Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 11

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 11

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG CUỐI

Thảo chờ tôi ở trên gác. Cô chú tôi đi đâu đó chưa về. Tôi nhờ mấy đứa em chuyển lời chào ông bà rồi cùng Thảo ra đường.

Thảo hỏi:

– Chi đi đâu mà lâu thế?

Tôi nói :

– Thu xếp vài chuyện lặt vặt còn lai.

– Xong cả rồi chứ?

– Rồi.

Tôi nghe dư vị đắng đót của cái hôn lạnh ngắt trên môi. Mỗi người tôi gặp với những lời hỏi han nghe thấy, tựa hồ những chiếc chìa khóa lên dây thiều, làm tăng nhịp đập của trái tim.

Giờ phút tôi đi chẳng còn bao lâu nữa.

Xin chào những đường phố, chào cây ngọc lan tỏa hương thom cả một góc phố, chào cái gốc cây đã bị chặt mất thân, chào những vì sao lướt lướt trên nền trời, chào mặt nhựa xám đen những con đường bao lần tôi đã đi qua, chào những hạt bụi.

Tôi áp má vào lưng Thảo, vòng tay ôm ngang eo nó, nghe tiếng bánh xe máy bon bon lăn trên đường.

Tôi hỏi Thảo:

– Em đã nói với ba má chưa?

Thảo nói:

– Chưa. Ông bà đi từ sáng chưa về.

– Chị đã thưa với bác rồi.

– Việc ấy lo sau.

– Giờ này có lẽ Nhiên đang ở nhà chị.

– Mình về luôn chứ?

– Ừ. Chị đi từ chiều đến giờ.

Tôi nghe những cơn gió mát thổi lùa hai bên tai. Tôi nhớ lại những vết môi hôn của Sơn trên da mặt.

Nhiên đang đợi chúng tôi ở nhà.

Mẹ tôi dọn cho ba đứa cùng ăn bữa cơm tối.

Sau đó, Thảo và Nhiên cùng kéo lên phòng tôi để “giúp kiểm soát lại hành lý” như lời chúng nói.

Tôi mở tủ chỉ dẫn cho Thảo những đồ dùng dành cho nó.

Con nhỏ cầm một chiếc quần lót giơ lên hỏi Nhiên:

– Đẹp không?

Thằng nhỏ không nói gì.

Mùi băng phiến bay thoảng.

Tôi bảo Thảo:

– Chịu khó đến chơi với Nhiên, cần gì nhờ Nhiên lo hộ

Thảo nói:

– Ông còn thì giờ nào lo cho tôi.

Nhiên cũng cười bảo:

– Kiếm kẻ nào nó rảnh cả đời nhờ nó lo cho, cho chắc.

Tôi nói:

– Vậy là đã sẵn sàng. Mai chị chỉ việc đi thôi.

Thảo bảo:

– Chi viết thư cho em về đây luôn đi.

Nhiên hỏi:

– Bà có yên tâm đi không?

Tôi nhìn nó bảo :

– Không có gì phải vướng bận cả. Chị còn trở về mà.

Thảo hỏi:

– Mấy giờ rồi?

Nhiên nhìn đồng hồ tay, bảo:

– Chín giờ.

Tôi chạy qua phòng thầy tôi hỏi xem ông đã dễ chịu chưa.

Thầy tôi đang đọc một cuốn sách thuốc bằng chữ nho.

Tôi thưa:

– Thầy dùng bữa rồi chứ ạ?

Thầy tôi nói:

– Thầy ăn rồi.

– Thầy đã uống thuốc gì chưa?

– Uống mấy viên thuốc cảm rồi. Mai nếu còn khó chịu thầy sẽ uống thuốc Bắc.

Cứ mỗi lúc được nói chuyện với thầy tôi, thấy ông bình tĩnh bao nhiêu, dường như sự cảm động của tôi lại tăng lên bấy nhiêu.

Tôi ao ước được như ngày còn nhỏ, nhào vào lòng ôm lấy ông, khóc một hơi.

Và trong một phút, không kiểm soát được cử chỉ của mình, tôi đã làm như tôi nghĩ, tôi khóc oà vì cảm tưởng mình đã lớn khôn và bé dại.

Thầy tôi để tôi khóc một chút rồi gỡ tôi ra bảo:

– Thôi đứng dậy.

Tôi vắt mũi và lấy tay chùi nước mắt.

Thầy tôi bảo:

– Con lớn rồi. Hãy cố mà lo lấy tương lai.

