Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 7 (Tiếp theo)

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 7 (Tiếp theo)

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG BẢY
(Tiếp theo)

Mẹ tôi còn thức, ra mở cổng cho chúng tôi. Vào trong sân tôi mới thấy trăng sáng vằng vặc. Bước lên thềm tôi tưởng như bị choáng váng vì ánh trăng. Tôi cúi xuống nhìn lối đi và trông thấy cả mấy cái móng chân mình, trông thấy mấy khe ráp của những hòn gạch xây thềm.

Mẹ tôi khoá cổng trước khi trở vào.

Bà giục chúng tôi lo rửa mặt mũi rồi đi ngủ. Bà cũng nói, có để cho chúng tôi hai chiếc bánh trong tủ lạnh, đói thì lấy ra mà ăn.

Mẹ tôi hỏi:

– Đi đâu mà khuya dữ vậy?

Thảo nói:

– Chúng con đi chơi với nhau bữa nay nữa.

Câu nói của con nhỏ hình như làm mẹ tôi mủi lòng.

Mẹ tôi lẳng lặng đi về phòng, nhưng tôi còn kịp trông thấy bà giơ vạt tay áo lên chùi nước mắt.

Chúng tôi về phòng thay quần áo, định đi ngủ, nhưng tôi thấy hai mắt ráo hoảnh, chắc chưa ngủ ngay được.

Tôi hỏi Thảo:

– Có bánh, ăn không?

Thảo nói:

– Ăn thì ăn.

– Thảo buồn ngủ chưa?

– Chưa.

– Mình mang ra ngoài thềm ăn nhé?

– Ừ, khỏi lục đục, để bác ngủ.

Chúng tôi mang bánh ra ngoài thềm ngồi ăn. Đó là một thứ bánh lạ, bánh khoai, không biết mẹ tôi mua được ở đâu. Ở Hà Nội, mùa đông, miếng bánh cắn vào miệng lạnh ngắt. Nhưng chính cái lạnh đã làm tăng vị béo của miếng nhân thịt mỡ và cái cay nóng của hạt tiêu, cái bùi của đậu xanh. Một món ăn tầm thường, được ăn từ khi còn bé tí, sao bây giờ tôi vẫn còn nhớ?

Thảo bảo:

– Bánh ngon thế này, sao người ta không làm mà bán nhỉ?

Tôi nói:

– Chắc vẫn có đấy, tại mình không biết chỗ mua thôi.

Tôi cũng chợt nghĩ ra, mẹ tôi đã cố kiếm cho tôi những món ăn đặc biệt Việt Nam này, thực ra, chỉ là một cách bà chiều tôi. Nhưng những miếng ăn tôi nhai trong miệng, luôn ứa ra một chút gì đó, nhắc nhở chuyến đi của mình. Không ai ép buộc, chính tôi đã chọn và còn mong ước được đi. Đến giờ phút này, tôi cảm nhận sự từ chối, xua đuổi của mọi vật đối với mình, không giữ lại nữa. Miếng bánh tôi đang ăn nghẹn trong ngực. Đất không bỏ ai. Nhưng đất cũng có sự trừng phạt đối với những kẻ bội bạc.

Tôi nói với Thảo:

– Chắc tụi mình không còn hy vọng nhìn thấy lại Hà Nội.

– Sao lại không?

Tôi nhìn con nhỏ. Nó tin hay không điều nó nói? Có điều chắc chắn chúng tôi có thừa những kinh nghiệm về mọi hy vọng. Hy vọng, càng ngày hai cái tiếng ấy càng trở nên có vẻ cay đắng đối với chúng tôi. Đất cằn cỗi là đất không còn hứa hẹn gì nữa. Một người nào đó, bây giờ, nói rằng, tôi hy vọng xứ sở sẽ thanh bình. Câu nói ấy, có lẽ sẽ làm đau chính cái người nói ra trước. Ước vọng thanh bình của cả một dân tộc mà chua chát vậy sao?

Tôi có nghe một người quyền thế trực tiếp liên quan tới cuộc chiến tranh và nền hòa bình tại Việt Nam, nói một câu đại ý rằng “họ đánh nhau lâu quá, đến nỗi không còn quan niệm nổi một thời hòa bình nữa”. Ông ta là một người Mỹ, gốc Do Thái. Có lẽ ông ta hiểu người Việt Nam hơn cả người Việt Nam chăng?

Thảo nói:

– Chỉ sợ bây giờ có trở về được, Hà Nội cũng không còn là Hà Nội nữa ấy chứ.

