Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 2

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 2

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG HAI

Tôi không được nhìn thấy Hà Nội mưa, nhưng tôi chắc Hà Nội không thể có cái mưa Sài Gòn. Hà Nội nhìn thấy lại qua những tấm ảnh, Hà Nội trong văn chương, Hà Nội nghe kể lại, đều có một vẻ gì ẻo lả. Mưa trên cái ẻo lả đó, chắc hẳn phải là thứ mưa buồn bã.

Mưa Sài Gòn mạnh khỏe hơn.

Cây cối ướt sũng, đường phố dù có chỗ nước chưa thoát hết chảy xối trong các ống cống, nhưng Sài Gòn giống như một người đàn ông có sức lực, mưa không đủ làm cho phải ngừng hoạt động. Nhà cửa nhìn thấy không có vẻ lạnh lẽo. Những từng nhà cao ngất, xe cộ qua lại, hàng quán đông đúc, phố xá san sát tựa những bắp thịt trên bộ ngực nở nang, trên cánh tay rắn chắc.

Sài Gòn như vậy có lẽ nhờ thời tiết của Sài Gòn.

Dù mưa mù trời, nhưng không khí vẫn đủ ấm, mặt trời chỉ tạm khuất đi, trong chốc lát sẽ mọc trở lại.

Hà Nội đàn bà vì Hà Nội lạnh.

Sài Gòn đàn ông vì Sài Gòn nóng.

Ôi giá cái nửa đàn bà đa tình, quyến rũ đó, kết hợp được với cái nửa đàn ông lực lưỡng này, đất nước sẽ sung sướng biết bao?

Tôi tần tiện bấy lâu, hôm nay, tôi cũng muốn tiêu phí một chút.

Tôi gọi một chiếc taxi.

Người tài xế hỏi:

– Cô đi đâu?

Tôi bảo với bác ta:

– Bác cho tôi vào Chợ Lớn.

Tôi ở Sài Gòn gần hai chục năm nay mà gần như chưa biết Chợ Lớn. Tôi có việc gì để vào đó? Nhưng hôm nay tôi muốn nhìn thấy rõ nó, nhìn rõ cái thế giới Tầu trên nước ta này.

Sài Gòn mưa lụt như thế, nhưng nửa quãng đường vào Chợ Lớn vẫn hoàn toàn khô ráo.

Hà Nội có phố nào đẹp như thế này chăng?

Mọi cửa hàng đều sáng choang, hàng hóa chật ních.

Chín phần mười người qua lại trên các hè phố đều là Tầu. Họ buôn bán, sống, có vẻ thoải mái hơn người Việt Nam. Làm một người ngoại quốc trên đất nước này, lúc này, có lẽ sướng thật. Chiến tranh đã có người lo, họ chỉ việc buôn bán, lấy lời, đóng thuế.

Người tài xế nhìn tôi trong tấm gương, chừng bác ta chờ xem tôi sẽ bảo đi tới chỗ nào.

Tôi nói:

– Bác cứ chạy loanh quanh qua vài phố rồi cho tôi trở lại chỗ Tòa Đô Chánh.

Bác ta có vẻ không hiểu tôi muốn nói gì, nhưng cái đồng hồ tính tiền của bác ta nó hiểu ngay. Bác cứ việc nghe theo nó.

Tôi mở rộng tấm kính cửa xe ngó ra ngoài.

Không còn một dấu vết chiến tranh nào ở đây cả, mặc dầu hồi Tết Mậu Thân nhiều chỗ đã tan nát.

Tôi đi qua nhiều phố và không thấy một sự quyến luyến nào. Tôi có cảm tưởng kỳ quặc như cái chốn này đã thuộc hẳn về những người Trung Hoa.

Các bảng tên cửa hàng, rạp chiếu bóng, quảng cáo hầu hết đều được viết bằng chữ Tầu. Tầu đặc, còn gì nữa?