Tôi nghẹn ngào không nói được nên lời. Nhưng giá có nói được tôi cũng không biết nói gì.

Tôi có cảm tưởng thầy tôi đã đọc được hết ý nghĩ của tôi. Chỉ có một điều ông không đọc được, sẽ chẳng bao giờ ông có thể đọc được. Thật may mắn cho tôi và cho cả ông nữa.

Thầy tôi cầm lên lại cuốn sách và ông lại nói với tôi cái câu tôi đã nghe biết bao nhiêu lần:

– Ra rót cho thầy tách nước đem vào đây.

Làm cái công việc ông sai, tôi đã làm nhiều lần và vừa mới làm tối hôm qua, nhưng tôi không còn thấy cùng một cảm tưởng cũ nữa. Tôi biết rằng từ mai tôi không còn thể nào được làm cái công việc nhỏ nhặt này cho ông nữa. Sẽ có một lúc nào đó, ông muốn tôi làm công việc này và chợt nhớ ra tôi không còn ở nhà nữa, chắc ông sẽ nhớ tôi và đau lòng.

Tôi đặt tách nước xuống bàn cho thầy tôi và nước mắt tuôn ràn rụa.

Nhưng thầy tôi đã chăm chú đọc tiếp cuốn sách không nhìn thấy.

Trong giây phút, tôi tưởng như nhìn thấy ở ông cái hình bóng của người bác đã chết, một cái bóng trắng trên bộ quần áo trắng ông đang mặc.

Tôi ra ngoài và trở về phòng.

Hai đứa nhỏ đang cười đùa với nhau, nhìn thấy mắt tôi đỏ hoe, ngừng lại.

Tôi mỉm cười cho chúng yên tâm.

Nhiên nói:

– Làm như lấy chồng đi mất ấy.

Thảo cũng bảo:

Sang làm nũng ông già hả?

Cho tới lúc ấy tôi mới nhớ ra không biết mẹ tôi làm gì ở dưới bếp?

Có lẽ bà cũng đang khóc và không muốn tôi nhìn thấy bà đang khóc.

Tôi nói:

– Hai ông bà già tội quá.

Tôi bắt đầu thấy đầu óc, người ngợm mỏi mệt đến không ngồi nổi nữa.

Cuộc chia tay với Sơn tới phút này mới thấm ngấm nỗi hời hợt, buồn nản. Tôi vẽ trong trí tưởng vẻ mặt anh suốt buổi chiều cùng với ánh nắng lấp lánh còn sót trên bầu trời và trên dòng sông vào lúc thủy triều dâng cao, lênh đênh bèo, rác. Cả những hình ảnh nhỏ bé đó rồi cũng khó trôi ra khỏi trí nhớ của tôi.

Gần đây người ta cứ nhắc mãi đến việc bảo vệ môi sinh và chống ô nhiễm. Đó cũng là điều chính tôi đã nhiều lần đọc trên đài. Nhưng cũng giống như con sông này đến bao giờ mới thực sự được lưu ý, trông nom cho trong sạch?

Tôi cũng nhớ lại cái vườn rau xanh và ngôi chùa nổi đã nhìn thấy. Có một chút gì  buồn bã thấm ngấm trong tất cả những thứ đó. Liệu một ngày nào, cái kiến trúc mơ tưởng của những người như Thảo sẽ chạm tới được những chốn như thế, chạm tới cái xã hội lênh đênh trên rác rưởi đó? Liệu có ngày nào chữ viết của những người như Sơn sẽ chạm tới được những đôi vợ chồng nằm trên căn lầu xép nghe cải lương nọ? Để làm gì?  Những người đó họ không hạnh phúc sao? Có cần đến một sự đổi thay nào chăng?

Tôi mường tượng lại bộ điệu của Sơn, căn phòng anh đang ở, cái ánh đèn rọi trên con ngõ ra ngoài đường phố, mọi thứ, mọi vật, mọi người, đều vật vờ như trong một cơn mộng.

Cơn mộng nào đây, hỡi anh yêu dấu?

Tôi bật ra tiếng kêu âm thầm đó một mình và nghe dội vang cái dư âm của nó làm lòng xao xuyến. Có phải đời sống giống như một cái trống có hai mặt, một mặt bi thương và một mặt hạnh phúc. Nếu người ta cứ khua mãi một bên nào người ta sẽ nghe ra dư hưởng của nó nhiều hơn?

Không, tôi không tin như vậy.

Mọi sự không quá giản dị như vậy.

