Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 7 (Tiếp theo)

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 7 (Tiếp theo)

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG BẢY
(Tiếp theo)

Bữa ăn ở nhà bắt đầu cũng tới lúc đã phải bật đèn. Mẹ tôi phải chỉ cho Nhiên cách ăn cháo ám, lấy đồ ăn ghém để vào bát trước rồi mới múc cháo đổ lên.

Thảo nói:

– Anh chàng này lớn đầu mà dở quá.

Nhiên cười:

– Lâu không ăn, quên rồi.

Sơn ngồi ăn điềm đạm, không có vẻ gì chú ý đến món ăn.

Thầy tôi khó chịu trong mình, nên sau khi chào hỏi Sơn và nói vài câu với Nhiên và Thảo, ông vào phòng, đóng cửa, nằm luôn trong đó.

Bữa ăn chỉ còn chúng tôi và mẹ tôi đứng lên ngồi xuống lấy thứ này thứ khác.

Bà nói:

– Để tôi làm, các cô, các cậu cứ ăn đi.

Tôi hỏi nhỏ Sơn:

– Có ngon không?

Sơn mỉm cười nhìn tôi, không nói gì.

Thảo hỏi Nhiên:

– Hôm rồi máy móc tháo tung ra vứt đấy, về có biết đường ráp lại không?

Nhiên cười:

– Bà cứ yên trí, tôi ít khi nhầm lẫn.

Thảo nói:

– Cố lên. Kẻo tới lúc cần không lầm lại lầm thì khổ đấy.

Thảo quay sang hỏi Sơn:

– Anh chắc chưa quên món ăn này?

Sơn mỉm cười lắc đầu. Anh đưa mắt nhìn những món ăn bầy trên bàn, đĩa rau thơm đầy tía tô, kinh giới, húng, những củ hành lá đã luộc chín, cuộn tròn, cải cúc, gừng, thịt ba chỉ thái mỏng, ớt cắt lát…

Thảo nói với mẹ tôi:

– Ngon quá!

Mẹ tôi bảo:

– Mẹ mày không chịu làm chứ bà ấy khéo tay lắm đấy.

Thảo nói:

– Thật hả bác?.

– Hầu tụi bay mãi bà ấy chán rồi.

– Nếu mẹ con đẻ ít có phải con đỡ khổ không?

– Đẻ ít như bác, mai mốt Phụng nó đi, nhà chẳng còn đứa nào.

– Bác nuôi con đi, con đến ở với bác.

Tôi cười bảo với Thảo:

– Phải đấy, chị nhường phòng cho Thảo, đến đây mà học cho yên tĩnh.

Mẹ tôi cũng nói:

– Về nói với mẹ mày đi, đến đây ở với bác.

Thảo ngó Sơn bảo:

– Anh xin cho em vào làm thế chỗ chị Phụng được không?

Sơn cười không nói gì. Anh luôn giữ cái vẻ thận trọng, ít lời như vậy.

Tôi thử tưởng tượng đây là cảnh gia đình, cũng ấm cúng đấy chứ? Tôi không có ước vọng gì to lớn, tệ hơn, tôi không biết rõ mình muốn gì. Giá tôi lấy Sơn, ở lại trong một gia đình thế này, chắc tôi cũng không có điều gì hối tiếc. Mai tôi đi, và nếu có phải rời khỏi hẳn cái mơ ước nhỏ bé này, cũng chẳng sao. Lòng tôi dửng dưng hay đây chỉ là cách tự vệ của kẻ bất lực?

Ăn xong, chúng tôi kê thêm ghế ra ngoài thềm ngồi uống nước. Tôi muốn hút một điếu thuốc nhưng sợ mẹ tôi nhìn thấy, không dám.

Sơn ngó cây dương liễu, tàn đã vươn ra gần hết một góc sân.

Tôi bảo với anh:

– Cây em trồng đó.

Sơn cười, bảo:

– Nhớ trở lại trước khi nó thành cổ thụ.

Tôi hỏi Sơn:

– Anh có muốn em trở lại không?

Sơn nhìn tôi không nói gì. Hôm nay có lẽ vẫn còn trăng, nhưng chắc sẽ hơi muộn. Trời không đủ sáng và tôi nhìn thấy vẻ u tối trên mặt Sơn.

Đối với anh, tôi chẳng khác người đeo đuổi một giấc mơ bảng lảng. Tôi mong ước gì nơi anh ? Không. Tất cả chỉ là sự tình cờ, hoàn toàn tình cờ.

Sơn hỏi tôi:

– Cô sửa soạn xong hết rồi chứ?

Tôi cười bảo với anh:

– Rồi. Trừ anh.

