Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 1

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 1

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

“…Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri…”
(Ngô Thế Vinh: “Nguyễn Đình Toàn, từ Đồng Cỏ tới Áo Mơ Phai” – 02/8/2015)

CHƯƠNG MỘT

Buổi sáng (thời gian bao giờ cũng bắt đầu từ một lúc nào đó, buổi sáng hay buổi chiều), trời trút xuống một cơn mưa lớn làm cho thành phố ướt sũng.

Bầu trời dường như bị những đám mây nặng hơi nước níu xuống, gần chạm tới cái gác chuông nhọn hoắt của nhà thờ.

Chủ nhật, nên dù trời mưa người ta vẫn đi lễ. Phụng có thể nghe những tiếng động qua lại trước cửa nhà, để biết ra ngày chủ nhật, xe cộ cũng như những người đi bộ, đều hướng cả về phía nhà thờ, tiếng người trò chuyện, nhất là tiếng những đứa trẻ cười nói với nhau bằng giọng thanh và cao, những tiếng cười giống như những mũi kim xuyên thẳng lên bầu trời sớm mai và, vào những buổi sáng trời như  bữa nay, hơi nước làm cho tiếng cười bớt trong, và những lời trò chuyện cũng thưa đi, chỉ nghe thoang thoảng. Phụng có cảm tưởng lũ trẻ vừa đi vừa tìm cách nép vào những mái hiên để tránh mưa, do đó, tiếng nói của chúng bị khuất lấp, hoặc bị những trận gió thổi tạt làm méo đi.

Chúng nói gì với nhau? Đó là điều Phụng không bao giờ nhớ lại nổi, có lẽ vì có khi nào Phụng nghe rõ đâu?

Những tiếng nói chẳng khác những tia sáng người ta có thể trông thấy rõ ràng nhưng vẫn không thể nhận ra được hình thù. Nhưng chắc chắn đó là những đứa trẻ đã trở nên quen thuộc đối với nàng, những tiếng chuông nhỏ báo hiệu ngày Chủ nhật.

Nhưng sáng Chủ nhật này, có cái gì đó khác thường mà lòng Phụng nghe có vẻ rộn rã?

Phụng thấy đau nhói trong lòng, một nửa vì mừng vui, một nửa bàng hoàng. Nàng biết mình đang mưu tính một việc, nếu thành, đời nàng sẽ đổi khác.

Dĩ nhiên nàng sẽ đi xa, và những buổi sáng như thế này, sẽ chỉ còn là những buổi sáng trong kỷ niệm.

Điều đó không đáng tiếc sao?

Phụng nghe những giọt mưa rơi vỡ tí tách dưới mái hiên, và những hạt bụi nước theo gió tạt vào mặt lạnh mát. Một ngày nào đó, những tiếng động này, những cảm giác này, sẽ trở thành những lời kêu gọi, nhắc nhở, đối với tôi. Có thể, với cái đất nước chìm ngập trong chiến tranh này, nó sẽ còn là những lời trách móc nữa.

Nhưng tôi biết phải làm sao đây? Tôi không muốn nghe, không muốn nhìn thấy cuộc chết tróc tang thương này nữa. Điều kinh hãi nhất là dường như không ai nhìn thấy một hy vọng nào, hoặc nó vẫn còn có một hy vọng nào đó, thoát ra khỏi, nhưng riêng tôi, tôi không nhìn thấy được, và điều này, quá sức chịu đựng của tôi.

Tôi có thể trốn chạy một mình chăng?

Tôi không tin như thế. Tôi chỉ muốn một điều giản dị: nghỉ ngơi. Nghỉ ngơi trong quên lãng, giống như một giấc ngủ. Tôi cũng muốn tìm ra một nơi đủ yên ổn để nuôi lại hy vọng của mình.