Chẳng có đời sống nào mà khua lên cả. Chỉ có những giây phút, như giây phút này đây, tôi quên nỗi bi thương và nghe lòng dấy lên một lần nữa cái giây phút bàng hoàng hạnh phúc.

Tôi hỏi Nhiên:

– Nhiên có điều gì muốn nói với chị phải không?

Nhiên nhìn tôi một giây rồi bảo:

– Không. Sao chị hỏi vậy?

Nó không biết gì về chuyện ở Cap hôm nọ thật chăng? Hay nó biết mà không nói? Giả thử nó biết, nó sẽ nói gì với tôi mới được chứ? Thằng nhỏ có vẻ nghi ngờ. Nghi ngờ chi? Chắc nó nghi ngờ đầu óc tôi không bình thường. Nhưng nó không nói.

Nó không nói hay định mệnh của tôi không hé môi với tôi một điều gì về những việc tôi đã làm?

Nghĩ cho cùng, tôi cũng chỉ nên xếp cái định mệnh của mình ngang hàng với cái bóng của mình trong gương, sẽ ngả mũ chào không oán hận nếu phải giã từ.

Tôi đã có giọng hờn giỗi với chính mình.

Tôi giận ai?

Tôi giữ nụ cười với Nhiên, bảo:

– Bao giờ Nhiên lấy vợ?

Thằng nhỏ mở to mắt ngạc nhiên. Chừng như nó không chờ đợi nghe tôi hỏi câu ấy.

Nhiên nói:

– Chưa.

– Khi nào lấy vợ báo cho chị biết nghe.

– Mai tôi sẽ đưa bà đi,

– Nhiên không bận chứ?

– Không ai tiễn bà hả?

Thằng nhỏ vẫn không ngừng nhìn tôi. Tôi thấy lạnh người khi nghĩ có lẽ nó đã linh cảm một điều gì đó không bình thường nơi tôi.

Tôi nói:

– Không.

– Càng nhẹ.

– Nhiên nhớ ghé đây và coi chừng Thảo nhé.

– Coi chừng nỗi gì?

– Dầu sao nó cũng là con gái mà.

– Bao giờ bà trở lại?

– Chị vừa đi làm vừa đi học. Chưa biết thế nào.

– Vậy, ít nhất cũng bốn năm năm nữa.

– Ừ.

– Còn những chuyện khác?

– Chuyện khác là chuyện gì?

Thằng nhỏ nhún vai thay cho câu trả lời.

Tôi nói:

– Chị chỉ muốn thử đi xa một lần xem sao.

Nhiên tiếp:

– Mai em sẽ đến sớm, đưa chị vào phi trường.

Như thế chỉ còn lại một đêm, đêm cuối cùng tôi ở lại cái xứ sở khốn khổ này.

Nhiên ra về.

Chỉ còn lại tôi với Thảo.

Tôi loay hoay ra đứng bên cửa sổ, một nửa muốn Thảo nói gì đó, một nửa muốn nó cứ im lặng như thế, để tôi có thể đứng ngó quanh trời, nhìn sao, nhìn vào những khoảng u tối, thầm cầu nguyện cho anh tôi.

Dù đêm đã khá khuya, nhưng bầu trời không hoàn toàn tối đen. Tôi vẫn nhìn thấy đâu đó những đám mây trắng trôi luớt lững lờ. Trong đêm này không biết có bao nhiêu người sống trong tình cảnh tương tự, vất vưởng tương tự.

Hòa bình có sẽ trở lại đây không?

Hòa bình. Cái tiếng ấy hình như đã mất hết ý nghĩa, không ai còn có thề hình dung nó như thế nào.

Tôi nhớ đã được xem trong một cuốn phim, đọc trong một cuốn truyện nào đó, một người Ấn lái xe lửa, nhìn cảnh những người Ấn giết nhau do sư xúi giục của người Anh, nằm chết la liệt trong cuộc chận đánh chuyến xe, anh ta vừa khóc vừa nói rằng, đôi lúc anh muốn dùng tay chụm tất cả những cái đầu của người Ấn lại với nhau cho họ khôn hơn lên một chút.

Bàn tay nào sẽ giúp cho người Việt Nam chúng ta đây?

Thảo đóng các ngăn kéo tủ, tới ngồi bên cạnh tôi, bảo:

– Buồn nhỉ.

Một cơn lạnh làm tôi co rúm người.

Khu xóm, trong giây phút, bỗng yên lặng khác thường. Có lẽ trong bao nhiêu ngày sống ở đây, không thiếu những khoảnh khắc tương tự, nhưng tôi chưa khi nào nghe ra, biết vậy.

