Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 6

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 6

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG SÁU

Chúng tôi trở về Sài Gòn. Nhiên đưa tôi và Thảo về nhà tôi trước.

Lúc xuống xe tôi không nhìn Sơn.

Tôi muốn thử làm cái việc quay lưng lại với quá khứ. Cũng ngay lúc ấy, tôi biết rằng, đó là một việc khó khăn.

Mẹ tôi kêu:

– Chúng mày phơi nắng làm sao mà đứa nào cũng cháy đen cháy đỏ thế kia?

Thảo cười vui vẻ nói:

– Chúng con tắm cả ngày.

Tôi không nói gì.

Tới bữa cơm tối, tôi mới thấy thầy tôi. Thầy tôi chỉ hỏi tôi, giấy tờ ra sao. Tôi nghe trong giọng nói của ông một sự yên bình xót xa tôi đã đánh mất. Tôi đã đánh mất sự yên bình ấy như đánh mất tuổi thơ của mình, chẳng còn bao giờ thấy lại được.

Xong bữa ăn, Thảo lăng xăng muốn giúp mẹ tôi dọn dẹp.

Nhưng bà nói:

– Chúng mày mệt, cứ đi nghỉ đi. Để đấy cho tao.

Tôi và Thảo về phòng nằm bò trên giường. Mỗi đứa mang theo một ly trà, để trên bàn ngủ.

Thảo nói:

– Để uống từ giờ đến đêm.

– Chị mệt quá.

– Em chỉ thấy mỏi thôi.

– Tại Thảo tắm nhiều quá.

Ra đấy không tắm còn làm gì?

Tôi với tay bật nút chiếc may thâu thanh. Tiếng một người bạn nói thế tôi, đang đọc bản tin buổi tối. Tôi nhớ lại những buổi làm việc trễ, từ đài ra về, đường phố vắng tanh, chìm dưới bóng những hàng cây lớn. Nhưng chính những lúc đi dưới bóng cây xum xuê, có chỗ không để lọt một ánh trăng hay ánh đèn, tôi thường nhớ đến những đám cỏ cháy đen trên cái nền nhà đổ trong cuộc biến loạn Tết Mậu Thân còn để lại. Dưới những đống gạch vụn, trong những đám cỏ mấy lần xác xơ, mấy lần xanh tươi trở lại ấy, hình như có cái gì suy sụp, bi thương, không ngớt làm tôi xúc đông. Tôi có cảm tưởng dưới chân những đống gạch vụn, những đám cỏ đó, chôn vùi bao nhiêu tiếng nói không được nghe, những tiếng nói không tìm thấy ý nghĩa của chính nó, đã rơi rớt, chìm lẫn vào đất cát. Nhiều lần băng qua cái lối đi giữa những đám cỏ, vào hay ra khỏi đài, tôi tưởng chừng như chân mình đạp trên những tiếng nói, những hình ảnh thảm khốc, những trận chiến đẫm máu, những lời kêu gọi, người sống người chết, tang tóc, những câu thơ, giọng hát, lòng bỗng nhói đau. Một nỗi đau đớn vu vơ, mòn mỏi, tôi không hề nói với ai, vì nghĩ cho cùng, có phải đó chỉ là những điều tôi tưởng tượng, nhưng tôi không ngớt bị những tưởng tượng đó ám ảnh.

