lý do chính có lẽ vì ông quá bận rộn công việc, ông không còn thì giờ nào hết, ở giảng đường ra ông tới bệnh viện và ngược lại, thành thử thường thường khi ông về tới nhà ông chỉ còn đủ thì giờ nghỉ ngơi trong chốc lát, dùng bữa, sau đó lại chúi mũi vào công việc soạn bài hay chấm bài.

Hôm nay bỗng nhiên nghe ông bảo hai mẹ con sửa soạn đi chơi, cả hai người đều lấy làm ngạc nhiên.

Lan hỏi:

– Đi đâu thế ba?

Ông nói:

– Ba có chút việc phải lên Sơn Tây. Cho hai mẹ con đi xem Chùa Thầy.

Thế thì tuyệt đối với Lan rồi. Chùa không cách Hà Nội bao xa, nổi tiếng là một thắng cảnh của miền Bắc, vậy mà Lan chưa có dịp nào đi thăm cả.

Lan ăn vội bữa ăn sáng, sau đó lên phòng thay quần áo, lúc nàng trở xuống nhà thì hai ông bà cũng đã sẵn sàng.

Ông Nam tự lái xe đưa hai mẹ con đi.

Xe chạy bon bon qua những khu phố đông đúc ở ngả Ô Cầu Giấy, từ đó băng theo con đường lên Phùng. Chỗ tiếp giáp giữa Ô và đường lên Sơn Tây cũng có một bến xe hàng thông thương nối liền hai tỉnh. Bến xe khá đông đúc, Lan nhìn thấy những chiếc xe hàng cũ được sơn phết lại, hầu hết các xe đều sơn hai màu, nửa trên vàng, nửa dưới xanh, lớp sơn cũ còn nổi hằn những vết trám.

Dọc đường Lan còn bắt gặp những chiếc xe vận tải chở đầy đá xanh đã được cán nhỏ từ phía trên chạy ngược lại.

Lan hỏi bố:

– Xe chở đá ở đâu ra thế ba?

Ông Nam đáp:

– Ở Phùng. Ở đó có một nhà máy xay đá.

Lan nói:

– Con xuống xem được không ba?

Bà Nam gạt đi:

– Đi chưa xong việc mà xem cái gì.

Ông Nam bảo:

– Để lúc trở về, nếu còn sớm ba sẽ cho con xuống xem.

Đó là lần thứ nhất Lan nhìn thấy thấy sông Đáy, nhìn thấy núi Ba Vì. Những bài thơ của một quá khứ chưa tuôn chảy hết ánh vàng trên một dòng sông lấp lánh. Một quá khứ còn hiển hiện nặng nề như ngọn núi Ba Vì giữa trưa mà trông như phủ đầy sương khói. Trên hai bên lề đường lá hoa tươi tốt, trên những núi non dày đặc bóng cây, những thôn làng sáng chói dưới ánh dương, những ruộng mía kéo dài ngút tầm mắt, những ao hồ phẳng lặng phản chiếu ánh nắng giống như những tấm gương sạch sẽ có những cạnh sần sùi, và giữa một cánh đồng thấp có con đường đất đỏ ngoằn ngoèo băng qua một thung lũng xanh mướt cỏ non, một cây gạo cao ngất đỏ rực hoa.

Trước cảnh núi sông hùng vĩ, trước cảnh chùa tịch mịch sau khi theo bố mẹ leo lên được đến cửa chùa, đứng từ đó nhìn xuống cánh đồng tràn ngập nắng và lúa đang thì ửng vàng, Lan có lúc thấy mình đã tan biến đi đâu mất, chỉ còn lại đôi mắt, chỉ còn lại cái nhìn không thể nào chứa đựng hết những cảnh nhìn thấy trước mặt.

Trong khi bố nói chuyện với sư cụ trụ trì, mẹ lo thắp hương lễ Phật theo sự hướng dẫn của một chú tiểu nhỏ, Lan đi quanh quẩn xem chùa và một lát sau nàng lại tha thẩn đi ra trước cổng chùa. Chân giẫm trên những tảng đá ong khô cứng khiến Lan giật mình nhìn xuống, khi đó nàng mới nhận ra những tảng đá có những vết lỗ chỗ giống hệt như dấu của những giọt nước rơi xói.

Trong cái vắng lặng mênh mông, Lan nghe tiếng một con chim chào mào kêu trên cành đa đầy trái chín trên đầu, nghe vang động ở phía bên kia dãy núi, bên kia những cánh đồng, bên kia những làng mạc, bên kia con sông, có lẽ còn xa hơn nữa, những tạp âm mơ hồ, giống như âm vang của chính sự yên lặng.

Lan cúi xuống một lần nữa, nhìn rõ những vết lỗ chỗ trên những tảng đá ong, và nàng giật mình vì nghe thấy mấy tiếng nổ lớn trong các dãy núi đá ở phía xa vọng tới.

Người ta dùng mìn phá núi lấy đá, và đá từ trong núi lấy ra, được đem tới máy cán, cán nhỏ, từ đó đá được chở đi khắp mọi nơi dùng vào việc xây cất nhà cửa, đường xá.

Tiếng nổ làm cho lũ chim đang ríu rít trên cành đa kêu ré lên, bay tán loạn một vòng trên không rồi lại đậu xuống nhẩy truyền cành này sang cành khác, nghe ngóng xem có sự hiểm nguy nào chăng trước khi tiếp tục mổ những trái đa chín đỏ, những trái cây quá chín bị mỏ chim đụng tới rơi lộp bộp trên mặt đất.

Một đám mây trắng dày vừa bay qua khỏi mặt trời, cả cánh đồng mênh mông trước mặt, con sông Đáy đục lờ phù sa, tưởng chừng sáng rực lên gấp đôi, và Lan nhìn đâu cũng thấy chói mắt.

Lan được một chú tiểu do sư cụ trong chùa cho ra cổng mời vào uống nước.

Lan vội vã đi vào.

Dù ông bà Nam đã đôi ba lần xin cho Lan được phép từ chối chén trà do sư cụ rót mời viện cớ Lan còn nhỏ không dám nhận sợ thất lễ với sư cụ, nhưng sư cụ vẫn giữ nụ cười hiền hậu trên môi bảo, không sao, nhà chùa không có gì ngon để mời cô, đây là trà pha bằng nước giếng lấy trên núi nên cô không có dịp nào nhấp thử, cô không uống, chùa chúng tôi sẽ mang tiếng không hiếu khách.