Mỏi mắt, tôi quay vào trong xe, lại bắt gặp cái nhìn của người tài xế. Có lẽ bác ta vẫn chưa hết thắc mắc, tôi có điên chăng?

Tôi nói cho bác hay dù chẳng thấy cần thiết:

– Tôi đi bắt ghen, bác cứ cho xe chạy, hễ thấy tôi sẽ kêu bác ngừng lại.

Lời giải thích này quả thật đủ làm cho tan biến sự thắc mắc vớ vẩn của bác ta. Tôi có cảm tưởng chiếc xe từ lúc đó chạy êm hơn.

Càng đi tôi càng thấy như bị lạc lõng giữa các khu phố.

Tôi bảo với người tài xế:

– Thôi được rồi. Bây giờ bác cho tôi trở lại Tòa Đô Chánh.

Người tài xế không nói gì, lẳng lặng làm theo lời tôi.

Tôi muốn xuống đi bộ loanh quanh mấy khu phố chính một lát. Tôi đã muốn tiêu phí một số tiền và cuốc xe đúng là là khoản tiền phí phạm đó.

Tôi vào hành lang Eden.

Tôi dừng lại trước một cửa hàng bách hóa.

Bên trong tủ kính người ta có bầy mấy chiếc cà-vạt trong đó có một chiếc thật đẹp. Tôi nẩy ra ý muốn mua chiếc cà-vạt này cho anh tôi.

Tôi bảo nhà hàng gói kiểu quà tặng, gửi lại mẹ tôi để trao cho anh tôi kỳ sinh nhật của anh sắp tới, chắc tôi sẽ không còn ở nhà nữa.

Tôi cũng mua cho mẹ tôi một đôi giầy nhung, và mua cho thầy tôi một ống vố.

Trời vẫn loáng thoáng mưa, rồi đột nhiên trở nên nặng hạt.

Trong bản tin thời tiết chính tôi đã đọc chiều qua trên đài phát thanh, Nha khí tượng đã báo trước trận mưa này nhưng tôi đã quên mất.

– Cô Phụng.

Người đứng ngay bên cạnh gọi tôi là người bạn cùng sở.

Anh cũng mặc áo mưa và cầm dù nên tôi không để ý.

– Ủa, anh Sơn. Anh đi đâu đây?

– Đi chơi. Chủ nhật mà.

– Mưa quá.

– Mưa mà có ai chịu ở nhà đâu?

– Tôi đi mua vài thứ cần dùng.

– Bao giờ cô đi nhỉ?

– Sắp.

– Khi nào sẽ trở lại?

– Ngắn thì bốn năm. Dài thì có thể hơn.

– Vậy có thể tôi sẽ không gặp lại cô nữa.

– Không đâu.

– Thật chứ?

– Thật.

Tuy nói vậy Phụng không tin ở lời mình lắm. Ai có thể biết trước việc gì có thể xẩy ra với mình trong khoảng thời gian dài đằng đẵng và lại ở một nơi xa xôi như thế?

Sơn hỏi:

– Cô có cần phải đi đâu nữa không?

– Không. Có vài thứ cần tôi đã mua đủ rồi.

– Chúng ta tìm một cái quán nào ngồi chơi, đợi ngớt mưa chăng?

Phụng nói:

– Phải đấy. Tôi cũng mỏi chân rồi.

Ngồi trong quán nhìn qua tấm kính dầy ra ngoài trời mưa, thành phố có một vẻ đẹp khác hẳn.

Phụng nói:

– Ngồi đây, mai mốt đi khỏi tha hồ nhớ.

Sơn nhìn nàng bảo:

– Cô có cái gì đáng tiếc để lại đây không?

– Rất tiếc là tôi không có gì… đáng tiếc cả.

– Cô có biết gì nhiều về cái xứ cô sắp đến không?

– Ngoài một vài bài thơ, vài cuốn tiểu thuyết, vài cuốn phim đã coi, tôi không biết gì hơn thế.

– Sách nào nhỉ?