Tôi nghĩ đến Sơn, nhớ đến những buổi làm việc chung với anh, trong lúc nghỉ tay, anh có thói quen ra đứng gần bên cửa sổ trên lầu, hút thuốc. Cửa sổ trông qua một cơ sở của quân đội, phía bên kia đường, có những dẫy nhà lợp tôn, một cái sân rộng, mấy cụm hoa giấy màu vàng nghệ, khu vực được bao kín bằng những vòng kẽm gai. Ngay bên dưới cửa sổ, ngoài một lối đi tráng xi măng, mảnh sân còn lại cũng đầy cỏ. Sau cái dịp tết kinh hoàng đó, người ta chưa có thì giờ dọn dẹp, bầy ra một cảnh hoang tàn buồn bã. Khoảng hè đường, từ chân tường của đài ra đường phố cũng được rào kín bằng kẽm gai, cỏ và dây ti gôn leo kín, mùa mưa, hoa ti gôn nở đỏ ối. Trong cái đám cỏ lá chằng chịt đó, có lần tôi trông thấy một đôi rắn đùa rỡn, quấn quýt lấy nhau, chúng trườn bò, vặn vẹo, làm rợn tóc gáy. Không biết trước đó chúng sống ở đâu, trong thành phố sao lại có rắn? Trong các loài vật, có lẽ, không có giống nào trông gian xảo và hèn hạ hơn rắn. Chúng vươn dài, cuộn ngắn, chui rúc, trong thoáng chốc biến mất, không để lại dấu vết, không gây một tiếng động nào. Mấy con rắn nhìn thấy đó làm tôi sợ mỗi lần đi qua đám cỏ vì cứ nghĩ, lúc nào chúng cũng có thể quăng ra, quấn lấy chân.

Có lần, những người lính gác bắn được một con rắn đen lớn chui vào vọng gác, rúc trong khe các bao cát.

Một xướng ngôn viên của đài, đột tử trong phòng vi âm vì chứng đau tim. Anh vừa đọc xong bản tin, gục xuống chết ngay trên bàn, như một người buồn ngủ, ngủ quên.

Tất cả những chuyện đó, đối với tôi, giống như một nỗi chết đè nặng trong không khí nhiều ngày tháng.

Thảo hỏi:

– Cô này nói thay chị hả?

Bản tin trong máy vừa chấm dứt. Câu hỏi của con nhỏ làm tôi giật mình trở lại với thực tại.

Tôi nói:

– Ừ.

– Chị đi có tiếc không?

– Tiếc gì?

– Thì công việc, chỗ ở, thành phố.

– Tiếc.

– Sang đấy chị cũng làm những công việc tương tự mà.

– Nhưng dĩ nhiên cái gì cũng khác.

– Em nghĩ, đài phát thanh mỗi năm nên có một cái giải, gọi là giải văn chương của đài.

– Nếu làm được thế, kể cũng hay.

– Một cái giải cho xướng ngôn viên nói hay nhất và một giải cho bản nhạc hay nhất.

– Cứ ngồi mà nghĩ như cô thì còn nhiều việc phải làm nữa. Bóp dùm chị hai cái vai chút, mỏi quá.

– Giải văn chương của dài phát thanh sẽ quan trọng không kém giải văn chương quốc gia, bởi không có một phương tiện quảng bá nào hơn.

– Nói như cô việc gì cũng dễ cả.

– Có gì khó đâu? Điều ấy còn chứng tỏ, đài phát thanh không chỉ là nơi rao truyền thời sự, chính trị, mà còn vai trò văn hóa của nó nữa.

– Cô cứ làm đi rồi biết.

Con nhỏ làm tôi đau nhói hai vai. Tôi vừa nghe nó nói gì nhỉ? Tôi vừa nghĩ cái gì? Tôi nhắm mắt và thấy lại hình ảnh hai con rắn cuộn vòng trên hàng kẽm gai, phơi những cái bụng trắng bóng. Tôi thấy ghê gai khắp người.

Thảo hỏi:

– Mai chị có mời ăn không?

– Có chứ. Chắc bác đã sửa soạn rồi.

– Có những ai thế?

– Chỉ có em, Nhiên và anh Sơn.

Tên Sơn tôi vừa nhắc khiến con nhỏ im bặt. Dường như nó chợt nhớ ra việc gì đó, nhưng nó không hỏi tôi.

Chúng tôi đều lặng thinh.

Một lát sau, Thảo hỏi:

– Chị yêu anh ấy sao?

Tiếng “yêu” con nhỏ thốt ra rớt vào đầu tôi như viên sỏi rớt vào một cái gáo dừa. Tiếng khua động của nó làm tôi choáng váng, không phân biệt được ngay ý nghĩ của mình.