Ngoài ra, tôi còn quá trẻ, tôi cũng muốn được đi đây đi đó, được nhìn thấy các dân tộc khác người ta sinh sống ra sao? Tôi muốn được sống cái cảm giác lẻ loi của một kẻ bơ vơ nơi xứ lạ quê người, một ngày nào đó, xách va-li từ trên phi cơ bước xuống cái phi trường rộng lớn, tấp nập hay vắng vẻ nào, như một kẻ bị đầy biệt tích, sống một lượt sự lẻ loi như một tình cảm lãng mạn và nỗi lẻ loi sợ hãi mang theo từ quê hương.

Nhưng tất cả những điều này đã đủ nói hết sự thật của nỗi ước ao mờ ám trong lòng tôi chăng?

Không đâu. Tôi chắc còn nhiều điều nữa tôi chưa kịp biết ra, không muốn nghĩ ra, tôi muốn tập làm con đà điểu chúi đầu xuống cát. Tôi muốn kiếm một nơi có đủ yên tĩnh, có đủ thời giờ, sắp xếp lại trí óc, hầu có thể phân biệt được tội ác, lòng nhân ái, sự cuồng tín và và hy vọng.

Để làm gì?

Có lẽ tôi cũng muốn tìm ra được lời giải đáp cho chính cái câu hỏi đó.

Nếu phải chết cho quê hương, tôi muốn được chết trên một quê hương mà mình yêu mến chứ không phải cái quê hương mà mình sợ hãi.

Tôi cũng biết rằng, sự lựa chọn này, chỉ chúng tôi, những người con gái Việt Nam mới còn có thể làm được.

Con trai phải cầm súng, phải đi lính.

Tôi không muốn yêu nước như một giáo điều.

Tôi biết rằng tôi, cũng như những người chung quanh tôi, chúng tôi đều. uống nước sông, ăn cơm gạo cấy trên ruộng đất của Tổ Quốc, lòng ái quốc phải là một tình cảm tự nhiên, ân nghĩa nếu có,  cũng phải tương tự như ân nghĩa sinh thành, phải tự nhiên hơn cả sự tự nhiên người ta cảm thấy, bởi vì đó là một phần thịt da, xương máu, của chính mình.

Tôi muốn sắp xếp tất cả những thứ đó cho rõ ràng trước khi trở lại.

Nhưng đó có phải là những tình cảm thật của tôi chăng? Hay chỉ là những điều biện minh cho một chuyến đi, một cuộc chạy trốn?

Tôi đã học được nhiều điều, nghi ngờ người khác và nghi ngờ chính mình. Tôi cũng muốn thanh toán một lần cái thảm họa này trong tâm hồn tôi.

oOo

Trước khi quyết định xuất ngoại, tôi đã viết thư cho anh tôi. Và từ đơn vị, anh đã gửi cho tôi ít dòng, viết trên một miếng giấy nhỏ, kê trên ba-lô hành quân (tôi cứ tưởng người ta bịa dặt ra việc này, nay tôi tin là có thật] nét chữ nguêch ngoạc, anh tôi bảo với tôi rằng, đó là dịp may, em vừa đi làm vừa học được, cũng tốt cho tương lai. Anh tôi cũng nói thêm rằng, nhà chỉ có hai anh em, nếu “chẳng may anh có làm sao” may ra em sẽ có thể thay anh phụng dưỡng thầy mẹ được? Anh cũng nói đùa thêm, thời buổi này, cha mẹ nên trông cậy vào con gái cho chắc.

Lá thư ngắn ngủi của anh làm tôi chẩy nước mắt. Anh nói đến may rủi, đến sự tin tưởng bằng giong đùa cợt nhưng vẫn thấp thoáng cay đắng.

Thầy mẹ tôi, nghe tôi nói, tôi đã xin được đi xa, cũng  mừng rỡ ra mặt, mặc dù tôi biết rằng, mai ngày tôi đi, chắc chắn nhà sẽ buồn vô kể. Anh tôi có khi cả năm không về đến nhà. Hai người sẽ sống trong lặng lẽ.

Thầy tôi đã về hưu năm năm nay, hai ông bà sẽ có chuyện gì để nói với nhau mỗi ngày?