Trước lời mời mọc ân cần của sư cụ, ông bà Nam cho phép con gái nhận chén trà.

Lan đỡ chén nước do sư cụ ban cho bằng đôi tay run vì cảm động và ngỏ lời lí nhí cám ơn.

Sư cụ nhìn Lan đưa chén nước lên môi rồi ý tứ quay sang tiếp tục nói chuyện với ông bà Nam để Lan có thể uống một cách tự nhiên hơn.

Lan uống chén nước nhỏ sư cụ vừa ban cho.

Hương thơm của chén trà phảng phất trong đám khói mỏng, cũng trong chén nước đó, Lan còn nhìn thấy lờ mờ cái ánh sáng xanh mát hắt từ ngoài khu vườn đầy bóng cây qua khung cửa sổ vào phòng khách, cái ánh sáng dường như tráng thêm một lớp men xanh trên mặt đá của chiếc bàn dùng trà của sư cụ. Lan cũng trông thấy bóng một chiếc sà ngang và một vài viên ngói trên mái chùa, nhưng tất cả những hình ảnh này đều bị đám khói của chén trà, cái ánh sáng chiếu nghiêng từ cửa sổ rọi vào và mặt nước sóng sánh làm cho không một lúc nào hiện rõ ra cả.

Lan uống từng hớp nhỏ và mường tượng lại trong trí nhớ những tảng đá ong nhìn thấy lúc đứng ngoài cổng chùa.

Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan?”

Những câu thơ lẩn khuất trong ký ức đột nhiên thoáng hiện trong trí tưởng, giống như những chiếc tăm cá sủi từ đáy hồ lên mặt nước, tiếng chim ríu rít hót ca trên cành, những đám mây trắng trôi lặng lẽ trên bầu trời xanh ngắt, những sóng lúa trông như một tấm lụa mềm bị gió thổi. Lan nhớ lại, có lần Quang đã kể cho nàng nghe, trên lối đi trước khi đến chùa, có mấy tảng đá lớn bắc ngang qua một con rạch làm cầu có một vết lõm ở giữa và dấu của hai bàn tay, do quỷ thần xưa đội đá về để xây chùa, thật vậy không anh Quang? Cầu đá ấy ở chỗ nào nhỉ? Lan thầm nghĩ và mỉm cười một mình.

Lúc từ chùa trở về ông bà Nam có dừng xe lại ở Phùng cho Lan xuống xem chiếc máy xay đá và công nhân làm việc. Quản lý công trường, một thanh niên với nước da trắng vừa bị cháy nắng chưa xóa hết vẻ thư sinh của anh, đã vui vẻ dẫn ông Nam và Lan tới tận nơi để xem.

Máy có một hệ thống giây chuyền, giống như một giây xích khổng lồ, mỗi mắt là một thùng sắt hình tam giác loe miệng chạy vòng tròn theo một chiều dốc từ thấp lên cao.

Công nhân đứng ở dưới đất, khuân những tảng đá bỏ vào các thùng sắt, theo đường giây truyền những thùng này chạy lên cao và tự động trút đá vào miệng máy xay có hình dạng như một cái phễu hình vuông, các tảng đá này rớt xuống hệ thống cán đá hệt như những hạt cà phê trong một cái cối xay cà phê. Đá sau khi được cán nhỏ chảy ra một đường máng ở phía bên kia, trút thành đống hoặc trút thẳng xuống thùng một chiếc xe vận tải đã quay đuôi đỗ sẵn ở đó, chờ cho đá chảy ra đầy xe là chở đi luôn.

Chung quanh công trường bột đá bay tỏa thành một lớp bụi mỏng, các nhà, cây cối, cả những ụ gác của đồn binh kế cận nhà máy, tất cả đều trắng xóa phấn đá.

Lan và ông Nam sau đó cũng được người thanh niên đưa đi xem một vài phong cảnh ở ngay gần nhà máy, bên kia con đê.

Ở đây cũng có một cái chùa nhỏ, đứng ở trên để nhìn xuống phía bên kia đường cái, chùa ở dưới thấp, sân chùa lát gạch Bát Tràng, được quét dọn rất sạch sẽ.

Ông Nam và Lan cũng được đưa đi xem một chiếc cầu gẫy còn ngâm mình dưới dòng sông, phần đầu cầu còn lại vẫn gắn liền với mặt đất. Cầu đã bị phi cơ Mỹ oanh tạc hồi Đệ Nhị Thế Chiến. Phần cầu còn lại trên mặt nước, tuy đã lâu năm, nhưng nhiều chỗ nước sơn còn đen bóng.

Lan theo người thanh niên, bám vào những mảnh sắt trên thành chiếc cầu, men mãi tít ra phía ngoài, tháo dép ra, thò chân xuống nước để rửa.

Ông Nam nói:

– Coi chừng ngã nghe Lan.

Lan tươi cười bảo:

– Nước mát lạnh ba ạ.

Mặt trời lúc ấy nghiêng hắn về phía những dãy núi ở phía Tây. Nắng vẫn còn đầy trên sông, nhưng cái hơi nóng nực đã giảm bớt.

Lan nghe da mặt khô se, có lẽ vì suốt một ngày nắng gió và bụi bậm. Nhưng nàng không muốn cúi xuống rửa trên sông, Lan chỉ khua chân cho sạch bụi và rửa hai tay. Nước mát và hơi mát truyền cả trên người Lan.

Lúc cúi xuống rửa tay Lan muốn soi mặt mình trên dòng nước, nhưng sóng làm Lan chỉ nhìn thấy cái bóng rợp của mình chứ không thấy rõ một chi tiết nào.

Người thanh niên thấy Lan chăm chú nhìn cái bóng của mình trên mặt nước, chàng bật cười thành tiếng một mình.

Sau đó chàng nói vừa đủ cho Lan nghe thôi:

– Rửa chân tay thôi nghe cô. Đừng rửa lông mày chết hết cá sông của tôi.

Ông Nam có nhìn thấy người thanh niên nói chuyện với con gái, nhưng họ nói quá nhỏ ông chẳng nghe được một tiếng nào.

