Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 4

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 4

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG BỐN

Tôi đến nhà đứa em họ. Người nhà đang quây quần quanh một bàn mạt chược.

Tôi chào mọi người.

Thím tôi nói:

– Em nó ở trên gác. Bao giờ chị đi?

Tôi kiếm chỗ treo áo mưa, lấy khăn lau mặt, đáp:

– Dạ thưa, tuần tới ạ.

Chú tôi vẫn chăm chú vào ván bài, nhưng cũng hỏi:

– Cháu đi bao lâu?

Tôi không muốn trả lời câu hỏi của ông, bởi vì tôi biết ông cũng không chú ý bao nhiêu đến điều ông hỏi, nên tôi chỉ lí nhí đáp, “dạ thưa cũng không bao lâu ạ”.

Ông chú quả nhiên cũng chẳng kịp nghe câu trả lời của tôi, vì tôi nghe ông kêu lên:

– Tứ sách hả? Phỗng.

Cuối cùng lại có tiếng ông bảo:

– Thôi.

Ván bài lại tiếp tục với những tiếng lách cách.

Thím tôi giục:

– Con lên trên gác đi.

Lúc đi ngang qua bàn mạt chược tôi khẽ nghiêng đầu chào mấy người khách lạ và bước lên cầu thang.

Thảo đang ngồi trước một chiếc bàn lớn đầy sách vở.

Tôi nói :

– Chăm thế. Chủ nhật cũng học à?

Nghe tiếng tôi, Thảo quay lại, reo lên:

– A! Chị Phụng.

Tôi nói:

– Mưa quá.

Thảo đứng dậy đi lấy một cái ghế để bên cạnh bàn học cho tôi ngồi.

Trời mưa, trông bên ngoài cửa sổ đã tối đen, mặc dầu trước lúc tôi tới đây, chiều còn chưa hết hẳn. Nhưng cả căn phòng đều đã được chiếu sáng bằng ngọn đèn nhỏ trên bàn học của Thảo.

Thảo nói:

– Mưa suốt ngày. Từ sáng đến giờ em chưa ra khỏi cửa.

Ánh sáng và sự kín đáo của căn phòng khiến tôi cảm thấy ấm áp. Vào đây mới thấy bên ngoài trời lạnh thật. Tôi lại ngồi ngoài mưa với Sơn một lúc khá lâu, nên thấy mặt mũi tay chân đều lạnh toát.

Tôi ngồi xuống chiếc ghế Thảo vừa mang lại bảo:

– Chị vừa ở sở về.

Thảo có vẻ ngạc nhiên hỏi:

– Tới bữa nay mà chị chưa nghỉ à?

Tôi dùng tay gỡ lại mái tóc, những sợi tóc cũng lạnh ngắt.

Tôi nói:

– Ờ, hôm nay là buổi làm cuối cùng.

– Để em đi lấy lược cho chị.

Tôi ngửi thấy mùi nước mưa trên tóc. Cái mùi thơm nhẹ, đúng hơn, cái mùi đã làm cho tóc tôi bớt thơm đi một chút, không, không phải như thế, quả thật đó là mùi nước mưa bám trên tóc, làm tôi nhớ lại lúc trưa nằm ngủ, tự ngửi thấy cái mùi vị của riêng  mình, tôi đã nghe lòng nhen len một chút xao xuyến, bâng khuâng.

Tôi bảo với Thảo:

– Chị có cái lược trong sắc đây rồi. Có nước nóng cho chị môt chút thì tốt hơn.

Thảo nói :

– Nước có sẵn đây rồi.

Thảo với chiếc bình nhỏ trên bàn, xoay nắp, rót cho tôi một tách trà bốc khói thơm phức.

Tôi cười nói với Thảo :

– Uống trà không sợ mất ngủ à?

Thảo nói:

– Lắm hôm còn phải uống cà phê để thức học mà hai mắt vẫn dính lại.

Cầm tách nước trên tay, tôi nghe hơi nóng truyền nhanh vào cơ thể.

Thảo nói:

– Em định ngày mai sẽ qua chị, hỏi xem hôm nào chị đi.

– Thứ Bẩy tuần sau

– Vậy thì cũng tới nơi rồi.

– Chị tới để mời Thảo, thứ Năm, lại đằng chị ăn một bữa.