Rồi những ngày trái nắng, trở trời, ai sẽ là người săn sóc họ?

Vậy mà, cả thầy lẫn mẹ tôi, đều đã có cái vui mừng của những người, tôi có thể thấy được, nhìn chuyến đi của tôi như là cách thoát được đứa nào hay đứa ấy.

Mẹ tôi giúp tôi lo sửa soạn hành lý, may mặc và dặn dò tôi những điều phải giữ gìn  khi xa nhà.

Tôi cười nói với mẹ tôi:

– Ngoại quốc nghe nói thì xa, chứ máy bay bay thì vài tiếng đồng hồ là con về đến nơi thôi mà.

Mẹ tôi rớm nước mắt bảo:

– Vẫn biết thế nhưng dễ gì lúc nào con muốn về đã về được. Còn công ăn việc làm, bộ bỏ đấy mà đi à?

Tôi nói:

– Chẳng làm nữa thì thôi chứ.

Mẹ tôi vừa vuốt lại cho tôi cái tà áo mới trước khi gấp lại bỏ vào trong va-li vừa bảo :

– Đừng nói vớ vẩn. Lo làm ăn, để dành để dụm sau này có chồng con, có một chút mà phòng thân. Chứ trời đất này sống chết chẳng biết thế nào.

Tôi lấy giọng vui vẻ trấn an mẹ tôi:

– Con để dành gửi về mẹ mua cho con một cái nhà nhé.

Mặt mẹ tôi tươi hẳn lên:

– Ờ, đừng có tiêu phí tiêu hoài, để dành tiền mua đuợc cái nhà là tốt nhất. Có gia đình rồi, đi ở thuê ở mướn, cực thân.

Tôi cười bảo:

– Hơi đâu mẹ lo xa thế.

Mẹ tôi dặn:

– Con gái lớn, thầy mẹ để con đi thế này thật áy náy. Con hãy thương thầy mẹ, giữ gìn sao cho thầy mẹ khỏi tủi hổ.

Lời mẹ dặn làm tôi vừa xấu hổ vừa buồn cười.

Tôi nhớ có đứa em họ sang Pháp học thuốc, viết thư về cho tôi kể, ở trong trường nó có một bức tượng để tay lên vành mũ vẻ thân thiện chào đón các sinh viên, thiên hạ đồn rằng, đứa con gái nào học ở đây, ra trường mà còn trinh, bức tượng sẽ ngả mũ chào. Má nó nghe nói chuyện đã thất kinh hồn vía vôi vàng bay sang bên đó để dặn dò thêm một lần nữa, chẳng biết có ăn thua gì hay không? Nó đã học được ba bốn năm, không biết bức tượng đã biết được những chuyện gì. Lời dặn dò của mẹ tôi, làm tôi liên tưởng tới bức thư của nó và bật cười một mình.

Tôi nói:

– Con lớn rồi. mẹ khỏi lo.

Bà nói:

– Lớn cái thần xác mày chứ lớn gì.

Tôi nghĩ tới bức tượng của đứa em và lại buồn cười một mình. Tụi nó tối tân hơn tôi nhiều. Ngay cái việc, bây giờ, gần như chẳng còn ai ở lứa tuổi chúng tôi gọi bố là thầy nữa, đủ thấy chúng tôi có vẻ cổ hủ rồi, nhưng tôi rất thích cái từ “thầy” chúng tôi vẫn dùng đó.

Tôi không biết nếu mẹ tôi nghe được một chuyện giống như cái chuyện con nhỏ kể, phản ứng của bà sẽ ra sao?

Tôi cũng nhớ, trong lá thư tôi viết lại cho nó, tôi đã riễu cợt bảo “coi chừng em làm hỏng bức tượng”. Và đấy cũng là đề tài chúng tôi vui đùa với nhau khi thư từ.

Mẹ tôi bảo:

– Ở bên đó nghe nói lạnh lắm. Quần áo con mang theo thế này có đủ ấm không?