Thảo bảo:

– Thôi đi ngủ.

Chúng tôi tắt đèn, lên giường nằm.

Tôi cũng muốn ngủ một lát dù biết khó mà ngủ được.

Thảo hỏi:

– Chị có thấy nhớ nhà không?

Tôi nói:

– Đã đi đâu mà nhớ.

– Em chắc không đi đâu xa được.

– Sao?

– Không được ăn, không người quen biết, không nói được theo ý mình, em chịu không nổi.

– Cũng phải thử một lần cho biết.

– Nói thế chứ đi được vẫn đi như thường.

– Thảo còn mấy năm nữa ra trường?

– Hai.

– Vậy là trước khi chị về.

– Nếu không thi trượt.

– Trượt không?

– Ai mà biết trước được.

– Cố lên.

Tôi nói và cười với con nhỏ. Đó cũng là cái tiếng thỉnh thoảng tôi vẫn nghe nó nói và nói bằng giọng rất tức cười.

Thảo nói:

– Em vẫn nghĩ một thành phố mà kiến trúc nhà cửa không biểu lộ được tâm tính của một dân tộc là một điều đáng xấu hổ.

– Như thế có khi nó lại biểu lộ một cái khác.

– Không ai nghĩ đến điều đó cả.

– Cũng có thể đã có những người nghĩ như cô nhưng không làm được.

– Đó là một điều kỳ quái.

– Đành phải chịu thôi. Đánh nhau tối mặt còn đâu thì giờ để làm cái gì.

– Một thành phố đẹp đẽ bị xúc phạm sẽ khiến người ta đau lòng gấp bội và gia tăng ý thức bảo vệ.

– Hãy cố học và cố làm cho tất cả những ai không hiểu được điều đó, hiểu điều đó.

– Bây giờ nếu nơi chị đến, có người yêu cầu cho xem hình một kiến trúc biểu trưng của nước mình, chị sẽ chọn chỗ nào?

– Chị cứ cho họ xem vài cái hố bom và nói rằng, chúng ta chưa kịp làm gì cả.

– Trả lời như thế nghe được không?

– Em đừng lo, chị không đại diện cho ai cả.

– Không ai từ chối được sự đại diện đó.

– Thì chị nghĩ sao nói vậy. Mình đâu phải đại sứ mà cần ngoại giao.

– Người ta hỏi về cuộc chiến tranh thì sao?

– Lứa tuổi hai mươi chúng tôi là những người bị chết nhiều nhất trong chiến tranh nhưng lại không hiểu vì sao có chiến tranh.

– Quả thực bà ăn nói không có một chút ngoại giao nào. Người ta sẽ tưởng thanh niên Việt Nam ai cũng có một chút máu điên.

– Nếu người ta cứ nhốt một người nào đó vào trong một cái cũi, đứng ngoài hỏi hết chuyện này đến chuyện nọ rồi cười nói, bàn tán, có lẽ ai cũng phát điên cả.

– Mai mốt chúng ta sẽ làm ra một cuộc đời khác.

Tôi không hiểu con nhỏ định nói gì. Giọng nó có vẻ ngái ngủ rồi.

Đêm đã khuya lắm.

Tôi bắt đầu nghe rõ hơn những cơn gió reo trên cây dương ngoài sân và thỉnh thoảng tiếng những giọt sương rớt trên mái ngói.

Một chiếc trực thăng bay rất thấp qua khu xóm, nổ máy rầm rĩ. Phía xa, đằng sau cánh đồng bên kia khúc sông, một trái hỏa châu đang cháy sáng, hắt cái ánh vàng của nó lên nền trời tối đen.

Tôi mệt thiếp và khi nghe tiếng máy thâu thanh của căn nhà bên hàng xóm tiếng kêu “tít tít” tín hiệu đặc biệt báo giờ của đài, mới choàng thức dậy.

Tôi tưởng chừng trong lòng có tiếng reo mừng tôi vẫn còn ở Việt Nam, còn nghe, còn nhìn thấy, những vật thân yêu quanh mình.

Hành lý tôi đã sẵn sàng, tôi chỉ còn chờ giờ ra phi trường.

Mẹ tôi đã lo dọn cho tôi và Thảo một bữa ăn sáng ngon lành, mỗi đứa một tô miến gà.

Không biết mẹ tôi đã dậy từ lúc nào, khóc từ lúc nào, hai mắt bà đỏ hoe và chốc chốc tôi lại thấy bà dùng khăn lau nước mắt.