Sơn nhìn tôi, không nói gì. Trong bóng tối, tôi không thể đọc đuợc trong mắt anh sự âu yếm hay lạnh nhạt. Nhưng lòng tôi cảm nhận một sự dịu dàng, ấm áp.

Sơn hỏi:

– Cô còn ngày mai nữa phải không?

Tôi nói :

– Vâng. Mốt em mới đi.

– Buổi trưa?

– Dạ, 1 giờ máy bay cất cánh.

Thảo với Nhiên tiếp tục chòng ghẹo nhau bằng những chuyện không đầu đuôi.

Thảo hỏi:

– Bao giờ Nhiên mở cửa hàng?

Nhiên nói:

– Chờ được giải ngũ đã.

– Giải ngũ? Trời đất này chờ giải ngũ thà chờ già còn dễ hơn.

– Già cũng phải chờ, biết sao?

– Việc gì cần làm cứ làm. Được đến đâu hay đến đó chứ.

– Tôi chẳng có gì vội cả.

– Vốn liếng bà cụ chỉ có một mình Nhiên. Làm sao cho nó sinh sơi nhanh lên. Bỏ đấy, đâu có được.

– Rồi tính. Lo gì.

– Lúc nào cần tôi giúp, cứ nói. Đi coi mắt hộ Nhiên chẳng hạn.

– Cám ơn. Việc ấy tôi xin làm lấy một mình cho nó chắc.

– Sao thế?

– Nhờ bà đi coi rồi về bà “kiến trúc” lung tung có mà bỏ mạng.

– Nếu có thì cũng “xây dựng” mà.

– Tôi nói thật, các bà, chẳng có bà nào ngay ngắn cả?

– Ngay ngắn?  Nhiên nói cái gì thế?

– Lúc nào cũng nghĩ toàn những chuyện trời ơi.

– Bậy quá.

– Lo lấy chồng, đẻ con đi.

– Chưa lấy được vợ đã trở giọng quyền thế gàn dở rồi.

Trăng đã bắt đầu tỏa ánh sáng xuống sân. Mẹ tôi mang thêm cho chúng tôi một ấm trà mới. Thảo lấy dao cắt chiếc bánh chúng tôi đã mua lúc chiều. Nó bầy mấy miếng bánh đầu tiên trong hai cái đĩa nhỏ, bưng vào trong nhà mời thầy mẹ tôi. Tôi tiếp tay cắt và chia bánh ra những chiếc đĩa còn lại. Tôi đưa bánh cho Sơn và nhớ lại lúc ngồi trên xe đi tìm anh, nhớ tới vũng biển sáng chói trong nắng mai, tôi đã chạy ùa đến khi trông thấy anh, ngã vào lòng anh như một người tình cũ kỹ, không thể nào khát khao tìm kiếm và gặp mặt sung sướng hơn thế được.

Tôi đã nhận được và mất đi những gì trong cái phút hân hoan chói lọi đó? Tôi không biết, nhưng chắc chắn tôi đã nhận ra cả hai điều ấy trong cùng một lúc.

Sơn hỏi khẽ:

– Mai mấy giờ em rảnh?

Tôi nói:

– Chắc buổi chiều em mới xong hết việc.

Anh nói:

– Gặp nhau một chút được chứ?

Tôi nói:

– Vâng. Nếu anh muốn.

Anh muốn? Còn tôi, tôi có muốn như vậy chăng? Có lẽ tôi sẽ đi đến nơi hẹn để hiểu rõ điều đó.

– Hai giờ, anh sẽ đợi em ở quán hôm nọ.

Như thế, cái quán xa lạ đó tự nhiên trở thành một chỗ thân thuộc đối với tôi. Tôi ra hiệu bằng cách gật đầu với Sơn.

Thảo và Nhiên vẫn không ngớt cà khịa với nhau.

Thảo nói:

– Nhiên ráng mua một miếng đất lớn lớn một chút, làm nhà. Tôi sẽ kiếm cách đào một cái hồ cho Nhiên.

Nhiên nói:

– Lo chỗ kê cái giường chưa xong, hồ với ao gì?

– Chỉ cần một khoảng đất bằng cái giường cũng đủ làm một hồ cá đẹp rồi.

Nhiên ngó Thảo cười rũ. Tôi không hiểu cái gì làm nó buồn cười đến thế.

Thằng nhỏ nói:

– Nghĩ ra toàn chuyện kỳ quặc.

– Nhiên kỳ thì có.

– Có lẽ mỗi tuần bà nên gặp tôi một lần.

– Chi vậy?