Tôi nói:

– Thiếu thì con mua, chứ bây giờ cái gì cũng mang theo làm sao được.

Mẹ tôi nói:

– Tụi bay sao làm biếng quá. Không mang đủ rét có phải khổ thân không. Lạ nước lạ cái biết đằng nào mà lần.

Tôi nũng nịu với bà:

– Mẹ tưởng ngày nay cũng như ngày xưa sao? Đời sống bây giờ ở đâu cũng gần giống nhau cả.

Mẹ tôi nói:

– Cứ có sẵn có hơn không.

Tôi làm bộ huênh hoang:

– Con nói được hai thứ tiếng, mẹ đừng có lo.

Mẹ tôi cười bảo:

– Tao vẫn nghe thầy than phiền tiếng Tây của tụi bay thì Tây nó về nước là vừa rồi.

Tôi cũng cười bảo:

– Tiếng Tây của thầy bây giờ có khi Tây nó cũng không nói như thế nữa.

Mẹ tôi cười rung rung đôi má nhăn nheo của bà, nói:

– Thật ấy chứ lị. Ngày xưa tao thấy bác Huyện mày còn phải khen thầy đấy.

Cái quá khứ  vàng son ấy vẫn còn bám chặt trong ký ức của một số người. Bây giờ là thời tàn tạ. Bác Huyện mà mẹ tôi vừa nhắc, ngày xưa đeo bài ngà, ngày giỗ họ, ông đi xe hơi về làng, thì không phải chỉ có người làng mà có cả người hàng Tổng tới chào đón.

Ngày tết, các cụ tiên chỉ, bô lão trong làng, đều đến nhà bác chúc tết. Khi các cụ thắp hương lễ trước bàn thờ gia tiên, Bác Huyện, thầy tôi, các chú tôi, đứng hai bên bàn thờ, đối diện với khách, khách lễ một lễ, mọi người trong nhà vái lại khách một lễ. Cứ như thế nghi lễ diễn ra trong huơng trầm, trong khói pháo, trong đèn nến sáng choang và những lời chúc tụng.

Cái mùa xuân rực rỡ ấy chẳng bao giờ người ta tìm thấy lại nữa.

Ngày tôi ra đời thì cái mùa xuân ấy cũng đa chấm dứt từ lâu. Khói lửa chiến tranh đã thiêu rụi cả. Kế đến hiệp định Genève đã xua đuổi bao người rời bỏ cố hương ra đi. Năm đó tôi mới đươc hai tuổi.

Tôi không biết một tí gì về cái quê hương mẹ tôi kể lại như trong thần thoại ấy.

Anh tôi còn thuật lại cho tôi nghe những đêm giao thừa, anh được cầm bánh pháo rắc cho nổ quanh sân, và những sáng mùng một, mở mắt nhìn sương mù xanh biếc trước thềm, đêm lạnh làm cho mùi thơm của khói pháo không tan hết vương vất trong gió, những cụm hoa hồng bạch, hồng nhung, hồng nhạt, mẫu đơn, loa kèn, nhài, trổ những bông tươi thắm trên cành, nhìn thấy lờ mờ trong sương, cây đào bên đầu thềm sai chĩu chịt hoa, hoa đào rơi lẫn với xác pháo. Lũ chim bồ câu và mấy con chó nghe pháo nổ sợ hãi, bay, chạy tán loạn, trở về còn nem nép nghểch đầu, vểnh tai, nghe ngóng chực chạy nữa, ông tôi phải sai đóng cửa chuồng và xích chó lại.

Những ngày tết thần tiên ấy, tôi chưa bao giờ được nhìn thấy, chỉ nghe kể lại, chẳng khác những cánh đồng, những thôn  xóm, nơi đã sinh  sản  ra những  câu  ca dao tuyệt vời, tôi đã đọc, nhưng không biết có bao giờ được tận mắt nhìn thấy?

Người bác đem lại danh giá cho cả họ đó, những ngày mới di cư vào Nam, sống âm thầm trong một căn nhà nhỏ, thuê được trong một khu xóm lao động.