Thảo không trả lời câu nói của tôi. Tôi biết nó đang tìm cách che giấu sự xúc động, loay hoay xếp lại mấy thứ trên bàn.

Thảo nói:

– Đêm hôm qua em có nghe chị đọc.

– Thế hả?

– Em nghe mà cứ tưởng như chị đã đi rồi.

Tôi yên lặng, thong thả uống tách nước. Căn phòng êm ả, tiếng gió mưa bên ngoài nghe rõ hơn. Những vạt nước gió cuốn reo rào rạt trên bức tường ngoài cửa sổ. Trận mưa kéo dài quá đến nỗi tôi tưởng chừng cái tiếng mưa reo rì rầm đó có sẵn trong đầu.

Tôi nói:

– Tối nay sẽ là buổi phát thanh cuối cùng của chị.

– Em sẽ nghe.

– Sắp thi hay sao mà chăm thế?

– Chưa.

– Lúc mưa lớn chị ngồi ở chỗ công viên cạnh trường mới thấy thành phố cần có thên nhiều công viên nữa.

– Không lý chị ngồi một mình ngoài mưa?

– Không một mình mà cũng như một mình.

Thảo nhìn tôi dò hỏi. Nó vẫn giữ nụ cười trên môi. Nó có đôi mắt thật đẹp, nhưng đôi lúc hình như quá sáng.

Thảo hỏi:

– Ngồi với ai?

– Anh bạn làm cùng sở.

– Em ít nghe chị nhắc đến “ảnh”.

– Ờ, mãi tới lúc sắp đi khỏi, chị mới thấy ra anh ta cũng có vài cái hay ho.

– Cả hai người cứ ngồi đội mưa thôi à?

– Thì cũng nói huyên thiên.

– Nói ở đài chưa chán hả?

– Anh ấy là người viết những chương trình chị đọc.

– Thỉnh thoảng em cũng có đọc anh ấy.

– Sao?

– Không làm nổi cho chị chú ý trong suốt mấy năm làm việc như thế là quá dở.

– Có lẽ tại chị không có gì đáng chú ý thì đúng hơn.

– Khiêm nhường nhỉ.

– Buổi chiều anh ta khen chị mặc cái áo này đẹp.

– Càng lúc càng tệ.

– Tệ cái gì?

– Chỉ khen có cái áo thôi à?

– Có. Chàng còn khen chị xinh đẹp nữa.

– Anh ta cận thị phải không?

– Ừ.

– Chị xem em có tài không?

– Đến lúc chị hỏi lại, anh có thấy tôi xinh đẹp thật không, anh lại không nói gì.

– Sợ à?

– Sợ gì?

– Sợ chị hiểu nhầm là anh bắt đầu mê chị.

– Không đâu. Chị có mời anh ta đến ăn bữa thứ Năm này, em sẽ có dịp gặp.

– Coi chừng những anh cận thị.

– Sao?

– Anh ta nhầm em với chị thì chết.

Thảo cũng lấy tách rót nước uống. Nó châm thêm trà vào tách cho tôi.

Ở dưới nhà tôi vẫn nghe tiếng lách cách của những con bài va chạm và thỉnh thoảng tiếng người cười lớn hoặc phàn nàn.

Không khí vừa có vẻ gì đó ấm cúng vừa tẻ nhạt.

Tôi cười bảo với Thảo:

– Nếu anh ta chú ý tới Thảo thì không phải sự lầm lẫn đâu.

Thảo cũng cười bảo:

– Chị âm mưu cái gì đây?

Tôi nói:

– Chị thấy có vẻ như gặp anh ta, em có thể nẩy ra những ý kiến hay không chừng.

– Chị đã khen chắc phải có cái gì hay ho thật.

– Bao lâu, nghĩ lại, chị thấy anh ta lúc nào cũng lười biếng như một con cá vàng vậy.

– Hay tại chị không biết khuyến khích.

– Chị có bao giờ nghĩ tới chuyện đó đâu.

– Chị có nhớ Alexis Zorba không? Hắn đã nói với ông chủ của hắn về cái bà góa trong khu phố rằng, cứ nghĩ đến cảnh bà ta phải ngủ một mình mà tôi chết cả cõi lòng.

– Khỉ.

– Lắm lúc em cứ nghĩ, hình như chỉ có các góa phụ mới đích thực là đàn bà.