– Một trong những cuốn sách đó chính anh đã cho tôi mượn. Anh đã viết bài điểm cuốn sách đó cho đài và tôi là người đọc.

– Tôi nhớ ra rồi.

– Tôi nghĩ và vẫn còn thấy sợ cái cảnh đứa bé chui vào cái hộc tủ mỗi đêm nhìn mẹ nó khỏa thân trong phòng, đôi khi với cả người đàn ông của bà ta nữa.

– Cô sợ cái gì?

– Tôi không biết rõ. Nhưng hình như là cái đời sống phơi bầy trước mắt đứa trẻ.

– Tôi không nghe cô nói với tôi chuyện đó sau bữa cô đọc bài.

– Tại không có dịp.

Sơn nhìn tôi với đôi mắt kỳ lạ, dường như anh vừa thấy ở tôi một người nào khác với nhân vật nào đó có sẵn trong trí nhớ hay anh chưa hề tưởng tượng tới bao giờ.

Tôi cũng hỏi anh:

– Tôi không thấy anh chú ý tới đoạn ấy trong bài điểm sách.

Sơn nói:

– Chúng ta có đường lối làm việc riêng, cô biết mà.

Phụng nói:

– Tôi cứ nghĩ đến người mẹ trong tình cảnh ấy còn thấy hãi hùng.

Người bạn nhìn Phụng cười không nói gì.

Trận mưa vẫn chưa chấm dứt. Quán hàng lắp máy lạnh, quá lạnh, hơi nước bám mờ phía ngoài cửa kính.

Phụng nhìn thấy những hạt nước bám trên mặt kính dính liền với nhau, vỡ loang, trông chẳng khác những đóa hoa nhỏ trong suốt. Một ngày nào đó, có thể, những giọt nước đó cũng sẽ làm tôi phải khóc.

Người bạn bảo:

– Dầu sao, cô cũng còn hơn một tuần nữa ở đây phải không?

Phụng ngước nhìn anh, không hiểu rõ lắm ý anh muốn nói gì.

Nàng nói :

-Vâng.

– Cô thử nói một bữa, như nói trên sóng của cái đài xa xôi, nơi cô sắp đến, xem nào.

Phụng cảm thấy tự trong thâm tâm một sự rung động nhẹ nhàng, nhưng cũng đủ làm cho nàng run rẩy chân tay.

Trong mấy ngày sau cùng này, không nói với ai cả, nhưng một mình, Phụng đã có nhiều lúc, đọc những bản tin, những bài bình luận, những câu chuyện văn hoc, nghệ thuật, trên đài, bằng cái giọng thất lạc, chính nàng, chỉ khi nghe phát ra, mới nhận thấy. Hình như tôi không còn đọc những dòng chữ có trước mắt nữa, tôi chỉ còn nhận ra cái ý nghĩa giã từ buồn bã và thiết tha, trong từng mỗi chữ đó.

Mai đây, tới cái chốn xa xôi kia, công việc của tôi không thay đổi, nhưng có phải mỗi tiếng nói của tôi sẽ mang một ý nghĩa khác? Những bản tin chắc chắn không hoàn toàn chỉ còn là những bản tin nữa mà nó còn có thể là những lời kêu gọi quê hương gửi vọng từ chân trời về. Tất cả những người Việt Nam lưu lạc ở bốn phương cũng sẽ nghe những tiếng nói ấy như sự nối liền với xứ sở, có thể như thế chứ?

Không phải mình tôi đã mơ hồ cảm nhận ra điều đó, cả anh nữa, phải không?

Phụng nói:

– Anh cũng nghĩ đến điều ấy sao?

Trong mắt người bạn, Phụng nhận ra vẻ cười cợt, âu yếm, nàng tưởng chừng như được hưởng một sự ấm áp.

Phụng nói:

– Tôi lo quá.

– Lo gì?

– Không biết rồi sẽ phải làm ăn ra sao.

– Rồi cũng đâu vào đấy thôi mà.

– Tôi muốn nhờ anh một việc.