Cửa sổ phòng ông trông ra một cái sân, mỗi bề chừng bốn thước, vừa làm sân vừa làm cầu rửa. Ông đã tự tay xây thêm một cái bồn dính liền vào chân tường chỗ cửa sổ, đổ đất, trồng mấy cây hồng.

Mỗi ngày ông tưới bón bằng bã trà trút từ trong cái ấm nhỏ đắp vào các gốc cây và nước hứng trong một chiếc lon guigoz đục những lỗ thủng làm bình tưới.

Những cây hồng, vào các buổi tối tôi đến thăm ông, trổ bông tươi thắm nhưng trông buồn bã, chẳng khác những nỗi vui còn sót trong lòng ông quan già, sống ẩn náu trong căn nhà lụp sụp.

Tôi không hề trông thấy ông trong những ngày ông còn hiển hách nơi huyện đường, nhưng tôi vẫn tưởng như thấy được cái bóng của nó, trong buổi xế chiều này, đè nặng trên vai ông.

Ông tránh tiếp xúc với tất cả mọi người, kể cả con cái của chính ông. Ông chỉ còn giao thiệp, thỉnh thoảng đi lại trò chuyện với một người duy nhất là thầy tôi. Cũng vì thế tôi đã được gặp ông, nghe ông nói, và đuợc ông hỏi chuyện nữa, trong những lần tôi theo thầy tôi đền thăm ông ngày con bé, và dần dà khi đã khá lớn, có những lần tôi được gặp ông một mình do thầy tôi sai tôi tới thưa với ông chuyên gì đó, hoặc tôi tự ý đến vấn an ông. Những lần được gặp ông như thế, tôi thành thật cảm động. Không phải chỉ vì, đó là một vinh dự ít đứa cháu nào khác trong họ được hưởng, mà chính vì, mỗi lần gặp ông, tôi có cảm tưởng lọt được vào cái thế giới bí ẩn  của một người mất bóng.

Trong những ngày giỗ họ, ông xuất hiện bao giờ cũng giữ vừa đủ sự thân mật, nghiêm túc, vẻ nghiêm túc trở thành một giới hạn, một khoảng cách với mọi người. Sau đó ông laị rút về trong cái cõi riêng lặng lẽ của ông.

Tôi không biết chắc ông đã nghĩ về tôi thế nào, nhưng đôi lúc tôi tưởng rằng ông nhìn tôi như đoá hoa trong cái bồn đất trước cửa sổ của ông.

Tôi chắc cả họ nhà tôi, ai cũng nghĩ là ông luyến tiếc cái thời vàng son cũ của ông, luyến tiếc đến đau đớn.

Nhưng chỉ một nụ cười của ông, tôi nhìn thấy trong cái cõi riêng của ông, cùng với một nụ hồng vừa hé bên ngoài cửa sổ, tôi hiểu rằng, đời sống đối với ông nhẹ nhàng, chứ không quá nặng nề như người ta tưởng.

Ông không hỏi gì tôi khác ngoài chuyện học hành, sức khoẻ của thấy mẹ tôi, và nhất là cái câu “con bao nhiêu tuổi rồi”. Ông đã hỏi tôi câu ấy mỗi năm, và nó cho tôi cảm tưởng, mãi tôi không lớn hơn được cái nụ hoa trong bồn đất của ông, tôi không dầy hơn được mấy cái cánh hồng mỏng manh đó. Và thật lạ lùng, ở gần ông, tôi cảm thấy tôi có một nhan sắc.

Kể từ ngày bác Huyện mất, tôi không còn cảm tưởng này trước mắt nhìn của ai nữa, kể cả thầy tôi.

Trước khi chết, ông dặn lại người nhà, nếu muốn giữ, cứ để cái hộp bài ngà của ông trên bàn thờ, đừng mở ra.

Đó là lời dặn cuối cùng của ông, không ai hiểu hết ý nghĩa.