Đúng như thế, tôi làm việc ở một chỗ biết được khá nhiều tin tức, nhưng tôi không còn nghe thấy một tiếng nói nào, một hình bóng nào, giống như cái thành phố còn sót trong trí nhớ của tôi, cái thành phố tôi đã được nghe kể lại. Ở khắp mọi nơi, mọi chốn trên cái mảnh đất khốn khổ này, hình như đã bị người ta làm bật hết gốc rễ.

Tôi cũng nói với Thảo về những điều tôi đã nghe, đã thấy.

Con nhỏ nói :

– Nếu chỗ nào cũng chán cả…

Không, tôi vừa nghe nó nói một câu gì đó không có ý buồn nản như vậy, đừng nói thêm gì nữa.

Tôi cắt ngang câu nói của Thảo:

– Anh Sơn vẫn nói đến ao ước, có một lần nào đó, kịch của anh được đem diễn trên nhà hát lớn Hà Nội.

Thảo cười không nói gì.

Nụ cười của nó làm tôi phấn khởi.

Dường như tất cả những điều chúng tôi nói với nhau, ít khi nào có được cái ý nghĩa đích thực của nó và chính sự lỏng lẻo này, làm tôi lắm lúc sợ nói và sợ nghe.

Công việc của tôi dạy tôi sự sợ hãi này.

Như mọi thành phố, mọi hy vọng, lòng yêu đời, ham sống của chúng tôi, nghe chừng cũng rã rời, tôi muốn có một lúc đủ yên bình, để khôi phục lại những thứ đó trong lòng.

Người ta khó có thể sống khi thấy rằng tiếng nói của mình chỉ gồm toàn những lời dối trá hoặc không còn giữ nổi ý nghĩa của nó.

Có lẽ tôi sẽ khó có thể trở thành một xướng ngôn viên nhà nghề. Tôi yêu tiếng nói, phong cảnh, lịch sử, văn chương, âm nhạc, hôi họa… nước tôi. Tôi nói như chia xẻ cái tình yêu ấy với mọi người, sao lòng lại không vui?

Thảo bảo:

– Để em nói với anh Sơn cho em đóng một vai trong đêm kịch đó.

Thảo nuốt miếng bánh, bưng tách trà lên uống. Cử chỉ của nó coi hiền lành, dễ thương và có vẻ khờ dại.

Thảo tiếp:

– Em có thể đóng một vai không cần vở. Cứ việc nhắm mắt nói với những xó góc mình chưa trông thấy bao giờ nhưng lòng lại có cái náo nức của kẻ đi tìm gặp lại, kể lể như một cô gái lắm điều với cái thành phố mong mỏi trong bao lâu bây giờ như một người tình lỡ… thiếu gì điều để nói.

Tôi nhìn con nhỏ, thấy nó có vẻ khôi hài, hỏi:

– Rồi sao nữa?

Thảo cười:

– Nhưng phải mau lên mới được. Phải còn trẻ, còn đẹp, ít nhất cũng đẹp vì còn trẻ, đứng lên nói mới đáng kể. Nếu không chỉ còn có thể khóc được thôi.

Nếu mọi người trở về, nhạc sĩ sẽ viết nhạc, họa sĩ sẽ vẽ tranh, ca sĩ sẽ hát, có lẽ Hà Nội sẽ phục sinh, Hà Nội sẽ được tiếp máu sống lại, tôi tin vậy. Hà Nội có thể thay đổi khắp mọi chốn, nhưng không thay đổi trong tranh, trong nhạc, trong chữ viết. Bao lâu bài hát “Hướng Về Hà Nội“của Hoàng Dương còn được hát, Hà Nội vẫn còn giữ trong nó cái quá khứ êm đềm, thơ mộng, dù bây giờ người ta có làm cho Hà Nội biến dạng.

Câu nói cuối cùng của Thảo, tự nhiên lại làm tôi mủi lòng. Cứ tưởng tượng, một người khi rời bỏ Hà Nội còn là một đứa trẻ, trở về, đã đứng tuổi hay đã già, chắc chỉ còn biết khóc. Khóc cho trôi hết những tháng năm, trôi hết những ngày xa cách, trôi hết những nếp nhăn trên mặt, khóc để trẻ thơ trở lại.

Tôi nhắc với Thảo việc nó hãy đến đây ở cho yên tĩnh để học và cho nhà đỡ vắng vẻ.

Thảo bảo:

– Em phải nói với ba mẹ em đã.