Chúng tôi gặp nhau chỉ để nói những chuyện ba láp như vậy, nhưng có khi nói cả ngày không hết.

Nghe Thảo nói, nhìn cái ánh đèn chiếu sáng một khoảng trên mặt bàn, hắt cái ánh sáng nhạt hơn ra chung quanh, nghe những tiếng động từ dưới nhà vẳng lên, tôi vẫn không ngớt cảm thấy một sự buồn nản, hình như chúng tôi rớt vào một bầu không khí nửa ấm cúng, nửa lạnh lẽo.

Tôi nói:

– Những mộng ước lớn lao của cô đâu cả rồi?

Thảo cười:

– Vẫn chưa quên đâu.

– Trưa nay có lúc trời đẹp quá.

– Thế à ? Em ngồi ì trên ghế này từ sáng đến giờ.

– Nhìn trời đất bỗng thấy nhớ Hà Nội. Dĩ nhiên chỉ là thứ Hà Nội trong ký ức của một đứa trẻ.

Thảo cười:

– Hão huyền quá.

– Mình lắm lúc vớ vẩn thật.

– Chị còn biết một tí về cái chốn ấy chứ em hoàn toàn mù tịt.

– Biết quái gì. Chị chỉ hơn em vài tuổi.

– Tuy nhiên em có đuợc xem vài đồ án và kiến trúc đẹp nhất của Hà Nội.

– Chị không biết những kiến trúc ấy, chỉ nhớ thời tiết.

– Anh nào ra khỏi Hà Nội cũng mang theo một tí thời tiết Hà Nội.

– Người bạn chị vừa nói với em, bảo rằng, lắm lúc cái thành phố ấy nó hành hạ anh ta như một thứ bệnh tê thấp vậy.

Thảo cười thành tiếng.

Nó có vẻ thích thú vì cái điều vừa nghe.

Thảo hỏi:

– Bộ trưa nay trời giống Hà Nội lắm sao?

Tôi nói:

– Giống hay không chị đâu có biết, nhưng nó làm cho tưởng như vậy.

– Bây giờ thì em hiểu tại sao trong giọng nói của chị luôn có một vẻ gì đó buồn buồn.

– Thật hả?

– Chị không thấy thế à?

Thảo nhìn tôi. Tôi có cảm tưởng còn sót lại trong đôi mắt nó một nửa cái nhìn của Sơn.

Tôi lặng thinh chờ câu nói tiếp của Thảo. Nhưng hình như nó không muốn nói gì nữa.

Tôi lại nghe một tiếng cười từ dưới nhà vẳng lên.

Tôi nói:

– Vui nhỉ.

Thảo bảo:

– Không biết có cái gì trong mấy quân bài đó mà ông nào, bà nào cũng mê mẩn quá thế.

Tôi nhìn mấy cái móng tay mình, dường như hơi nước đã làm cho mềm hơn.

Thảo bảo:

– Em nghe giọng chị nói, y như lúc nào chị cũng đang nhớ một cái gì đó.

– Nhớ gì đâu.

– Ai biết.

Tôi cười. Nhớ gì? Có những lúc sau khi đã nghe lại hết những gì mình đọc, thấu đáo mọi ý nghĩa trong các chữ Sơn viết, tự nhiên tôi thấy sợ.

Cái tiếng nói giữa trời đó rồi sẽ rơi về đâu?

Cứ tưởng tượng một người bà con nào đó của tôi, hiện còn ở lại ngoài Bắc, cái người thầy mẹ tôi đã ký thác những tư điền, hương hỏa chẳng hạn, nghe những tiếng nói ấy, chắc chắn sẽ không thể nào biết được người đang nói đó lại là tôi, trong người có mang một chút huyết thống của giòng họ, anh chị của tôi, lại càng không biết tôi là ai. Vậy mà có thể, những tiếng nói ấy đã lẩn khuất quanh họ, trong nhiều giờ, nhiều phút. Có thể họ đã chết cả nhưng tôi không hề hay.

Và, tất cả những điều này có nghĩa thế nào?

Tôi nói với Thảo:

– Mai mốt chị nói ở bên ấy, Thảo nhớ đón nghe nhé.

– Chắc chắn em sẽ nghe.