Nhưng cái hình ảnh con gái ông níu tay trên chiếc thành cầu thò chân xuống rửa dưới sông, cái cây cầu gẫy, đã gợi lại trong ông bao chuyện cũ kỹ, ông hằng tưởng rằng nó chẳng còn ảnh hưởng gì tới ông nữa.

Đã từ lâu lắm ông mới lại bắt gặp trong lòng mình cái tình cảm xa lạ giống như một sự ghen tuông nó làm cho ông tự nhiên thấy se lòng.

Cái tình cảm không rõ rệt lắm, ngay khi ngồi lái xe từ chỗ nhà máy cán đá trở về, ông đã thấy gợn lên trong lòng một sự xao động kỳ quặc, khiến ông đã đôi ba lần khịt mũi, tự xua đuổi, bởi vì ông không tin rằng, qua mấy chục năm lòng ông phẳng lặng như tờ, ngay những ngày ông còn thanh xuân, cái tình cảm ông phỏng đoán là sự ghen tuông đó còn chẳng có khi nào hiện tới với ông cả, vậy thì không lý, đến lúc mái tóc ông đã bạc quá nửa, đến lúc mà ông cho rằng mọi chuyện đã yên cả rồi, cái tình cảm quái gở đó lại đến với ông.

Khi ông và con gái từ bờ sông trở lại xe, bà Nam vẫn ngồi yên tại chỗ trong xe, kêu lên rằng, hai bố con làm gì mà lâu thế, và nghe con gái khoe với mẹ cái chùa nhỏ rất đẹp nó vừa trông thấy, và dòng sông nước mát rượi nó vừa rửa chân tay, ông thấy rõ ràng, cái tiếng nói của người đàn bà ông vừa nghe thấy đó, đã phát ra từ trong lồng ngực của ông, từ một cái chỗ tối tăm nào đó, và ông biết chắc là ông đã tái mặt.

Cái giọng nói đã gây chấn động khắp người ông, thật là một điều không ngờ, vì cả một quãng đời xa lắc lơ bỗng lướt qua trí tưởng của ông, từng đoạn một, hình ảnh nào cũng rực rỡ, dường như được soi chiếu bằng một mặt trời vàng, cái ánh sáng thừa sức soi rõ từng chi tiết lặt vặt trong những hình bóng ông nhìn thấy đó.

Ông ngồi vào chỗ, đặt tay trên chiếc bánh lái, ông nhận ra hai bàn tay run rẩy.

Đó là hiện tượng khó coi. Ngay trong những lúc cứu chữa những con bệnh nguy kịch nhất, ruột gan mở tung dưới ánh đèn, trong những lúc khẩn cấp như thế, mặc dầu đã tập trung cả tâm trí vào công việc, mặc dầu ông hiểu rõ hơn ai hết, chỉ một chút sơ xẩy, muộn màng, là cái mạng người đang nằm chình ình kia sẽ chẳng còn cơ hội nào nhìn thấy ánh sáng của đời sống nữa, ngay chính vào những lúc đó, thỉnh thoảng ông vẫn nghe thấy tiếng thì thầm từ trong tiềm thức ông, một ngày nào đó, tuổi già sẽ cướp mất của ta sự cứng cáp, hai bàn tay này sẽ run rẩy và chúng sẽ trở lên vô dụng, mồ hôi thấm ra trên trán ông, một nữ sinh viên hoặc một nữ y tá dùng khăn thấm cho ông, đối với họ ắt hẳn đó chỉ là những giọt mồ hôi của sự mệt nhọc và cố gắng quá sức của ông, nhưng riêng ông, ông biết rằng nó còn pha lẫn những giọt mồ hôi của sự sợ hãi nữa, tuy nhiên chắc chắn chưa một lần tay ông thật sự run rẩy. Vì thế, nhìn thấy hai tay mình run lúc này, ông ngạc nhiên và sau đó lo lắng. Nó như dấu hiệu chứng tỏ ông không còn kiểm soát được sự xúc động của chính mình nữa, và điều đó có phải có nghĩa là ông đã già thật?

Ông lái xe và thỉnh thoảng ngó vợ trong tấm gương chiếu hậu. Người đàn bà vô tình, và làm sao bà có thể ngờ ngọn lửa đã tắt rụi từ bao nhiêu năm lại còn có thể có lúc được khơi lại trong lòng ông, bà giữ bộ mặt thảm nhiên pha một chút mệt mỏi vì suốt một ngày đi lại.

Trong cái ánh sáng của buổi chiều bắt đầu trên quãng đường hắt từ những cánh đồng đầy bóng cây xanh vào cái khung gương nhỏ, giống như một cái cánh cửa mở vào dĩ vãng, cái dĩ vãng chẳng còn một bóng hình nào thật nữa, vậy mà tất cả còn đảo lộn, lướt qua, đến nỗi ông không kịp nhận ra một chi tiết nào, trên tấm gương đó cái hình ảnh người đàn bà mỏi mệt bỗng nhiên tươi cười, trẻ lại, bằng nhiều dáng điệu khác nhau, cúi xuống, ngẩng lên, trò chuyện, cái hình ảnh hoạt động đó đột ngột ngưng hẳn lại, ông Nam nhìn rõ những nếp nhăn giữa hai hàng lông mày của người đàn bà, cái hình ảnh của đêm Hà Nội bốc cháy, nàng có lẽ đã lo âu cho một người còn bị kẹt trong đám khói lửa ngụt trời đó, Hà Nội đỏ rực trong ánh lửa, cái ánh lửa sấp bóng lên tận những từng mây cao, và khi đó, ông tưởng chừng như nó chiếu tới tận cái khuôn mặt đầy đặn của vợ ông, nàng cúi xuống nhìn những ngọn cỏ ướt ở dưới chân nhưng riêng ông biết chắc rằng nàng đang lo lắng, khi đó ông chẳng có một mảy may tức giận, ông còn đủ bình tĩnh, chua chát trêu chọc nàng, Hà Nội của em đang cháy, em có muốn trở về kiếm gì không, nàng ngửng phắt đầu lên giận dữ nhìn ông, nhưng ông đã thản nhiên quay nhìn về phía góc trời đỏ lửa, ầm vang tiếng nổ, nghĩ thầm, có lẽ cũng nên đốt cháy hết những tàn tích khốn nạn cũ đi, một ngày nào đó, mọi người sẽ trở về xây cất lại một Hà Nội mới, một cuộc sống mới với hy vọng đồng đều cho tất cả mọi người. Trong lòng ông lúc ấy cũng nổi lên bao tình cảm rối ren, những bóng đen lướt qua, chẳng khác những bóng hình phản chiếu trong tấm gương chiếu hậu của chiếc xe đang vùn vụt biến đi. Ai có thể vui khi nhìn gia sản của mình đang bị thiêu rụi thành tro than, người đàn bà bậm môi run rẩy bên cạnh ông, đứa con nhỏ đang ngủ trong một góc đình, cuộc phiêu lưu kỳ thú hay đây chỉ là bước đầu của những ngày vô định mà tương lai chưa biết sẽ dẫn tới đâu.