Tôi phải trả lời nó thế nào đây?

Đúng ra, tôi phải trả lời cái câu hỏi ấy với chính tôi, thế nào đây?

Một lần nữa tôi lại thấy mừng vì biết ra, tôi không yêu Sơn. Vui mừng? Đó là điều tôi cảm thấy thật, dù chưa kịp hiểu. Không sao, chắc tôi sẽ còn nhiều lúc để suy nghĩ lại.

Tôi nói với Thảo:

– Không. Chị không yêu ai cả.

Thảo mỉm cười. Nó mở to mắt nhìn tôi như muốn kiểm chứng lời nói của tôi.

Thảo nói:

– Nhìn hai người lúc mới gặp, em cũng nghĩ thế. Nhưng, ở ngoài Cap, nhiều lúc em cho là mình đã hiểu nhầm.

Tôi cười bảo:

– Cô hiểu nhầm thật chứ không phải “cho là” đâu.

Thảo cũng cười bảo:

– Chắc không hoàn toàn nhầm đâu. Chỉ là việc sắp xếp mọi thứ chưa đúng chỗ thôi.

Tôi nói:

Chị cũng không hiểu ra làm sao?

Thảo hỏi:

– Chuyện gì?

Câu hỏi của nó đã chặn ngang ngưc tôi, khiến tôi không kịp nghĩ ra phải nói gì.

Tôi nói đại:

– Mọi chuyện.

Dĩ nhiên con nhỏ chẳng thể nào hiểu được câu trả lời ngớ ngẩn như thế.

Thảo nói:

– Cố lên.

Cố lên? Câu nói không đầu đuôi của con nhỏ, vừa tức cười vừa có một vẻ gì đó, đúng hết sức. Cố lên. Cố sống.

Cố quên. Cố nhớ. Cố gì nữa đây? Tôi không biết, nhưng chắc tôi phải cần đến một cái “cố” nào đó, mới để vượt qua mối bận tâm này.

Tôi cười bảo:

– Chắc cũng phải cố lên mới được.

Tôi có cảm tưởng kỳ lạ, lạnh giá, như kẻ thốt lời trò chuyện với cái chết của mình vậy.

Tới phút này, tôi tưởng chừng hiểu được cái nỗi vui mừng thoáng hiện trong lòng, khi nghe Thảo hỏi tôi có yêu Sơn không?

Thảo hỏi:

– Cái cô nói thay chị vừa rồi, có đẹp không?

Một lần nữa con nhỏ lại làm tôi buồn cười. Mọi việc có vẻ cũng đúng như cách nói chuyện của nó, không đầu đuôi, ăn nhập gì với nhau, tại sao, việc gì cũng chạm tới nỗi đau đớn trong lòng tôi?

Tôi nói:

– Em thử đoán xem cố ấy có đẹp không?

Thảo cười:

– Khó đoán.

Tôi nói:

– Cô ấy không đẹp, nhưng rất xinh. Nhiều người mê lắm.

– Thật à?

– Cái miệng thì khỏi chê,

Thảo cười:

– Tốt.

Nó luôn có lối nói chuyện làm tôi không biết nó định nói gì nữa.

Tôi hỏi:

– Tốt là nghĩa làm sao?

– Như vậy, khỏi phải nói dối.

– Chị nói dối hoài.

– Chị không biết nói dối đâu.

– Sao biết?

– Em không biết, còn ai biết.

Nó biết cái gì đây? Tôi nhìn con nhỏ qua ánh vàng của ngọn đèn ngủ. Từ nãy đến giờ, chị chỉ toàn nói những điều không muốn nói, không cần nói, em biết không?

Tôi nhớ lại những lúc ở ngoài bãi biển, đi ăn, đi chơi, con nhỏ luôn giữ được bộ mặt thanh thản y như lúc này.

Tôi nói:

– Có nhiều hôm sợ lắm.

Đến lượt con nhỏ mở choàng mắt nhìn tôi. Hẳn nó cũng không thể đoán tôi định nói gì.