– Cô cứ nói.

– Tôi qua bên ấy rồi, ở nhà, nếu anh thấy có cuốn sách nào cần đọc, anh làm ơn gửi cho tôi. Tôi cũng sẽ làm lại công viêc ấy cho anh khi có sách mới ở ngoài.

– Đó là điều tôi cũng mong được như vậy.

Phụng ngẩn người, vì dù đã làm việc chung trong một cơ quan đã lâu, sao chưa có một lúc nào nàng để ý đến anh như lúc này, để ý một người còn có thể gặp lại hoặc không, và nhất là, nàng nhận ra một cách mơ hồ rằng, nếu nàng có dịp nghĩ đến anh như thế này trước, và với thời gian làm việc chung bao lâu như vậy, có thể nàng đã yêu anh không chừng.

Nghĩ thế, Phụng bỗng nhiên cảm thấy đầu óc choáng váng. Choáng váng không phải vì nàng tiếc cái cơ hội đã bỏ qua (có gì đáng tiếc đâu) nhưng dường như nàng đã  có dịp trở thành một người khác, khi yêu có phải người ta trở thành một người khác? Và nàng đã không biết như thế.

Khám phá này làm nàng bối rối.

Phụng tự trấn an bằng cách nhìn qua tấm màn mỏng che sau mấy tấm kính của cửa tiệm ra ngoài đường.

Trên lề đường ẩm ướt, Phụng nhìn thấy những tấm vé gửi xe nhiều màu vứt đây đó, bị nước mưa và chân người dẫm qua dính chặt xuống mặt đường, bên cạnh một người đàn bà bầy bán những tờ báo được đậy dưới một tấm nylon.

Phụng cũng nhìn thấy chân những người đứng núp mưa ngoài thềm quán nước, một cặp tình nhân đứng sát nhau, những đôi giầy mới, cũ, mấy cái ống quần lụa mỏng thấm  nước trở  thành trong suốt, hằn  rõ màu da hồng bên dưới.

Lòng đường, nước mưa không kịp thoát đầy ứ, xe hơi chạy qua làm thành những con sóng đập vào vỉa hè, bắn tung toé.

Người bạn nói:

– Cô lo xứ người thiếu mưa à?

Phụng cười, mắt vẫn không rời khỏi những vệt nước nhớp nháp ngoài lề đường, những cặp chân đã rời xa nhau hơn một chút hoặc sát lại nhau hơn một chút.

Phụng thử làm cái công việc kỳ quặc, nhìn những đôi chân, những đôi giầy, cái cách đứng của mỗi người để thử đoán xem măt họ ra sao. Phụng bật cười vì mọi tưởng tượng của mình không ăn nhập gì với những khuôn mặt nhìn thấy. Người thiếu nữ Phụng nhìn thấy có đôi môi tô son hồng thật đẹp, nàng đang âu yếm ngó người tình của mình, và rồi cũng ngước đôi mắt còn đầy âu yếm đó nhìn trời mưa. Phụng nhìn theo cô ta lên mảnh trời bị cắt xén bởi những cao ốc, những cột đèn, và những hàng dây điện chằng chịt, bầu trời nặng nước, mây không nhìn ra mây, mưa không nhìn ra mưa, tất cả chìm trong một màu loãng nhạt, sa xuống thấp đến độ không ngờ, và, từ trong cái đám khói mù mù, u ám ấy, tấm lưới mưa ào ào chụp xuống.

Phụng bảo:

– Mãi không sao, tới lúc sắp đi, cái gì tôi cũng thấy tiếc.

Sơn nói:

– Tiếc thì hãy trở lại.

Phụng cảm thấy mỏi mắt, quay nhìn quanh trong quán. Quán lắp gương, những tấm gương sáng bóng gắn trên các cột và thành tường, phản chiếu lẫn nhau, cho thấy gần hết những hình ảnh trong quán.