– Hễ bữa nào không thấy tiếng chị thì chắc là chị đau ốm rồi.

– Thế, ai dám nghe.

–  Chưa đi mà chị đã thấy nhớ.

– Chúng mình sẽ liên lạc bằng thư.

– Đi suốt buổi chiều ngoài đường, mỏi rời cẳng mới biết Sài Gòn thiếu nhiều chỗ ngồi chơi thật.

– Nhẽ ra thành phố của mình có một con sông như thế, dễ làm cho đẹp lắm.

Thảo vẫn nói với tôi về mộng ước thiết lập những vườn hoa hai bên bờ sông. Sài Gòn có vẻ là một thành phố phát triển hỗn loạn mất rồi. Nó muốn nếu có cơ hội, sẽ đề nghị xây dựng những thành phố vệ tinh, giải tỏa bớt những khu chật chội. Còn có thể làm những kinh đào dẫn nước vào các nơi dự tính cho thành phố đẹp hơn.

Tôi cười bảo với Thảo:

– Giá chị có quyền, chi sẽ cho em mượn con sông để em làm thử xem sao.

Thảo cười bảo:

– Đó là chuyện khó. Có những việc có thể làm được ngay cũng chẳng ai chịu làm: giữ cho thành phố sạch sẽ chẳng hạn.

– Em còn muốn làm gì nữa không?

– Đô Thành cũng nên có một ban cố vấn mỹ thuật gồm những người có thể tin cậy được để họ giúp ý kiến chỉnh trang thành phố.

– Chị nhớ có đọc báo, hình như ở đâu đó, người ta định sửa lề đường một góc phố, nhưng việc sửa sang này có thể làm mất đi cái vẻ đẹp riêng của khu phố, và dân chúng đã yêu cầu chính phủ đừng bao giờ làm những việc tương tự mà không hỏi ý kiến dân chúng trước.

– Nhất là việc thiết lâp những công viên và tượng.

Đối với Thảo, thà để một tảng đá trong công viên còn hơn bầy một cái tượng xấu.

Trong lúc vui đùa, tôi có nói với nó, cứ từ từ, sau này tôi sẽ bầu cho nó làm dân biểu, chừng đó hãy cố thuyết phục mọi người thực hiện ý muốn của mình.

Tôi cũng nghĩ một thành phố dù nghiệt ngã đến đâu cũng vẫn phải có cái thị vị của nó, không tìm thấy chất thị vị có nghĩa là thành phố bị ngạt hơi.

Tôi rủ Thảo:

– Đi phố chơi không?

Thảo mở to mắt nhìn tôi:

– Mưa mà.

– Chị đi cả ngày ngoài mưa, có sao đâu.

– Chưa đủ chán à. Đi đâu?

– Chị đã nói với bác rồi. Mình có quyền đi lâu lâu cũng được.

– Đi thì đi. Em ngồi từ sáng đến giờ cũng cuồng chân rồi.

Tôi ngồi chờ Thảo sửa soạn, xong, chúng tôi xuống nhà. Thảo xin phép bố mẹ và tôi cũng chào ông bà, nói:

– Chúng con ra ngoài một lát.

Mẹ Thảo dặn:

– Hôm nào đi thì cho chú thím hay.

Tôi cười thưa:

– Vâng, thế nào con cũng xin đến chào chú thím ạ.

Thảo lấy xe gắn máy, chở tôi. Chúng tôi mặc áo mưa, đội mũ ra đường.

oOo

Trời đã tối. Trận mưa không còn lớn lắm, nhưng lẫn với bóng tối bắt đầu loang ra, trông như còn mù trời.

Đường phố ít người qua lại. Cành khô gẫy và lá rụng đầy trên lối đi.

Thảo lại hỏi:

– Đi đâu?

– Đến rủ Nhiên luôn không?

Nhiên là con ông cậu tôi. Chúng tôi chơi với nhau vùa  như chị em trong nhà, vừa như bạn. Nó là con trai, nên thỉnh thoảng chúng tôi nhờ nó đi “hộ vệ”.

Thảo nói:

– Sợ nó không có nhà.

– Kệ, cứ đến. Không có nó hai đứa mình tính sau.

Nhiên có ở nhà. Thằng nhỏ đang loay hoay với chiếc máy vô tuyến truyền hình tháo tung trước mặt trong phòng riêng của nó mà chúng tôi gọi là “xưởng thợ”.