Ngày người anh họ của tôi, tức người con trai cả của bác Huyện chết trận, không ai thấy ông chẩy một giọt nước mắt nào. Ông cũng không nhắc đến cái chết đó một lần nào, không hề thở than với ai một tiếng nào. Khi đám tang đã đươc chôn cất xong, mọi người về cả rồi, buổi tối, ông ra đứng trước bàn thờ nhìn hình con một lát rồi trở về phòng, bác gái tôi kể lại như vậy. Không ai biết ông nghĩ gì về cái chết của người con trai duy nhất đó của ông.

Ông mất, cái bồn cây bên ngoài cửa sổ bị bỏ quên cũng chết theo, và sau đó, gia đình bác tôi dọn đi nơi khác.

Nhưng những đóa hồng tôi đã nhìn thấy đó, sẽ chẳng bao giờ tàn héo trong tôi. Và, cứ mỗi lần nghe một người nào trong họ nhắc đến ông, tôi vẫn thấy lòng bồi hồi. Không phải một mình ông đã chết, mà hình như, khi ông chết, cả một quá khứ nữa đã thật sự chết theo ông.

Tôi cũng chẳng còn gặp ai cho mình cái cảm tưởng rợp mát như khi bước vào một ngôi chùa hay ngôi đền cổ, như mỗi lần tôi được gặp ông nữa.

oOo

Trận mưa vẫn kéo dài ngoài hiên. Những giọt nước trong vắt ròng ròng không ngớt rớt trước mái hiên, reo thành một tiếng kêu đều đều, buồn nản.

Trời đen nặng, không khí thấm hơi nước trở nên lạnh, thời tiết tưởng chừng như sắp hết mùa thu, sắp sang đông.

Tôi muốn đi ra phố, tới nhà một người bạn nào đó chơi.

Nhưng nghĩ lại mới biết mình không có bạn. Tôi chỉ có những người quen biết, không có bạn.

Không sao. Tôi sẽ đi dạo phố, nhìn lại cái thành phố đã trở nên thân yêu này một lần, trước khi rời khỏi. Chắc chắn ngày tôi trở lại nó sẽ thay đổi.

“Thành phố đi nhanh lắm”, một người bạn đồng sự đã nói với tôi như vậy. Anh là người Hà Nội, nhớ rất nhiều về Hà Nội, từng góc phố, từng mái nhà, từ những sự biến đổi nhỏ nhặt về thời tiết. Thế nhưng anh vẫn luôn luôn tỏ ra rất tiếc vì đã không ghi nhận được nhiều hơn những hình ảnh của Hà Nội khi ra đi. Anh nói “cô không thể tưởng tượng cái thành phố đó mê hoặc người ta thế nào”. Dĩ nhiên tôi không hiểu được sự mê hoặc đó thật. Anh nói “đôi khi nó hành hạ người ta như bệnh tê thấp vậy”.

Tôi thầm nghĩ, nếu quả vậy thì đó là một chứng bệnh khôi hài và khó hiểu.

– Cô ở đâu ngoài đó?

– Ở trong nôi.

Câu nói đùa của tôi làm anh chưng hửng. Anh nhìn tôi, cười. Tôi có cảm tưởng anh đang thử tưởng tượng có thể nhét lại tôi vào trong cái nôi đó chăng?

– Cô có mang theo cái nôi đó vào đây không?

– Không. Tôi để quên ở Hàng Đường rồi.

– À, con gái chợ Đồng Xuân, thảo nào.

– Sao, anh ?

– Nhanh lắm.

– Không, tôi không nhận tôi là con gái Hà Nội đâu.Tôi Sài Gòn một trăm phần trăm.

– Chín mươi chín thôi. Biết đâu cô chẳng đã được đánh thức vì một tiếng chuông tàu điện.

– Tôi đi xe lam, xe buýt mà.

– Cô sẽ vất vả.

– Vì sao mới được chứ?

– Hàng Đường là một khu phố buôn bán sầm uất nhất Hà Nội đấy.