Tôi nói:

– Để chị nhờ bác xin cho.

– Như thế chắc được.

– Chị đi làm cũng có chút ít tiền, em cần cứ cho chị biết, sách vở, đồ dùng… yên bụng học cho xong.

Thảo nhìn tôi. Nó khá đông anh em, vì thế, bản thân, nó vẫn tự lo liệu  bằng cách vừa đi học vừa đi làm. Tôi muốn em tôi có nhiều thời gian hơn dành cho việc học. Thiện chí của tôi, chắc nó hiểu. Từ trước đến nay, ngoài những dịp vui chơi, bù khú, chúng tôi chưa nhờ vả, giúp đỡ nhau tí gì gọi là thiết thực, nghiêm túc.

Một lát, Thảo bảo:

– Lo chi xa dữ vậy?

Tôi nói thật với nó, trong lòng tôi cũng có nhiều mơ ước, nhưng hình như chẳng có gì thiết thực.Tôi muốn “đầu tư” vào những ước mơ của nó. Đầu tư một cách cụ thể. Nếu nó muốn hiểu như là tôi muốn giúp nó một chút cho cô chú tôi có thêm phương tiện lo cho các đứa khác trong nhà, cũng chẳng sao.

Tôi cười bảo với Thảo:

– Chúng ta hãy thử chạy tiếp sức xem sao?

Thảo cũng cười bảo:

– Chạy tới đâu đây?

– Không làm được trò trống gì, học rồi, có thể mình sống cũng đỡ vất vả hơn.

– Thôi được. Ngày mai, mình sẽ giải quyết chuyện này.

Tôi có thể đoán Thảo ưng thuận, và tôi thấy lòng cũng yên vui.

Chúng tôi đi ngủ.

Trăng mỗi lúc thêm sáng. Chúng tôi nằm trên giường nhưng vẫn xây ra phía cửa sổ ngắm trăng.

Thảo có vẻ chưa muốn ngủ.

Nó nói:

– Một ngày qua chẳng có gì lạ. Nhưng nghĩ mình vừa mất thêm đi một ngày trong đời thấy sợ thật.

Tôi cười bảo:

– Ngủ đi là xong.

Tôi nghe đồng hồ gõ một tiếng ngoài phòng khách. Bốn bề hoàn toàn im vắng, ngay cả tiếng gió cũng bặt luôn.

Thảo xây mình nằm lại ngay ngắn, mặt hướng lên trần nhà, nói:

– Nhìn trăng một lúc thấy chói mắt.

Tôi bảo với Thảo:

– Chị thương thằng Nhiên, nhưng có nhiều cái nó nói chị không thích.

– Nhưng em tin Nhiên bản chất tốt. Nó lăn ra đời và có lẽ bị lừa lọc và phải đối phó với những hoàn cảnh không ra gì, nên suy nghĩ theo cách của nó.

– Chị cũng nghĩ thế.

– Không phải những điều nó nói làm em sợ. Em sợ những cái lẩn quẩn đằng sau lời nói của nó.

Quả thật chung quanh những điều thằng nhỏ nói ra, tôi cũng luôn cảm thấy lởn vởn một cái gì đó có vẻ u tối, đe dọa, bất an.

Thảo tiếp:

– Nhưng mai mốt nó sẽ giầu.

– Cầu cho nó được như thế.

– Chỉ tội những người như anh Bằng.

Nghe con nhỏ nhắc tới anh tôi, tôi giật mình vì đã có những lúc quên hẳn anh. Tôi vui mừng biết bao khi nghĩ anh vẫn còn. Nhưng một người lính trong cuộc chiến tranh thế này, chuyện gì và lúc nào, chẳng có thể xẩy ra? Nghĩ thế tôi lại thấy thót ruột. Anh là người tự trọng, ngay thẳng, nhưng những đức tính ấy chưa bao giờ đem lại cho anh may mắn. Yêu thương gia đình nhưng anh không được ở nhà. Hơn ba mươi tuổi anh chưa có vợ. Vừa ra trường anh nhận được lệnh gọi nhập ngũ ngay, chưa kịp làm gì cả. Anh không phàn nàn số phận và hình như càng ngày chiến tranh càng dạy cho anh cách nhả dần những ước vọng như con ốc bị ngâm nước cay nhả bùn ra khỏi miệng. Có lần tôi hỏi anh “Hết đi lính, anh sẽ làm gì?”. Anh nói: “Đã hết đâu mà tính”. Câu trả lời của anh thật là buồn.