Thấy chúng tôi đến nó kêu lên:

– Các bà giết nhà con rồi.

Thảo đậu xe, tắt máy, gỡ bỏ mũ, áo mưa mắc lên tay lái xe, cười bảo:

– Giết cái gì?

Nhiên chỉ vào đống máy móc, nói:

– Sao không đến sớm, đợi đến lúc người ta làm tung bành té bãi ra thế này mới đến?

Tôi cũng cười bảo:

– Cứ việc để yên như thế,  đi chơi một lát, chốc về làm.

Nhiên kêu:

– Mưa thế này mà bắt con người ta ra đường à?

Thảo nói:

– Sợ à?

– Điên vừa vừa thôi.

– Này có muốn đi xem ciné không mất tiền không?

Thằng nhỏ nhăn nhó. Chắc chắn hai đứa tôi đến là nó không thể ngồi yên được rồi.

Nhiên nói:

– Đừng có ai động vào cái gì của tôi. Để tôi đi rửa tay vậy.

Chúng tôi cùng cười, ngồi chờ nó. Một lát Nhiên trở ra với bộ đồ mới thay.

Thảo nói:

– Thế có phải dễ thương không.

Nhiên nói:

– Thôi thôi, mời các bà đi ra cho nhà con đóng cửa.

Tôi nói:

– Chị có cô bạn xinh lắm. Nhiên chịu khó, đừng nhăn nhó, hôm nào chị giới thiệu cho.

Nhiên gườm gườm nhìn tôi bảo:

– Nhà con chỉ biết sửa máy, không biết sửa đàn bà.

Thằng nhỏ coi bộ đường khoa cử lận đận, thi mãi cái tú tài không xong, xoay qua học nghề sửa ti-vi. Nó đã học mau lẹ một cách khác thường. Chỉ trong một thời gian ngắn, nó đã có thể kiếm được tiền. Bây giờ thì khách hàng của nó khá đông rồi. Nó đang dành dụm để sang một cái cửa hàng. Nhờ có tay nghề, khi bị động viên, nó được ở đơn vị chuyên môn. Nó quyết chí kiếm tiền nên cặm cụi làm việc, gần như không bỏ phí phút nào.

Thảo cười bảo:

– Dóc. Nhiên mà có vợ lại không chiều thấy mồ ấy à.

Thằng nhỏ nhăn răng cười. Đó là lúc chúng tôi biết rằng nó đã bằng lòng, vui vẻ đi chơi.

Nhiên nói:

– Tôi báo cho các bà hay là hôm nay tôi đã có xe mới để chở các bà rồi.

Thảo vui mừng hỏi:

– Thật hả? Xe gì?

Nhiên không trả lời câu hỏi của Thảo. Nó giục chúng tôi lấy áo mưa, cứ để xe của Thảo ở nhà, đi theo nó.

Nhiên mới mua một chiếc xe hơi Honda 360. Nó để ngay ở cửa, nhưng lúc chúng tôi tới không để ý, nên không thấy.

Thảo nói:

– Hoan hô Nhiên!

Thằng nhỏ cười phổng mũi. Nó mở cửa cho chúng tôi lên xe.

Tôi nói :

– Ngon rồi.

Xe mới tinh, sơn đỏ, nệm ghế còn thơm mùi da bọc màu đen.

Nhiên nổ máy, xe chạy êm như ru.

Thảo nói:

– Gớm thật. Có xe mà chẳng chịu khao gì cả.

Nhiên cười:

– Mới mà. Mới lấy về hôm qua.

Thảo ngoảnh cổ nhìn ra phía sau, rồi quay lại bảo:

– Vậy thì hôm nay khao cũng chưa muộn.

Tôi nói:

– Rồi, có cái xe này lấy vợ được rồi.

Nhiên nói:

– Làm hộc cơm chỉ để nuôi các bà.

Thảo bảo:

– Có đứa nó chịu để cho nuôi là phúc đấy.

Nhiên nói:

– Bà với bà Phụng bố ai dám lấy!

Thảo nói:

– Tôi chờ xem vợ Nhiên hiền thục tới mức nào.

Nhiên giơ hai tay lên trời rồi lại chụp lấy cái bánh lái, bảo:

– Cứ ngồi mà rình thiên hạ.