Hà Nội cháy, cháy như cháy bằng những ngọn lửa hào hùng của những người ở lại giữ Hà Nội. Cái kẻ mà vợ ông đang lo lắng nghĩ tới kia, hẳn đã chịu thua ông trong cuộc chạy đua chiếm người đàn bà đang đứng cạnh ông đây. Nhưng có lẽ hắn đang chiếm lại nàng bằng ngọn lửa kiêu căng cháy đỏ một góc trời kia? Hắn cũng là người bạn thân nhất của ông những năm học y khoa. Cả hai cùng yêu nàng, họ không giấu nhau điều đó và cùng tìm mọi cách chinh phục nàng. Mơ ước của họ khi ấy là, ra trường và lấy được nàng. Hắn đã thua ông ở cả hai việc.

Đúng ra hắn đã bỏ dở cả hai việc.

Hắn đã cười ngất bảo với ông ”ta xin nhường cho nhà ngươi cả sự nghiệp lẫn hạnh phúc”.

Trong ánh lửa ngất trời kia ông còn như nghe thấy tiếng cười ngạo nghễ của hắn.

Lửa sẽ đốt cháy cả sự riễu cợt, anh hùng và ngu xuẩn của hắn. Nhưng ông cũng nghe cháy rát trong lòng cái ngọn lửa của cuộc tiêu thổ kháng chiến, cháy rát trong lòng cái da thịt của những kẻ như hắn, biết bao nhiêu người như hắn, đang bị thui trong cái bể lửa kia?

Cái việc ông đang đứng ở đây không phải vì ông muốn, chính ông đã được đưa tới đây để chờ đợi cứu chữa cho những người bị thương được khiêng ra từ cái vòm trời đỏ lửa kia. Nhưng lòng ông thật không yên ổn một chút nào. Ông có cảm tưởng như ngọn lửa rừng rực đó đang cháy tạt trên da ông. Ông cũng nghĩ, dù ông không đồng ý đó là cách hay nhất, nhưng đáng lẽ giờ phút này ông cũng phải đang sống chết với mọi người trong cái hỏa lò kia.

Ông hỏi vợ:

– Lửa cháy ở quãng đó là phố nào nhỉ?

Người đàn bà ngửng lên nhìn thẳng về Hà Nội, ngay vào cái phút kỳ ảo đó, cái khuôn mặt người đàn bà bỗng đẹp rực rỡ như tất cả mộng ước của một đời người kết tụ lại, ông chợt có cảm tưởng vừa ngông cuồng vừa đau đớn rằng, ông không mất gì cả, ông đã mang theo được cả Hà Nội, cho dù Hà Nội có cháy hết, than lửa của cuộc hỏa thiêu đó sẽ làm cho nàng thêm rực rỡ.

Nàng nói:

– Lửa lớn thế kia thì cháy hết Hà Nội rồi còn riêng phố nào nữa.

Con sông dưới chân hai người, cuồn cuộn chảy xuôi, thoát ra từ những vùng đỏ ối đó, đáng lẽ phải chất đầy tiếng hét, chất đầy nước mắt, chất đầy xác người, nhưng ông chẳng hề trông thấy một vật gì, ngoài cái ánh bập bùng xa tít, cái ánh sáng mờ của sao đêm thấp thoáng trên đầu những ngọn sóng, lúc ẩn lúc hiện, lấp lánh và nặng nề như được dội lên bởi một đám đông ma quái bên dưới. Ông bỗng nghe những giọt mồ hôi lạnh chảy tuôn hai bên thái dương và muốn run lên lật bật. Ông phải nắm chặt hai tay nhét trong túi dằn cơn xúc động. Ông nghe trong tiếm thức đứt tung nhiều mối giây thầm kín. Ông nghe trong lòng tiếng vỡ vụn của những gạch ngói và tiếng vỡ lở của những mảnh vôi vừa bị cháy rớt. Ông có cảm tưởng điên cuồng như trong trí não ông, trong khắp cơ thể ông, lúc đó, có muôn ngàn tia lửa bắn vỡ, xẹt ngang xẹt dọc, và ông dường chịu không thấu. Ông bỗng có những ý nghĩ hết sức hung bạo. Ông đã phải cố sức dằn lại. Trong những cơn gió tẩm đắm hơi nước thổi thốc từ cái mặt sông mênh mông dưới bãi cát lên đầu tóc người đàn bà bay phất phới, ông đã muốn tháo bỏ nàng ra khỏi mọi sự che đậy, muốn trải nàng trên những ngọn cỏ lấp lánh ánh sao, muốn yêu nàng cuồng bạo như một tên vô lại. Ông muốn thấy rộng dài như bãi cát, tràn đầy như dòng sông, rậm rạp như cỏ. Ông thấy rõ ràng chỉ có cái phút duy nhất đó, nếu ông có thể làm tình được với nàng, tình ái mới có thật, nếu không sẽ chẳng bao giờ ông chạm được tới nàng bằng tình ái thâm sâu của ông được.

Cuối cùng ông khám phá ra rằng, trong cơn dục vọng kỳ quái của ông có lẫn một chút ghen tuông.

Ông biết chắc rằng trong cái vẻ băn khoăn của người đàn bà, có chất chứa sự lo âu cho kẻ đang còn mắc lại trong thành phố kia.

Cái gì đã khiến cho hắn có thể bỏ tất cả tương lai một cách hết sức nhẹ nhàng để nhận lấy cái chết như vậy?

Ông muốn yêu nàng ngay lúc đó như một cách biện minh nồng nàn rằng, đời sống là một cái gì tuyệt diệu và không gì thể thay thế được.