Những tấm gương in bóng bầu trời ẩm ướt, soi qua một lớp màn mỏng che bên trong các tấm kính trong, trông bầu trời càng trở nên mờ đục. Trận mưa hình như đã nhẹ bớt. Cái màn sữa đặc bắt đầu có chỗ đã để lộ hình thù những đám mây, các đám mây trông tựa những nỗi hoang mang của chính bầu trời.

Trận mưa chưa chắc gì đã tạnh.

Phụng nói:

– Tôi sẽ trở lại mà.

Anh bạn cười:

– Tôi cũng tin thế.

– Thật à?

– Tôi đã nghe cô đọc nhiều lần. Bỏ quê hương là bỏ luôn tiếng nói, một người có giọng đọc như cô, là việc khó đấy.

Anh đang nói gì vậy, anh bạn?

Trong cuộc chiến tranh đang diễn ra trên đất nước, có ngày nào chúng tôi không phải loan đi những tin tức buồn thảm, và điều này, đã nhiều lúc khiến tôi cảm thấy bất an. Thông báo một tai ương, giọng xướng ngôn viên càng mạch lạc, khúc triết, càng dễ sợ, có phải vậy không? Cái điều ai oán ấy đã bao lần xiết lại trong cổ họng Phụng, nhưng Phụng giữ kín một mình, không nói với ai. Đọc những bản tin như thế, đôi khi, Phụng bỗng rợn người thấy như mình góp phần gieo rắc tai ương, tiếng nói của mình càng được đưa đi xa bao nhiêu càng dễ sợ bấy nhiêu.

Phụng nói:

– Tôi phải cảm ơn anh, vì nhờ những bài viết của anh, tôi đã được đọc những điều tôi thích.

Sơn nói:

– Có một đêm giao thừa, tôi đã được nghe một xướng ngôn viên Việt ngữ của chúng ta, tôi không nhớ rõ lắm, nhưng hình như trên đài BBC  thì phải, chúc tết các thính giả, và mời mọi người nghe bài “Tình Ca” của Phạm Duy. Bài hát chúng ta nghe thường ngày, nhưng vào lúc ấy, qua làn sóng điện ở một nơi xa thẳm đó, nghe văng vẳng, quả thật, không chỉ còn là những tiếng nói thông thường nữa mà giống như sự chắp nối người nọ người kia với nhau, và với đất nước. Mai này, có lẽ có lúc cô cũng phải mang cái sứ mạng ấy những lúc cô nói đấy.

Phụng cười bảo:

– Nghe anh nói đủ sợ rồi.

Anh bạn bảo:

– Nói trên đài phát thanh là một nghề dễ thương chứ.

Phụng cười tiếp, bảo:

– Chỉ có xướng ngôn viên khó thương thôi.

Đúng trưa, mưa tạnh. Chỉ trong giây lát cả bầu trời lại sáng choang trong nắng. Trên những quãng đường, nước mưa gặp nắng bốc hơi làm không khí trở nên khó thở.

Phụng chia tay với người bạn, bảo:

– Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở đài.

Nguời bạn nói:

– Mình còn buổi thu thanh cuối cùng nữa.

– Vâng.

Người bạn đi rồi, Phụng vẫn phải đứng đợi xe. Trời càng nắng không khí càng nồng nực, khó chịu.

Phụng chạy sang chiếc quán bán hoa bên kia đường, mua một bó hồng.

Đó là việc lâu lâu nàng mới làm một lần. Có lẽ Phụng cũng nên mời mấy đứa em đến nhà ăn một bữa cơm tạm biệt. Bó hoa này sẽ được bầy ở phòng khách. Những nụ hoa tươi thắm cho Phụng một chút cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu. Một việc thích thú như thế, nhưng chẳng mấy khi và mấy ai dám làm, đối với cái đời sống chung chung như gia đình nàng, một bó hoa vẫn phải coi là một món xa xỉ.

Thật buồn cho cả hoa lẫn người.

oOo

Trong lúc cắm hoa vào bình, Phụng nghĩ tới người anh không biết đang làm gì ở cái nơi người ta gọi giản dị là “đơn vị” đó?