Thảo hỏi:

– Chị ngủ được không?

– Được.

– Tốt. Lát đi sẽ đỡ mệt.

– Còn từ giờ đến trưa mà.

Dù đó chỉ là những câu nói vớ vẩn, nhưng cũng làm vơi bớt nỗi trống trải trong lòng, đến lúc này, đã đè nặng trong ngực, làm tôi muốn nghẹt thở. Có ai bắt tôi đi đâu. Chính tôi đã cố công để có được chuyến đi này. Khi biết mình được đi, tôi đã mừng rỡ coi như mình may mắn. Sao tới phút lên đường, tôi lại cảm thấy, trong mọi ý nghĩa, còn có thêm một ý nghĩa nữa là tôi bị hắt hủi, bị đầy ải?

Ăn sáng xong, chúng tôi trở về phòng.

Thảo bảo tôi hãy trang điểm và nó giúp tôi làm công việc này.

Thảo bảo:

– Để em đánh sáp môi cho chị, đánh thật đẹp, biết đâu trên chuyến bay có một người nào đó đi cùng, mê chị.

Tôi cười bảo:

– Thôi đừng có khỉ.

Thảo nói:

– Rồi mỗi đứa đến lúc cũng phải cầu mong có người nào đó yêu mình thôi.

– Không mong sống một mình nữa à?

– Ai mà mong. Phải sống như thế thì cũng sống có sao.

– Cứ cố xây một căn nhà trên bãi biển, không dùng tới thì cho chị mượn.

Tôi nói và trong một giây tưởng chừng  như đã gõ trúng cánh cửa định mệnh của mình. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ điều đó, nhưng tôi thấy tưởng tượng ra trước, hình bóng của chính mình, một ngày nào đó, ra vào cái căn nhà quanh năm, ngày tháng  chìm ngập trong những tiếng sóng vỗ và bụi nước, dễ dàng hơn tưởng tượng một cuộc sống hạnh phúc.

Nhưng có lẽ tôi đã khua lầm mặt trống. Tôi hãy thử gõ vào cái mặt bên kia, những điều mơ tưởng của tôi sẽ dịu dàng, êm đẹp hơn chăng?

Mười một giờ, Nhiên tới.

Nó hỏi:

– Sẵn sàng rồi chứ?

Tôi nói:

– Rồi. Chỉ việc đi thôi.

Nói xong câu đó tôi nghe người rướm mồ hôi và ruột thắt lại. Chuyến đi bây gtờ mới thật sự bắt đầu. Những gì xẩy tới với tôi cũng sẽ là những chuyện thật. May hay rủi?  Tôi chỉ còn nước chờ để biết.

Tôi vào phòng chào thầy tôi, nói:

– Con xin thầy, con đi.

Thầy tôi tới lúc này cũng có vẻ không giữ được xúc động. Tôi thấy da mặt ông bỗng xanh nhợt hẳn đi.

Ông nói:

– Lo mà giữ gìn sức khỏe.

Hình như ông không muốn tôi đứng lại lâu thêm nữa.

Tôi ra khỏi phòng ông.

Mẹ tôi khóc nức nở trong bếp. Tôi chạy xuống ôm lấy bà, khóc một hơi ngon lành.

Cuối cùng bà đẩy tôi ra bảo:

– Thôi lau mặt rồi đi đi.

Bà có giọng nói rắn rỏi khác thường, khiến tôi tưởng như không phải bà làm ra như thế, mà bà đã tự trấn an được thật.

Có gì đáng phải khóc đâu? Tôi tự nhủ và tôi cũng mỉn cười với bà.

Thảo giục tôi ra xe và Nhiên xách hộ tôi hành lý.

Chúng tôi tới phi trường, đúng giờ máy bay sửa soạn cất cánh.

Tôi xếp hàng  làm các thủ tục giấy tờ.

Thảo ôm lấy tôi lúc từ biệt.

Nhiên bắt tay tôi như một người bạn.

Nó nói:

– Thượng lộ bình an nghe bồ.

Tôi cười với hai đứa, hẹn với Thảo sẽ trở về để coi những kiến trúc của nó, hẹn với Nhiên tới ăn mừng cửa hàng nó sẽ mở.

Hai đứa cùng cười giơ tay vẫy tôi.

Tôi bước lên cầu thang, vào trong lòng phi cơ.

Thôi tạm biệt những nỗi buồn cũ kỹ.

Tạm biệt cuộc tình một đêm trăng.

Dầu sao cũng chỉ là một lần tạm biệt.

(Hết)

Share this post