Và, thật là oái oăm, ông còn nhận ra trong lòng ông dường đang nhỏ lệ, ông muốn làm như thế để chứng tỏ một cách thống thiết rằng, kẻ chết sẽ không làm được việc đó nữa.

Cái ánh lửa của thành phố bốc cháy mỗi lúc một lan rộng hơn, đến nửa khuya cả một vùng trời tựa như đã được nhuộm đỏ. Cái màu đỏ của phấn hồng, của một bình minh rực rỡ, và vì đó không phải là một bình minh, nên vẻ rực rỡ biến thành sự thê lương. Tại sao hắn đã chọn cái chết dễ dàng như vậy? Cái câu hỏi thầm lặng cứ âm vang mãi cái tiếng kêu bí mật của nó trong tận đáy sâu lòng ông, cái màu hồng phản ánh trên mây trở thành ánh máu, và nhìn ra dòng nước trước mặt, ông không thể không có cảm tưởng có lẫn máu chảy trong đó. Và cảm tưởng này phút chốc cũng làm cho cơn rạo rực trong người ông giảm xuống dần dần.

Ông bỗng nghe ra giọng nói của mình hết sức bình thường khi ông bảo với vợ quay về chỗ trọ kẻo khuya sương xuống lạnh. Nàng lặng lẽ làm theo lời ông.

Đêm hôm đó ông vẫn thực hiện ý định của mình lúc đứng ở ngoài bờ sông với nàng. Nàng không từ chối nhưng nàng đã chỉ tham dự một cách hết sức thụ động. Và thế là cơ hội đã qua đi. Cho đến lúc soi gương thấy mái đầu đã bạc, ông chẳng bao giờ gặp lại một dịp tương tự, và hai người đã sống với nhau bằng cái tình vợ chồng bình thường, hết sức bình thường. Những sớm mai thức dậy, những sớm mùa Đông, sương lạnh bám quanh các khung kính cửa, hơi sương đôi khi làm cho ông khiếp đảm tưởng rằng đôi mắt già nua của mình đã bắt đầu mờ, nhưng đó chỉ là những đám khói lạnh lẩn khuất trong tấm gương, song dù đó có chỉ là những đám khói chăng nữa thì đôi mắt kia còn tinh tường được bao lâu, ông đã phải mang nặng một mối mặc cảm buồn thảm, ông đã chẳng làm cho nàng trở nên phì nhiêu được, và việc đó hoàn toàn do lỗi của ông. Trong đôi mắt đôi khi đã có bóng mờ của những hơi sương, có lúc ông còn có cảm tưởng có một kẻ nào đó, nấp kín trong ông từ bao giờ, ngó ông bằng đôi mắt của chính ông.

Suốt đời ông, có lẽ chẳng bao giờ ông có thể quên được cái đêm ái ân buồn thảm đó. Mỗi lần nghĩ lại, ông còn như cảm thấy cái lạnh lẽo thấm tận trong xương tủy ông, muốn làm cho ông run lên. Ông còn như nhìn thấy mảnh trăng khuya đêm ấy, chiếu chếch qua mái hiên đình, qua cái bóng rậm rạp khổng lồ của cây đa, trong đầu ông cái hình ảnh đỏ rực của Hà Nội bốc cháy còn nguyên vẹn, và cơn ước muốn điên cuồng vừa tự nó lụi đi đang dần dà được thắp lại, đó là dấu hiệu không tốt của tuổi thanh niên, một việc như thế mà ông phải cố gắng mới làm được, sau khi tháo gỡ ra khỏi nàng một cách mau lẹ, một dấu hiệu không hay khác nữa, nằm xuống chiếc chiếu trải trên đầu thềm lạnh lẽo, mùi vị kham khổ đầu tiên trong những ngày kháng chiến, khắp người mềm nhũn như tất cả những đầu mối của cảm xúc vừa bị đứt tung và trùng xuống, ngửa mặt nhìn qua khe hở giữa một góc mái đình và một cành đa, thấy một khoảng trời xanh đen, giữa khoảng trời đó nổi lềnh bềnh mảnh trăng nhợt nhạt như một miếng nước đá, cái tình cảm ông nhận thấy trong lòng ông lúc đó là một tình cảm hết sức cay đắng, hệt như là ông trút ra trong lần ân ái đó với nàng, tất cả sức lực của ông, không mong gì có dịp ông đủ sức làm lại một lần, cái lần ân ái giống như ông cảm thấy lúc đứng với nàng bên bờ sông, có thể biểu dương được cái sức lực vô biên của tuổi trẻ, cái lần cất cánh đó đã không thực hiện được, chỉ còn cách kéo lê cái cuộc quay cuồng là là trên mặt đất cho tới mãn kiếp, tận trong thâm tâm, lúc đã nằm thẳng cẳng như một cây chuối trôi trong cơn lụt, ông ân hận vì đã không đề nghị với nàng khi đứng bên bờ sông, không đủ hung bạo để thực hiện ý định không cần hỏi ý nàng, chán chường hơn nữa, ông lại còn cảm thấy có phần oán nàng, oán cái vẻ nghiêm trang, đức hạnh của nàng, nó đã biến thành một thành trì bền vững vô dụng, ngăn cản, không biết bao lâu đã khiến ông chẳng thể nào hòa hợp được với nàng đến tận cùng niềm khao khát, thân mật.

Quả nhiên cái sự bình lặng đã kéo dài trong suốt mấy chục năm vợ chồng chung sống. Cái vẻ nghiêm trang của người đàn bà dần dà thấm nhập vào ông, trở thành sự lạnh lẽo, ông cùng vợ lưu lạc mấy năm qua bao nhiêu rừng núi, bến sông, làng mạc, bao nhiêu đền chùa, miếu mão, lang bạt trên đò ngang, đò dọc, trên chiến khu, dưới hầm hố, nhưng chẳng khi nào ông tìm thấy cái cảm giác bỏng rẫy, ngất cao của cuộc hỏa hoạn xưa nữa, Hà Nội cháy một lần, tuổi trẻ cũng chỉ có một lần, cơ hội cũng chỉ có một lần, đã qua cả mất rồi.