Một chiếc gai đâm vào đầu ngón tay Phụng làm chảy một giọt máu đỏ tươi. Giọt máu đỏ hơn cả màu của những đóa hoa.

Phụng nhớ tới một bài thơ hay ca từ của một bản nhạc, đã được đọc, được nghe đâu đó “nhũng cánh hoa này đỏ thắm vì mang trong mình máu của bao kẻ tình nhân đã chết, thêm một giọt máu của một kẻ chưa là tình nhân của ai cả, còn thêm biết bao nhiêu máu của những người chưa bao giờ được đọc những câu thơ ấy, chẳng lúc nào có thì giờ để nghĩ đến những điều tương tự, những tư tưởng đẹp đẽ, những lời nói như những niềm an ủi lớn lao trong cuộc sống.

Mẹ Phụng nói:

– Úi giời! Mày mua làm gì cho phí tiền vậy con?

Phụng cảm thấy không phải cái mũi gai nhọn hoắt vừa đâm vào tay làm chảy máu mà dường như nó còn chạm tới tận tim làm Phụng nhói đau.

Cắm một bông hoa vào bình có vẻ như đó là một trò chơi lén lút và tàn nhẫn.

Có thể như vậy được chăng?

Nhưng dĩ nhiên nàng chẳng thể nói gì với mẹ về điều đó, chỉ quay đi để mẹ khỏi nhìn thấy mình nhăn mặt, sau đó Phụng lấy lại bộ bình thường, nói với mẹ:

– Cho nhà đẹp hơn một chút mấy bữa trước khi con đi.

Mẹ Phụng giúp con sửa lại mấy bông hoa trong bình.

Bà nói:

– Ngày xưa, nhà mình, ông nội cũng trồng một giàn hồng dài suốt  một góc sân trước thềm.

Phụng nói:

– Con tưởng hồng mọc từng cây, cũng có leo giàn hả mẹ?

Mẹ Phụng nói:

– Có chứ. Giàn hồng của ông gần như có bông quanh năm. Bông to và còn đẹp hơn thế này nhiều. Nụ nó kết chặt như nụ sen vậy.

– Khi nhà mình di cư, cây cối ấy còn không mẹ?

– Còn cả. Nhưng bây giờ chắc là hết rồi.

Phụng thầm nghĩ, cái chốn mong ước đó, có lẽ chẳng bao giờ tôi có thể trông thấy được, chẳng ai ra đi còn giữ lại được một chút liên lạc nào, lòng nhớ thương cũng dần phai nhạt, kẻ chết đi mong được gửi nắm xương tàn trên cố hương cũng chỉ còn đành trối trăn lại cho con cháu, sau này, bao giờ về được, hãy bốc mộ đem về. Người còn sống nhận lời như một cách để người chết có được thêm một chút an tâm nhắm mắt, chứ thật ra, người ta cũng chẳng biết đến bao giờ mới thực hiện được viêc ấy. Riêng Phụng, trong đáy sâu tâm khảm, thường nghĩ, dù chẳng ai về được cái chốn xưa đó, nhưng tiếng nói của nàng sẽ về tới, sẽ đến thăm hỏi được những đóa hoa trong khu vườn cũ ấy.

Phụng hỏi:

– Nước lụt, cây không chết sao, mẹ?

Mẹ Phụng bảo:

– Chết chứ. Nhưng chỉ chết những cây nhỏ thôi.

– Thường, nuớc ngập có lâu không ạ?

– Dăm bữa. Nửa tháng.

– Trong nhà cũng có nước hả mẹ?

– Có khi nước lên tới tận mái ấy chứ.

– Năm nào cũng lụt sao?

– Năm nào cũng lụt. Nhưng nước rút đi, bồi phù sa, đất tốt lắm.