Thảo hỏi:

– Sợ gì?

Tôi nói với nó ý nghĩ dở dang trong đầu:

– Có nhiều bữa đầu óc lộn xộn, đọc bài xong rồi mà gần như không biết mình đã đọc cái gì, toát mồ hôi vì sợ.

Thảo bảo:

– Thế hả?

– Chẳng hiểu sao trong một trạng thái như thế mà người ta lại đọc được bài không bị vấp váp.

– Xướng ngôn viên nhà nghề mà.

– Lúc đó chẳng phải người ta nói dối, nói thật hay nói sảng, mà nói trong trạng thái vô thức.

– Rồi phải làm sao?

– Chỉ khi nói xong rồi mới biết. Chứ đang nói mà chợt thấy đầu óc mình trắng như vậy thật kinh hoàng. Biết bao nhiêu người nghe.

– Chị bị bao giờ chưa?

– Ai mà không bị. Làm công việc đó thế nào cũng có lúc gặp phải.

– Trường hợp như vậy, phải làm sao?

– Hoặc ra hiệu nhờ người bên cạnh đọc tiếp. Hoặc cúp micro lấy lại bình tĩnh.

Cứ mỗi lúc nói thêm với con nhỏ một điều, tôi lại có cảm tưởng như cái phao chồi dần lên khỏi được mặt nước. Cái phao đang tự trút bỏ những thứ mang nặng bên trong, thoát khỏi lớp nước níu giữ bên ngoài, nổi lên.

Tới một lúc tôi thấy người nhẹ nhõm.

Nhẹ nhõm hay rỗng không?

Ý nghĩ này làm người tôi nổi gai, ớn lạnh.

Trời khô se dù những trận gió ùa qua cửa sổ vào phòng vẫn có hơi lạnh.

Mẹ tôi vào phòng bảo chúng tôi ra ngoài ăn chè.

Bà múc cho tôi và Thảo mỗi đứa một chén chè khoai lang nấu với gừng và bột bán. Một món ăn tầm thường như vậy, nhưng Thảo ăn, khen nức nở:

– Ngon quá!

Mẹ tôi cười vui thích. Nụ cười của bà thốt nhiên làm tôi bối rối. Luôn luôn tôi cảm thấy ở mẹ tôi một vẻ hiền từ, độ lượng, và hình như hai đức tính ấy che mờ hết cả lý trí của bà. Bà sống như vậy có được không, có đúng không? Đúng hay sai, được hay không được, liệu có gì thay đổi?

Thảo hỏi tôi:

– Chị thấy ngon không?

Tôi giật mình, cười bảo:

– Ngon. Khi nào qua, chị sẽ bầy cho các người ở bên ấy cách nấu, ăn cho đỡ nhớ nhà.

Mẹ tôi bảo:

– Cho thêm vani vào cũng được.

Thầy tôi nằm ngả trong chiếc ghế tựa vừa đọc báo vừa nghe máy phát thanh.

Chính vào lúc này, tôi nghe thấy lại bài hát, khi đứng ngoài hành lang chờ thu thanh chương trình cùng với Sơn, một ca sĩ đang cho ghi âm ở phòng vi âm kế cận :

Từ người xưa ra đi
Khóm cây bao lần thay lá nhớ
Giòng đời trôi quanh co                                                                    
Có khi xui người lỗi hẹn hò

Mẹ tôi rót cho tôi và Thảo mỗi đứa một tách trà. Mẹ tôi thường chiều tôi như vậy. Nhất là từ hôm biết tôi sắp đi, bà dành làm hết công việc nhà, tôi không còn gì để làm, ngoài công việc riêng.

Chúng tôi mang trà ra ngoài thềm trước ngồi uống.

Thầy tôi đã cho kê ở đây một chiếc bàn nhỏ và hai chiếc ghế mây. Đó cũng là chỗ ông ngồi chơi mỗi buổi sáng hay buổi chiều, uống trà, đọc báo.