Bây giờ là những mùa Đông lạnh buốt xương da, những ngọn lửa le lói của bếp đỏ tro than, những cảm giác bập bềnh của những đêm mưa trên sông vắng, những đêm hãi hùng trốn chạy trong rừng thiêng nước độc, trú ẩn dưới những hầm mộ an toàn, rồi ngày lần mò trở về Hà Nội, về Tề, Hà Nội nhìn thấy lại trong điêu tàn đổ nát, tan hoang khiến ông rợn tóc gáy khi bước những bước đầu tiên trở lại Hà Nội. Ông hiểu rằng tất cả đã quá muộn, những ước mơ đã tắt, đã bị vùi sâu dưới những gạch ngói, thời gian cũng đã quá dài, đủ để cho cỏ dại mọc lên, đã phủ che trên những nấm mồ, kẻ đã chết không mong gì sống lại nữa, cũng như vậy, những ước mơ đã bị vùi dập chẳng còn một mảy may hy vọng tái sinh một lần nữa.

Không phải trong mấy chục năm chung sống vợ chồng không có những phút vui buồn nồng mặn, nhưng chính trong những phút vợ chồng đạt được đến độ cao nhất của hạnh phúc, những lúc ông có cảm tưởng ông hòa hợp được với nàng một cách hoàn toàn nhất, thì đó cũng là những phút ông không thể nào không thấy tiếc cái phút ông coi như nguyên đán của tình ái ông, ông đã để lỡ, và cái hạnh phúc ông đang thụ hưởng với nàng, thật chẳng khác cái thời khắc tương tư của ngày đã mất đó. Mùa Xuân vẫn còn, nhưng ngày nguyên đán đã qua. Đôi khi ông nhìn ngắm nàng và muốn kể lại cho nàng nghe chuyện cũ, nhưng ông đã chẳng khi nào thực hiện cái ý định ấy cả, ông nói với nàng bằng những tiếng thầm lặng, chỉ mình ông nghe, mình ông váng vất và buồn cười một mình, ôi cái phút đắng cay như vậy mà sao có lúc ông lại thấy nó nhuốm đầy vẻ khôi hài. Trong ông đã có một trận hỏa hoạn và bây giờ vẫn còn những dấu vết tro than. Hệt như Hà Nội ông nhìn thấy lại, với mùa Đông lạnh buốt đã khiến cho các ngọn cây lá xanh hơn và dường như không già đi được, những lá cây đã được ướp lạnh, những buổi sáng sau giờ giảng dạy, ngực khô nóng vì ông đã phải nói khá nhiều, đứng từ trong văn phòng của các giáo sư nghỉ giải lao, với chén nước trà nóng trong tay, nhìn qua tấm kính cửa, tấm kính đã bị những hơi thở từ trong mũi ông tuôn ra bám thành một đám khói mỏng, nhìn suốt ra những hàng cây vắng lặng bên ngoài, một đôi khi ông thử mường tượng lại cái đêm Hà Nội bốc cháy, nhưng cái màu xanh đặc của các hàng cây và bầu trời lạnh giá khiến cho sức tưởng tượng của ông trở nên yếu ớt, trong ký ức của ông chỉ còn lại cái màu hồng rực rỡ của bầu trời rạng ánh lửa, chứ không còn nghe một hơi nóng nào, dù đó chỉ là một thứ hơi nóng mờ nhạt của ảo tưởng. Hà Nội dần dà đông đảo trở lại, công việc tái thiết tấp nập, nhưng trong sự khang trang, tươi đẹp trở lại, dưới chân Hà Nội vẫn thấp thoáng cái hình ảnh của một nghĩa trang điêu tàn của chính nó, không biết có bao nhiêu người Hà Nội trong những giờ phút ông nghĩ như thế, còn nhớ đến Hà Nội vỡ tan như thế, nhưng một mình ông cứ phải mang nặng mãi cái vết tích thảm thương đó. Có lẽ chẳng ai ngờ rằng, đã có những khi ông nhìn thấy nhà cửa trong thành phố này lảo đảo chẳng khác những hồn ma bước đi. Phải mất một thời gian khá lâu ông mới làm quen lại được với Hà Nội. Hà Nội mà ông bỏ đi chẳng bao lâu, nhưng đã bị suy sụp hoàn toàn. Sau cùng ông cho rằng, không phải ông đã cảm thấy xa lạ với Hà Nội sau những ngày lưu lạc, nhưng chính là ông không chịu nổi cái nỗi thảm thương của Hà Nội bị tàn phá, cũng chẳng phải là ông đang phải làm quen với Hà Nội trở lại, mà thực ra, ông chỉ đang tập chấp nhận dần dần cái mối thương tâm kia thôi. Hà Nội còn có thể có hy vọng phục sinh chăng khi nó đã bị làm bật rễ lên như vậy? Giữa thành phố và con người có chăng một linh hồn có thể trò chuyện cảm thông, thành phố không chỉ là những gạch ngói, nếu nó đã có một quá khứ, quá khứ đó bị xóa bỏ, đấy không phải và cũng không thể là một điều không đáng kể, điều này ông có thể nhận ra một cách rõ ràng, một đôi khi đang đi trên đường, đi tản bộ từ nhà thương trở về nhà, sau một ngày làm việc mệt nhọc, nghe một trận gió may thổi xào xạc trên các lùm cây rắc đầy lá vàng xuống lối đi, ông bỗng nghe hai chân muốn rời rã vì cảm tưởng mình đang giẫm trên một cái gì đó của Hà Nội.

Nhìn những chiếc lá vàng khô bị gió cuốn lê trên mặt đường, ông còn tưởng như những oan hồn còn vương vất, những kẻ đã chết trong trận đói khủng khiếp nhất lịch sử vừa qua, những người đã chết sau đó trong đêm ở lại bảo vệ Hà Nội, gọi là bảo vệ Hà Nội, nhưng thực ra là họ đã ở lại tự tử với Hà Nội, ông nghe cái quá khứ điêu linh gần gũi ấy còn lẩn khuất đâu đây, những buổi chiều trong bóng tối chạng vạng đã chụp xuống các vỉa hè, rớt xuống từ các cành cây cao, đôi khi ông đã giật nẩy mình lúc bước qua một ngõ hẻm đâm thẳng ra đại lộ, ông tưởng chừng như mình chạm trán với một vong linh ẩn núp ở trong đầu ngõ chạy ra đâm sầm vào ông. Vẻ nhợt nhạt còn trên mặt ông khi ông trở về tới nhà đến nỗi người đàn bà nhận ra vẻ thất thần của ông vặn hỏi, ông phải trả lời qua loa, vì trời lạnh, ông ngạc nhiên vì ngay chính sự xúc động của mình.