Tất cả những chuyện ấy, Phụng đã loáng thoáng nghe, hôm này một chút, hôm khác một chút, nhiều lần rồi, nhưng thỉng thoảng Phụng vẫn muốn nghe mẹ nhắc lại. Nghe lại nhưng chuyện ấy, Phụng tưởng chừng như cả tâm trí lẫn thể xác được dầm trong hơi nước mát, mơ hồ vẽ ra trong đầu cái cảnh, một đêm thức giấc, thấy nước tràn vào trong nhà, guốc nổi lều bều trôi lung tung khắp nơi…

– Thế nhưng mẹ ở bên Hà Nội làm sao biết?

– Ở đâu thì cũng phải về thăm ông nội chứ.

– Sao ông không ra Hà Nội?

– Các cụ ngày xưa không chịu bỏ nhà đi đâu đâu.

– Chỉ ít bữa, nuớc cạn laị về thôi mà.

– Thế chó mèo gà lợn, bỏ cho chết à?

– Vậy hả mẹ?

– Còn bàn thờ, đêm nào ông cũng thắp nhang cả.

Lời mẹ nói làm tôi nhớ tới anh Bằng của tôi, và buồn cười. Anh đã có lần kể vơí tôi về căn nhà ở quê tôi đó, vào nhà lúc nào cũng mát rượi và luôn có mùi thơm nhẹ của hương trầm, cái mùi thơm ngay khi từ ngoài cửa bước vào trong nhà là người ta ngửi thấy liền, nhưng vào hẳn bên trong có lúc người ta lại tưởng như không có. Chính anh tôi ngày còn bé, đã có lần, như lời anh kể lại, muốn kiếm xem cái mùi thơm đó ở đâu ra, anh đã ghé mũi ngửi quanh cột nhà, hít trên mặt đất. Đất làng tôi lạ lắm, thầy tôi nói rằng, khi làm nhà, dù người ta nện nền nhẵn đến đâu, chỉ ít lâu sau, đất cũng gồ lên thành những cái vẩy, lớn bằng đồng xu hay hơn một chút, giống như vẩy rồng. Người làng tôi tin rằng, làng tôi đã thành tựu trên lưng một con rồng. Ngày xưa, trong làng có một thầy địa lý giỏi, đã cho đào những hào rạch chặn long mạch và thiết lập làng trên lưng rồng. Con rồng đã nhiều lần uống nước, làm cho quãng sông chạy dọc theo chiều dài của làng, chỗ rồng hút nước, dù trong ngày trời quang mây tạnh bỗng nổi sóng ầm ầm, nước xoáy như trút vào trong một cái vực.

Đã có những người mạo hiểm, sau khi nước yên trở lại, thử lặn xuống chỗ nước xoáy xem sao, nói rằng, đã thấy một cái vực sâu hoắm, nước lạnh toát, phải ngoi lên, không dám lặn sâu hơn nữa, cũng chẳng còn hơi đâu mà xuống sâu hơn nữa. Những ngày rồng hút nước như thế, các cụ đều ra đình họp bàn việc làng, cúng khấn thành hoàng, sửa một mâm lễ vật, ra tận ven sông, chỗ xẩy ra hiện tượng rống hút nước, chính cụ tiên chỉ mặc áo thụng xanh đứng lễ và sau đó cùng với hai tráng đinh, đi một chiếc thuyền tam bản nhỏ, đánh thanh la và trống, mang mâm lễ vật gồm hoa quả và xôi trắng ra đúng chỗ nước xoáy thả xuống.

Tôi không biết thầy tôi có tin những chuyện đó không, nhưng chắc chắn thầy tôi không có ý bài bác..

Các cụ trong làng đều tin rằng đất làng tôi là đất thần thánh, đến lúc phát, dân làng sẽ vinh hiển.

Không biết đến ngày nay có còn ai tin như thế nữa chăng?

Và, cho đến bây giờ đất chưa phát thì bao giờ mới phát?