Hoàn cảnh như thế, ai là người sẽ từ chối cơ hội có thể thoát khỏi trước khi đến lượt mình phải cầm súng ra trân?

Người Do Thái còn tái lập quốc được, trở nên hùng mạnh được, không có gì đáng coi là tuyệt vọng cả.

Nhưng điều kiện đầu tiên là phải còn người.

Không có chủ nghĩa nào tốt đẹp khi người ta phải chết.

Không có khả năng nào quý giá hơn việc cứu vớt người.

Không có sự an ủi nào lớn lao hơn sự có mặt, chia xẻ.

Tôi thiết tha mong, sẽ có được những tác phẩm văn chương, thi ca, âm nhạc, những lời kêu gọi thống thiết, để mỗi ngày, mỗi đêm, đem đọc, phát đi, thả tiếng nói bay khắp trời đất, và, ở bất cứ nơi nào chúng ta còn có cơ hội nói với nhau, cũng sẽ có người làm công việc tương tự, để tất cả những người Việt Nam phiêu bạt nơi chân trời góc biển, đều có thể thấy lại mình trên những đường giao thoa của các tiếng kêu gọi đó, trở về.

Trở về trong họa phúc của xứ sở.

Trở về để nhặt xương những người đã chết trong cuộc chiến, nuôi lấy những đứa trẻ mồ côi.

Quốc tịch của chúng ta bị đóng bằng những nhát búa đập trên hàng ngàn chiếc sọ người, vùi trong những hố tập thể.

Những chiếc sọ nứt đôi, bể vụn đó là dấu ấn trên giấy thông hành của những kẻ chạy trốn, lời xá tội cho những kẻ không muốn quay về, tiếng kêu gọi của một thế hệ mồ côi, của những góa phụ kỹ nghệ phôi thai của xứ sở không sản xuất đủ vải để làm khăn tang, của hàng triêu người không nơi nương tựa, chỉ mong được chết thay cho đứa con cuối cùng của gia đình nhưng không biết cầu xin ở đâu sự thế mạng.

Giả thử anh tôi chết – việc ấy có thể trở thành sự thật ngay phút này đây lắm chứ – ba mẹ tôi kể như tuyệt tự, dù tôi có còn.

Mai kia khi đất nước thống nhất, có lẽ cũng chẳng còn ai trở về thềm cũ, dựng lại nhà, đắp lại mồ mả. Họ hàng tôi, những người ở lại ngoài đó, bao nhiêu người còn sống, bao giờ gặp lại nhau? Và dù có gặp lại nhau, cũng có khác chi những người xa lạ? Chúng tôi có biết gì về nhau đâu.

Giá có ai nói được hết những nỗi thống khổ ấy!

Tôi xin lặp lại những lời nguyện cầu đó, như một cách vun quén những đám mây lênh đênh, trôi giạt khắp bốn phương, để mong một ngày, những người đi xa sẽ trở về thắp sáng lại quê hương.

Tôi tin rằng, khi những tiếng nói, không, những tiếng khẩn cầu của mọi người, kết hợp lại trong những kiến trúc, nhà cửa, chữ nghĩa, cái ngày mọi người được tự do thừa hưởng hạnh phúc của riêng mình sẽ tới.

Tất cả những nguyện ước đó, không biết đã bao lần làm tôi bải hoải thần trí, rã rời chân tay, nung nấu tôi giống như một cái lò lửa âm thầm, tắt nguội đi, cháy bùng trở lại cùng với công việc tôi làm, chỉ mình tôi biết. Tình cảnh lắm khi khiến tôi thấy như ngậm trong miệng những miếng than hồng. Sự việc có vẻ gì đó giả trá. Nhưng cái vẻ giả trá đó không làm dịu bớt những nỗi gay gắt trong tôi, trái lại, nó còn làm cho lòng thêm áy náy, không yên. Hình như tôi thiếu cả lòng tin lẫn nghi ngờ.

Buổi sáng chúng tôi dậy muộn.

Tôi đi tới Tòa Đại Sứ Nhật để lấy những giấy tờ đã được hẹn trả và cũng để hỏi thăm một vài chi tiết về nơi tôi sẽ làm việc…

Thảo nói:

– Em về nhà xem có chuyện gì không.

Tôi nhắc Thảo:

– Hãy thưa trước với ba mẹ em về chuyện chị nói hôm qua.

– Để chốc em nói.

– Cứ ở nhà. Xong việc chị sẽ ghé đón.

Chúng tôi cùng ra đường.

(Hết Chương 7)

Share this post