Trở về Hà Nội ông có cảm tưởng dường như mình đã trở về trong những nỗi ám ảnh cũ chưa chấm dứt. Người thanh niên đã chết. Hắn đã chết như thế nào? Hắn đã chết, hắn tự chọn cái chết đó. Cái chết của hắn cũng đầy bí mật như thân xác hắn đã tan biến thành cát bụi của Hà Nội. Không ai biết hắn nằm nơi nào, bị vùi dập nơi nào. Cát bụi của thân xác hắn đã bị mưa gió cuốn trôi đi tới đâu. Hắn tươi cười nhận cái chết đó, vậy mà quái lạ, chính ông là người không quên được cái chết của hắn, không quên được tuổi trẻ của hắn, nụ cười của hắn, không chọn mà ông trở thành kẻ cất giữ kỷ niệm cho hắn, giống như một cái chết oan khiên. Bây giờ ông nhận ra ông mắc cái chứng khịt mũi vì những cái nguyên do kỳ quái đó, bởi vì, dường như làm như thế, ông trục xuất bớt được ra khỏi ông một ít không khí mờ ám, những hình ảnh tưởng tượng bám trong khí quản ông như những miếng đờm, có lúc làm ông lợm giọng. Ông không thể biết nàng trong suốt bao năm đó, đã có bao lần nhớ đến hắn, và nhớ vào lúc nào, cũng có những hôm nàng mang đầy vẻ buồn bã, nàng trở nên thẫn thờ khi ngó qua cửa sổ nhìn ra ngoài trông thấy những người gồng gánh bồng bế nhau hồi cư.

Chính trong những buổi chiều mùa Thu, cái lạnh vừa bắt đầu sau những tháng Hè nồng nực, đã làm cho mọi người có cảm tưởng hơi sai về thời tiết, trời chưa lạnh nhưng những đám sương bám quanh các bóng đèn điện, kéo thành giây dài suốt các khu phố, đã khiến nhiều người đi đường thỉnh thoảng ngửng mắt nhìn bầu trời tìm bóng những con mưa, sự thay đổi của thời tiết đã như giục người ta rảo cẳng trở về nhà, người ta bỗng nhiên cảm thấy lạnh lẽo, và trong lòng vướng vất một chút hoang mang. Thời tiết đã ảnh hưởng thật sự đến tinh thần người ta. Cũng với tinh thần có vẻ bất an như thể ông Nam trở về nhà bắt gặp trong đôi mắt của vợ cái vẻ thờ thẫn, nàng dường như bị cuốn hút bởi những cảnh sắc u ám bên ngoài, có lẽ đó cũng là lúc thuận tiện để nàng bị xâm chiếm bởi những kỷ niệm, quá khứ, ông tưởng như đọc được trong mắt nàng nỗi ám ảnh của một cái chết lẫn lộn, trong đó một cái chết đã không rời bỏ nàng, nàng đã không thể quên được, nỗi nhớ nhung đó có thể rất cụ thể, có thể rất mơ hồ, làm sao ông nhận ra một hình bóng trong muôn vạn hình bóng lờ mờ lướt qua giữa đôi mắt nàng, đôi mắt đã bị cái nhá nhem của buổi chiều làm cho u tối.

Khi ông về đến nhà với nỗi háo hức hiếm hoi vì sự giục dã của cái lạnh lẽo, cái ngọn lửa hắt hiu của tuổi trẻ xa xưa còn sót lại, nàng đã mở mắt nhìn ông như kẻ xa lạ, dù cái phút giây kỳ quặc đó rất ngắn ngủi, nhưng ông, với tâm hồn náo nức của người tình xưa ông đã nhận ra ngay, người đàn bà sau cái giây phút bàng hoàng đã vội vã mỉm cười như một cách tạ tội, nàng tựa như vừa tỉnh một cơn mơ, hoặc cái cơn mơ đang vây chặt lấy nàng, xâm chiếm hoàn toàn tâm trí nàng, vừa rời khỏi nàng như một đám mây bay qua khỏi mặt trăng, và ánh trăng lại rạng rỡ sáng trở lại.

Nàng cất tiếng hỏi:

– Mình về đấy à?

Tiếng nói của nàng làm rung tất cả cái êm ả của buổi chiều trong căn nhà, ông nghe bỗng đục khàn giống hệt cái bóng tối nhá nhem quanh hai người.

Ông đi lại gần vợ, cúi xuống nhìn người đàn bà thân yêu, bỗng cảm thấy tuổi già đã đè nặng trong ngực. Ông muốn làm với nàng một cử chỉ âm yếm nhưng bỗng thấy lố bịch và phải ngừng lại, ông phải tự trấn tĩnh mọi xúc động để giọng nói của mình khỏi run.

Ông hỏi:

– Mình làm gì trong tối vậy?

– Em vừa may cái áo, mỏi mắt quá, ngồi nghỉ quên khuấy đi mất.

– Con đâu?

– Nó chưa về.

Nàng cũng hỏi ông:

– Ngoài đường có lạnh không?

– Hơi lạnh.

Ông muốn nói, sự lạnh lẽo ông cảm thấy thật chính là cái phút ông nhìn thấy nàng ngồi co ro một mình bên cửa sổ, nhưng ông không nói được, có cái gì ngăn ông đâu ngoài nỗi đau đớn chợt gợi lên trong lòng ông, một nỗi đau đớn không nguyên cớ rõ rệt, ông giận nàng chăng, có lẽ không phải như thế, nỗi đau đớn của ông tựa đã có sẵn trong lòng không phải nàng gây ra, có giống như sự tuyệt vọng não nùng của tuổi già ông, năm mươi tuổi, cái già đã thảm sầu với ta tới thế này sao, đó là một điều không thể sửa chữa, mọi sự cho đến lúc này chẳng còn chi có thể sửa chữa được nữa.

Sự nghi ngờ, lòng yêu thương, giận dữ, nỗi tuyệt vọng của tuổi già, ngần ấy thứ tình cảm đột nhiên làm cho ông choáng váng mất hết ý thức về thời gian, về ngay cả cái chỗ ông đang đứng, ông chỉ còn nhìn thấy cái bóng mờ tối của buổi chiều đã bị bóng đêm lấn át, khuôn mặt của người đàn bà vẽ trên cái nền đen nhòe nhạt một nét trắng nhợt, ông ngồi xuống một chiếc ghế đối diện với vợ, và cùng một lúc ông cảm thấy mình tan biến vào cái khoảng tối đen lềnh bềnh trước mắt.