Tôi ngó Nhiên trong tấm kính chiếu hậu của xe.

Thằng nhỏ trông cũng bảnh trai dù có hơi “đần” một chút. Tuy nhiên, bù lại, nó rất khoẻ mạnh. Và, tuy nó hay nói với chúng tôi bằng cái giọng cắm cảu như vậy, nhưng đôi lúc cũng galant và duyên dáng ra phết.

Tôi nói:

– Hôm nay Nhiên có toàn quyền hướng đạo.

Nhiên liếc nhìn chúng tôi rồi lại quay nhìn thẳng trước mũi xe, bảo:

– Tôi xin làm tái xế thôi.

Thảo nghểnh cổ cười, bảo:

– Đừng có giả vờ để trốn

Nhiên cười. Nó lấy thuốc lá châm hút. Khói thuốc làm tôi nhớ đến Sơn, nhớ lại dáng anh lui cui lúc tôi đã bước lên xe, anh còn đứng lại đằng sau nhà thờ.

Nhiên bảo Thảo:

– Sao bà không đi mà chị Phụng lại đi?

Thảo ngả đầu vào vai tôi bảo:

– Lúc nào cần đi thì cũng đi vậy.

Chúng tôi đi loanh quanh qua vài khu phố. Mặc dầu trời vẫn tiếp tục mưa nhưng nguời ta vẫn ra đường khá đông.

Thằng nhỏ nói:

– Đi đâu chứ chạy rông ngoài đường thế này hả?

Thảo bảo:

– Đã nói là đi chơi mà.

Tôi bắt đầu nhìn thấy những khu phố mù mịt trong mưa và bóng đêm.

Những hạt mưa rơi vỡ trên tấm kính xe thành những hình thù kỳ dị, trong suốt. Các căn phòng trên mấy dẫy lầu cao sáng đèn, ánh sáng chiếu qua màn che hay khung cửa sổ để không, đối với tôi nó như ngõ ngách của một thế giới khác. Không biết những ai sống ở đằng sau các khung cửa ấy? Trong trí tưởng của tôi, đời sống ở những chốn đó không bao giờ thật sự có thể  là đời sống của một gia đình. Đó là chỗ vui chơi tạm bợ, nơi cư ngụ của những người khách từ phương xa tới, ở lại một vài ngày, rời đi, rồi những ngưòi khác đến thay thế.

Tôi nói:

– Lạ thật!

Hai đứa nhỏ dĩ nhiên không hiểu tôi nói gì. Chúng nhìn tôi ngơ ngác.

Tôi bật cười vì lỡ nói một câu chẳng có đầu đuôi gì.

Thảo hỏi:

– Cái gì lạ?

Tôi cười bảo:

– Không hiểu những người sống trong các building, họ sống như thế nào?

Thảo nói:

– Có muốn thử một lần không?

Nhiên nói:

– Thì người ta cũng sống như những nơi khác có gì lạ đâu?

Thằng nhỏ lái xe quẹo một đường cua, nước bắn tung tóe. Một vài người đứng trú mưa dưới các mái hiên đưa mắt nhìn theo chiếc xe.

Thảo nói:

– Thiên hạ coi bộ không mấy ưa những kẻ có xe hơi thật.

Thằng nhỏ cười bảo:

– Xe này hoàn toàn do sức lao động của tôi kiếm ra đấy, thưa bà.

– Bộ mình ông lao động hả ?

Rồi Thảo bảo:

– Sao không đi xa một chút cho bõ cái xe của ông ký cóp?

Tôi nói:

– Phải đấy, lên Thủ Đức ăn một bữa đi.

Thằng nhỏ không nói gì. Nó lẳng lặng lái xe và chúng tôi đã nhìn thấy xa lộ trước mặt.

Con đường ướt mưa đen bóng, thắp đèn sáng trưng, xe cộ qua lại tấp nập. Những chiếc xe đò, xe lô, chở đầy khách, từ các ngả đổ về thành phố.

Tôi hỏi:

– Xe này chạy tới Đà Lạt được không?

Thằng nhỏ dẫy nẩy lên:

– Xe thật đấy không phải hàng mã đâu.

– Giá biết sớm, mình đi Đà Lạt chơi vài bữa thích biết mấy.