Trở lại chuyện cái mùi thơm phảng phất trong gian nhà thờ gia tiên, mỗi khi có dịp về, anh vẫn ngửi thấy, nhưng vẫn không biết từ đâu phát ra. Trông thấy anh nằm dài trên nền nhà hít hít như thế, ông tôi đã hỏi, “mày làm cái gì như con chó thế”, anh đã không làm sao trả lời được. Lạ lùng một điều là khi đó, anh chẳng còn thấy cái mùi thơm đâu nữa. Anh đi ra ngoài và khi trở lại, lại thấy cái mùi thơm ấy tràn vào mũi. Sau cùng anh cho rằng, nó ở trong cái lọ cắm nhang bằng gỗ, lưu cữu bao nhiêu năm, hương trầm ngấm vào thớ gỗ, mùi thơm còn sót trong các bát bình hương đầy những chân nhang nhuộm đỏ,  trong những bát nước thải, đã thấm vào mọi vật trong khắp gian nhà. Anh tôi nói rằng, có những kỳ hè đươc về quê chơi cả tháng, lúc ra Hà Nội đi học lại, anh còn ngửi thấy cái mùi thơm kỳ lạ ấy bám trên người.

Ông tôi đã chết trước ngày gia đình tôi di cư vào Nam.

Khi đi, thầy tôi nhờ một người bác trông nom dùm nhà cửa, cúng giỗ tổ tiên, cho bác hưởng hoa lợi ruộng vườn phần của thầy tôi, để bác lo hương hỏa.

Bây giờ, những ruộng đất ấy, có thể đả trở thành tai họa của bác không chừng.

Thầy mẹ tôi cũng cầm bằng như nơi thờ cúng cũ, đã hương lạnh, khói tàn, từ lâu.

Có điều, thầy tôi, dù trong lúc trò chuyện vui đùa, chưa bao giờ tôi nghe người tỏ ý muốn, nếu một mai có chết, con cháu hãy mang xương của người về quê cũ.

Có lẽ vì thầy tôi cũng biết rằng cái ngày ấy khó hy vọng có được.

Tôi nói với mẹ tôi:

– Mẹ cho con mời mấy đứa em đến nhà ăn một bữa nhé.

Mẹ tôi dễ dãi bằng lòng ngay:

– Ờ, mày muốn mời ai thì mời.

– Mẹ cho mọi người ăn một món gì đặc biệt đi.

– Món gì bây giờ?

– Cháo ám được không ạ?

– Con định mời hôm nào?

– Thứ Bẩy con đi. Con muốn mời vào ngày thứ Năm này.

– Phải cho tao biết trước có bao nhiêu người mới được.

– Dạ, ba, bốn người.

– Cứ bảo chúng nó tới.

– À, con muốn mời một người bạn ở sở nữa.

– Ai thế?

– Anh bạn làm chung với con.

– Chỉ có một người khách thôi hả?

– Vâng.

– Để mẹ nói với thầy cho.

– Mẹ xin thầy hộ con đi.

Yên lặng một giây, mẹ tôi bảo:

– Còn thằng Bằng chẳng biết ra làm sao.

– Con có mua cho anh mấy cái quà. Bữa nào anh về, mẹ đưa cho anh dùm con.

Tôi không nhìn, nhưng tôi biết mẹ tôi đang sắp chảy nước mắt. Rồi đây, bà sẽ còn chẩy nước mắt vì tôi nữa.

Hễ cứ nghe mẹ nhắc tới tên chúng tôi, tôi lại nhớ lời thầy tôi bảo, tên cả anh tôi lẫn tôi, đều có bộ “điểu” ở bên cạnh. Chúng mày, sau này có con, con gái không nói làm gì, con trai có con, đặt tên gì cũng nhớ giữ bộ “điểu” để anh em dễ nhận ra nhau.

Chim thì phải bay chứ thầy, mẹ? Con là con gái, nghĩa là, cũng bay nhưng hẳn là con chim lạc đàn.

Con tôi, nếu có, không cần giữ bộ điểu cũng chẳng sao.

(Còn tiếp – Chương 2)

Share this post