Trăng lên đã khá cao. Anh trăng đủ sáng cho thấy một chút màu xanh trên ngọn cây dương liễu.

Vầng trăng như kéo lùi cả khoảng trời, biển, đang còn lởn vởn quanh tôi, nhớ lại một cách rõ ràng hình ảnh con sứa và con cá chết nằm trên bãi cát nhìn thấy buổi sáng.

Một lát, tôi nghe Thảo hỏi:

– Chị sao thế?

Tôi quay nhìn nó bảo:

– Chị không sao cả.

Chừng như giọng nói của tôi có đủ sự bình tĩnh để con nhỏ không cật vấn tôi nữa.

Thảo nói:

– Chị muốn đi ngủ chưa?

– Chưa. Chưa thấy buồn ngủ.

Thầy tôi từ trong nhà bước ra ngoài thềm đứng ngó lên trời.

Ông nói:

– Trăng sáng quá nhỉ.

Ông nói như một cách tự nhủ vậy thôi, vì tôi không thấy ông quay nhìn chúng tôi. Ông nghểnh cổ, xoay xoay cái đầu, chừng cho đỡ mỏi, rồi lại quay vào trong nhà.

Thảo hỏi:

– Độ này tóc bác bạc nhiều hơn rồi.

Đúng vậy. Tóc thầy tôi đã trắng hết. Tôi thấy mủi lòng. Mai này tôi đi, chỉ còn lại hai ông bà, nhà sẽ vắng vẻ thế nào? Chiến tranh cứ kéo dài mãi thế này, liệu anh tôi có sống sót, trở về? Anh có kể cho tôi nghe vài lần thoát chết trong các cuộc hành quân, nhưng không bao giờ anh tỏ ý ao ước được đổi về một chỗ ít hiểm nguy hơn chẳng hạn.

Không thể cứ mang mạng sống của mình ra đánh cuộc với may rủi mãi. Song, biết làm sao đây? Tôi thương anh và rùng mình khi nghĩ tới thầy mẹ tôi.

Tôi hỏi Thảo:

– Thảo có nhớ cái bài tối qua chị đọc không?

– Nhớ gì?

– Đoạn nói về trăng ấy.

– Sao?

– Chị nhớ mang máng cái câu “những đêm trăng sáng thế này, có bao kẻ cưỡi được ánh trăng mà trở lại cố hương“, thơ của Trương Nhược Hư thì phải.

– Em không nhớ.

– Nhà chúng mình ở quê, có một con sông trước vườn.

– Em có nghe mẹ em nói.

– Bãi làng trồng ngô. Mùa hè, ngô mới lớn xanh mướt, những đêm trăng sáng ra bãi chơi sướng lắm.

– Sướng gì?

– Anh Bằng nói, buổi tối đi bắt đom đóm không muốn về ngủ.

Thảo cười bảo:

– Nghĩ, như tụi mình cũng buồn thật.

Tôi không hiểu con nhỏ định nói gì. Tôi lắng nghe nó nói tiếp.

Thảo nói:

– Chẳng biết quê hương ở chỗ nào, có sống ở đâu cũng vậy thôi.

Đã có những lúc tôi nghĩ như con nhỏ. Vì sao người xưa, dù tha phương cầu thực, dù vinh hiển ở nơi xa, ai cũng muốn trở về làng để chết. Nhờ vậy, con cháu mới có được mối ràng buộc thực sự với đất đai, với quê hương. Không có quê hương cũng như không có nguồn gốc, không có chỗ để trở về. Đã không có chỗ để trở về, người ta sống ở đâu cũng vậy thôi.

Tôi nói:

– Phải có ngày trở lại chứ.

Thảo cười không nói gì. Cái cười của nó làm tôi nhớ tới người bác đã chết. Liệu tôi có dám tin lời tôi nói chăng? Mấy trăm năm Trịnh Nguyễn phân tranh, có lẽ lịch sử của chúng ta sẽ có thêm mấy trăm năm nữa để ghi chép.

(Hết Chương 6)

Share this post