Thảo bảo:

– Còn đủ thì giờ mà.

– Nếu các bà tối nay về sửa soạn, mai tôi tình nguyện đưa đi.

– Thế còn công việc?

– Tôi đang được nghỉ phép một tuần.

– Thế thì trời giúp ta rồi.

– Đi không?

– Đi.

Chúng tôi ghé vào vào một cái quán khá đẹp. Lối đi vào sâu hun hút, hai bên lề những cây tràm lá thướt tha và những chùm bông vàng người ta vẫn còn có thể nhìn thấy trong bóng tối vì có nhiều cành sà xuống thấp. Mùi hương hoa thơm trong gió.

Quán được cất bằng sàn gỗ và những lóng tre trông xuống một khu vườn cỏ.

Khoảng sân đất lớn, chung quanh cũng được trồng tràm và khuynh diệp. Gió thổi, những đám lá reo xào xạc.

Thảo nói:

– Việc gì phải đi đâu, ở đây cũng đủ đẹp chán rồi.

– Có chỗ ngồi thích thế này mà chẳng bao giờ Nhiên chịu đưa chị tới cả.

– Các bà lo khoa bảng quá, ai dám rủ.

Thảo nói:

– Có bồ vào đây ngồi thì nhất.

Thằng nhỏ hỏi:

– Có chưa?

Thảo cười:

– Chưa. Nhất định phải học xong đã. Chừng đó nếu có bị phá hoại mình cũng “kiến trúc” lại được.

– Cố lên!

– Ở đây có món gì ngon?

– Nhiều lắm. Nhưng ngon nhất là thịt bò khoai tây rán. Các bà có dám uống rượu không?

– Dám chứ sao không?

– Tôi khao các bà uống rượu.

Thảo giao hẹn:

– Rượu gì đừng say ấy.

Thằng nhỏ cười:

– Uống rượu sợ say, lấy chồng sợ bị phá hoại. Đời bà rồi làm nên cái trò trống gì?

Thảo nói:

– Cái đó phải chờ mới biết được.

Tôi nói:

– Trong khi chờ đợi chúng ta hãy ăn thịt bò khoai tây rán.

Trong lúc ăn chúng tôi nói lại vụ đi Đà Lạt. Cuối cùng, ý định này bị hủy bỏ, thay thế bằng chuyến đi Vũng Tàu.

Thảo nói:

– Như thế cho đỡ mệt. Có thể sáng đi chiều về được.

Thằng nhỏ bảo:

– Ở lại một bữa cho bà Phụng nếm mùi ngủ khách sạn.

Thảo reo lên:

– Hay lắm. Tôi sẽ có dịp nhìn tận mắt xem họ làm khách sạn thế nào.

– Bà này chán quá.

– Chán cái gì?

– Chưa chi đã méo mó nghề nghiệp.

– Vũng Tàu sau này sẽ là một trung tâm du lịch lớn của mình. Không có cái gì để khoe cũng uổng.

– Gái góa toàn lo chuyện quân vương.

– Ai bảo với ông là tôi góa?

– Ấy là chưa góa đấy.

– Góa thì sao?

– Chừng ấy sẽ lo ngủ hay lo lấy chồng khác. Bà “mẹ” nào rồi cũng chỉ đến lấy chồng là hết chuyện.

Chưa bao giờ tôi được những miếng khoai rán ngon thế. Có lẽ cũng tại cái chỗ ngồi vừa ý, nên vị của những hat muối tiêu cũng có vẻ đậm đà hơn.

Tôi ngồi yên lặng nghe hai đứa em nói ba láp.

Chúng tôi, mỗi người uống một ly rượu chát. Mỗi lần đuợc nhấp một chút rượu này, hay trông thấy thứ rượu này, tôi thường nhớ tới câu kinh “…mong được kết hợp với Chúa như giọt nước trong rượu nho“.

Tôi cảm thấy những ngày vô vị của mình, những ngày sống lẻ loi, như ly rượu không được hòa với nước hay ngược lại.

Hai mươi mấy tuổi, tôi chưa được sống một ngày tình ái. Như thế không uổng sao?

Tuổi trẻ bỏ không, như rượu rót ra ly, để lâu, men sẽ nhạt.

Tình yêu có phải chính là men của đời sống?

(Còn tiếp – Chương 4)

Share this post