– Chẳng ăn thua gì tới tôi cả.

– “Ăn chung” thì không, chứ “ăn thua” thì có đấy.

– Anh xa Hà Nội lúc mấy tuổi?

– Mười bẩy.

– Mười bẩy thì con gái bẻ gẫy sừng trâu rồi đấy. Còn anh làm được cái gì rồi?

– Biết phố Hàng Đường ở chỗ nào. Biết con gái Hàng Đường chua ngoa thế nào.

– Tôi chưa có răng, chưa ăn một trái sấu nào, làm sao chua ngoa được.

Chúng tôi thường đùa bỡn với nhau về chuyện Hà Nội như vậy.

Tôi biết anh mắc “chứng Hà Nội”, một phần tâm hồn anh do cái thành phố đó tạo nên, anh không thể khác. Nghĩ cho cùng, chẳng được nghe gió heo may, chẳng được hong nắng hanh vàng, chẳng được đi dưới mưa bụi, chẳng được run trong cái lạnh mùa đông, vào lớp học phải hà hơi vào hai bàn tay, xoa lại với nhau, mới cầm bút viết được bài, như vẫn nghe những người Hà Nội kể lại, cũng là một điều đáng tiếc chứ.

Một mai, có lẽ tôi cũng sẽ nhớ Sài Gòn như vậy. Nhớ nước mía Viễn Đông, nhớ kem Mai Hương, nhớ bún ốc Casino. Nhớ những khu phố mưa bên này đường bên kia vẫn nắng. Nhớ Sài Gòn Mậu Thân, Sài Gòn pháo kích… Nhớ đài kỷ niệm chiến sĩ trận vong của Pháp nay biến thành nơi ghi ơn các nuớc bạn đã viện trợ cho Việt Nam chống cộng sản. Nhớ Nhà Thờ Đức Bà, từ trường tôi đi ra nhìn thấy phía sau lưng, xây bằng gạch đỏ, vào mùa mưa, những viên gạch thấm nước đỏ thêm một chút. Nhớ những hồi chuông lễ  làm rung buổi  chiều, những buổi chiều khô ráo và ẩm ướt. Nhớ con đường Tự Do nơi người ta có thể nhìn thấy những kiểu y phục mới nhất trên khắp thế giới, mỗi sáng Chúa nhật. Nhớ hành lang Eden chỗ hẹn hò của các cặp tình nhân, tôi chưa từng đuợc hẹn bao giờ nên không biết mình sẽ có đến đúng giờ, sẽ có phải đi lại chờ đợi, đứng ngó vào các tủ kính bầy các đồ mỹ phẩm, nữ trang, đồng hồ… Hễ có dịp đi qua một tiệm bán đồng hồ, tôi lại nhớ tới những câu thơ đã đọc được trong một cuốn sách nào đó:

Những chiếc đồng hồ
trong tiệm bán đồng hồ này
chỉ giờ khác nhau,
Đời người ta cũng vậy.

Còn gì nữa? Còn nhiều lắm chứ. Tôi sẽ khoác áo mưa ra phố. Tôi muốn nhìn lại thành phố này, nhìn như một khuôn mặt rồi đây tôi sẽ cách xa.

Tôi bảo với mẹ tôi:

– Con ra phố một lát.

Mẹ tôi hơi ngạc nhiên hỏi:

– Mưa thế này mà đi đâu?

Tôi cười:

– Con mặc áo mưa, ăn thua gì.

Tôi nói mấy chữ “ăn thua gì” và chợt nhớ tới người bạn ở sở.

Mẹ tôi dặn:

– Đi thì thử xem còn cần mua sắm thên cái gì mua luôn đi, kẻo rồi tới lúc lại cuống lên.

Tôi nói:

– Vâng.

Tôi thay quần áo, lấy áo mưa mặc, đội mũ và ra đường.

Mẹ tôi vẫn ngồi ở bên mấy chiếc va-li của tôi.

(Hết Chương 1)

Share this post