Ông nói:

– Mình khâu mà không chịu bật đèn cho sáng, hại mắt chết.

Bà nói:

– Đâu có. Tối chẳng nhìn thấy gì, em đã ngưng từ nãy.

Ông chăm chú ngó vợ qua khoảng cách của chiếc bàn nhỏ, chiếc bàn có mặt bằng đá vân đen trắng, nơi mỗi khi khâu vá gì, bà Nam thường mang cái hộp đồ khâu của bà để trên đó, những cái vân đen lẫn với bóng đêm những chỗ đá trắng biến thành những vết lam nham trên mặt bàn.

Ông thấy thèm một ly nước trà, nhưng ngại đứng dậy đi lấy cũng không muốn gọi người làm mang lên sợ sự có mặt của chúng sẽ làm khuấy động cái cảnh êm đềm này.

Không có một bằng cớ nào khiến ông có thể nghi ngờ là bà đang mơ tưởng tới chuyện xưa cũ, nhưng ông vẫn cứ thấy lòng mình se thắt lại, ông nhận ra rằng, kẻ chết đi và ông đang còn sống đây, chưa chắc ai đã hạnh phúc hơn ai, đó là một điều cay đắng đối với ông, đã bao lần chính ông, trong những lúc đắm chìm vào cơn mơ tưởng một mình, cặm cụi với công việc, hân hoan khi thấy những người bệnh từ từ mở lại hai mắt nhìn lại cuộc đời, giữa những lúc nhập với nàng làm một trong hân hoan âu yếm, ông thường cho rằng, hạnh phúc chân thật chính là đời sống, cho đến lúc xế bóng này, tại sao bỗng nhiên ông lại thấy dường như cái khoảng cách giữa hai điều đó là một điều không đáng kể, có phải đó chính là dấu hiệu của sự già nua đích thực, tất cả mọi người đều phải chịu chung một hệ lụy, sớm hơn hay muộn hơn một chút, cái sự khác biệt đó nào có nghĩa gì?

Ông Nam nhận ra trí óc ông bây giờ giống như một cuốn phim cũ kỹ, luôn luôn quay ngược trở lại, chiếu trên cái nền buồn thảm của kỷ niệm những bóng hình của quá khứ, trong đó có những cái ông tưởng mình đã quên mất, nhưng không phải như vậy, trong những điều ông mường tượng lại đó, có thể chúng thiếu đi một vài chi tiết, nhưng chính vì nó thiếu đi ít nhiều chi tiết, cho nên trí tưởng tượng của ông lại có dịp bày đặt thêm ra, một điều kỳ quặc nữa là tất cả những điều ông nhớ lại, những hình ảnh được quay lại trong cái đầu đầy những chuyện lộn xộn vô ích của ông, lúc nào hình như chúng cũng toát ra một làn ánh sáng, cái ánh sáng làm ông chói mắt, mặc dầu thường thường đó là lúc ông đang nằm hay ngồi nhắm mắt, những hình ảnh trôi lướt theo một nhịp rõ ràng, từ xa lại gần, trở nên to lớn, choáng ngợp tất cả trí tưởng của ông như một áng mây, rồi trôi khuất về phía xa, khiến ông phải cố gắng trông theo, trông theo bằng con mắt vô hình của tưởng tượng, và sự nhìn với đó, làm cho ông cảm thấy hai con mắt thật dưới hai mu mắt nhức mỏi, đôi khi ông phải giơ tay lên dụi mắt, đó là lúc cuốn phim ngừng lại, hoặc là ông sẽ trở dậy làm một việc gì đó để chấm dứt cơn mơ tưởng, hoặc là sau đó, ông lại thả mình vào cuộc dẫn dắt khác của muôn ngàn hình ảnh bay lượn qua cái vòm đen tối của trí tưởng tượng ông như một bầy ong, cái tiếng vo ve làm ông choáng váng mặt mày, ông phải tìm cách xếp đặt lại những hình ảnh đảo lên, nhào xuống, đôi lúc êm ái như một làn nước thấm nhập dịu dàng vào trí não, đôi lúc mạnh và sắc như những lưỡi dao cạo phóng ngập vào cái trung tâm điều hành mọi cơ quan trong cơ thể, khiến ông trong một giây hoảng hốt, phản ứng tự nhiên là sửa soạn để chờ đón một cơn chấn động dữ dội, khắp người, nhưng dĩ nhiên là chẳng có chuyện gì xảy ra cả, sau hết, ông lại đành phải chọn lấy một hình ảnh, như một cách sắp xếp lại cuốn phim, để bắt đầu từ đó nó có thể quay một cách tuần tự hơn, chậm chạp hơn, và cứ như vậy cái trò chơi mệt nhọc và gần như bất đắc dĩ này diễn đi âm thầm trong ông ngày này qua ngày khác.

Ông nói:

– Tôi thấy mình độ này hơi xanh đấy.

Bà Nam cười:

– Tại trời lạnh đầy. Em không sao đâu.

Tiếng nói của người đàn bà, giọng nói hết sức bình tĩnh của nàng, trong giây phút, thắp lên ngọn lửa ấm áp giữa hai vợ chồng. Ông Nam cảm thấy ông đã có thể thở một cách nhẹ nhàng hơn.

Ông ngó qua khung cửa sổ ra khu vườn, ngó lên bầu trời đăng dần dần sạm đen, trên dó có những đám mây đen hơn cái nền trời nhọ nhem, đang bị những cơn gió thổi bay cuồn cuộn. Những tàng cây nhìn thấy sau khung cửa nghiêng ngả, tiếng những chiếc lá đập vào nhau ran lên thành những tiếng khô ròn, lạt xạt. Ông Nam nhìn lại một lần nữa trên nền trời phía xa, nhận ra những vì sao nhỏ lấp lánh sau những đám mây đen, những vì sao mà các đám mây trôi ở đàng trước đã làm cho người nhìn thấy tưởng như là nó đang bị lăn theo một dòng nước chảy giống như những viên sỏi.

(Còn tiếp – Chương 6)

Share this post