– Tôi sẽ dạy cho bà cách sửa máy. Chỉ có cách đó bà mới điều chỉnh được cái đầu của bà khỏi lộn xộn.

– Nhiên đừng lo, nghề của tôi cũng là nghề phải tính toán mà.

– Tính cho người khác thì tính làm gì.

Thằng nhỏ làm chúng tôi cũng buồn cười.

Tôi xen vào câu chuyện của hai đứa:

– Đúng đấy. Thảo nên nghe nó. Nếu không học đuợc gì cũng có hy vọng được mời đi ciné mỗi tuần.

Tôi có cảm tưởng cả tôi lẫn Thảo đều thiếu một chút đầu óc thực tế của thằng nhỏ. Biết đâu, nó có thể giúp cho Thảo chút gì đó thật.

Thảo kêu bị rát lưng.

Nhiên nói:

– Phơi suốt ngày ngoài nắng không giộp da là may rồi.

Sơn ra về.

Nhiên bắt tay anh.

Thảo cũng đứng dậy chào Sơn rồi ngồi lại xuống ghế.

Tôi đưa Sơn ra cửa.

Sơn bảo:

– Thôi em vào đi.

Tôi nói:

– Mai em sẽ đến.

Tôi ao ước biết bao cái ngày đi đừng tới vội, để tôi có đủ thời gian sống một chút. Sống một chút? Tôi tự nghe một tiếng cười nghẹn trong ngực. Sống, nhưng sống như thế nào mới goi được là sống? Đó là câu hỏi để người ta nghiền ngẫm  một mình.

Sơn không đi ngay. Anh ngừng lại, nhìn tôi. Cái nhìn của anh với bóng trăng sáng trên cao, khiến tôi liên tưởng tới cái lúc anh nhìn tôi, đêm qua. Quá khứ trong khoảnh khắc làm cho những giây phút của hiện tại nhuốm chút gì đó chua xót. Sơn đứng đó, nhưng tôi tưởng chừng không phải anh nhìn tôi, đó chỉ là một hình ảnh lập lại của một thời khắc tôi đã trải qua, và anh đã thuôc về môt thế giới khác.

Sơn đi ra phía đầu ngõ. Cái áo của anh càng xa càng như trắng hơn. Tôi cũng vẫn còn nhìn thấy cái đốm lửa đỏ trên đầu điếu thuốc anh đang hút .

Tôi quay vào trong sân, khép cửa, trở lại chỗ hai đứa em đang ngồi, nghe Thảo hỏi Nhiên:

– Nhiên không thích à?

– Tôi đâu có điên.

– Tôi sẵn sàng ở như thế suốt đời.

– Bà cứ sẵn sàng đi là vừa.

Tôi ngồi xuống ghế, hỏi hai đứa, chuyện gì?

Nhiên bảo:

– Bà Thảo nói có thể làm nhà ở bãi biển, sống một mình.

Thảo hỏi tôi:

– Anh Sơn đi rồi hả?

Tôi nói:

– Rồi.

Và quay sang hỏi Nhiên:

– No bụng không?

Thằng nhỏ đưa hai tay lên sờ bụng bảo:

– No.

Đêm trong khoảnh khắc nghe yên ắng. Trăng bắt đầu rọi bóng chúng tôi xuống sân.   

Cái cảnh tôi đọc đêm rồi có lẽ cũng giống thế này đây. Trăng là một. Ta là hai. Bóng là ba.

Nhiên đề nghị:

– Đi chơi một vòng không?

Thảo hưởng ứng ngay :

– Đi.

Chúng tôi thu dọn mọi thứ trên bàn, mang vào trong nhà rửa sạch đâu đó rồi mới đi.

Mẹ tôi hỏi:

– Chúng mày lại đi hả?

Thảo thưa:

– Chúng con đi một vòng cho chị Phụng nhìn lại thành phố, không mai mốt chị ấy quên mất.

Mẹ tôi dặn:

– Về sớm mà ngủ.

Thảo nói:

– Vâng.

Tôi đứng khuất trong bóng tối, nhìn và nghe mẹ tôi nói. Mỗi tiếng nói của mẹ tôi, dường vang trên da thịt tôi như một mặt trống.

Thật là một cảm tưởng kỳ lạ, bao nhiêu năm rồi chưa bao giờ tôi biết nghe mẹ tôi như thế. Tôi thấy nước mắt dồn trong ngực.

Sài Gòn ban đêm như có một bộ mặt thứ hai.

Những con đường, khu phố, cửa hàng, ngã tư, các con hẻm, tôi đã đi qua hàng trăm lần, mà có chỗ vẫn như mới trông thấy lần đầu. Việc ấy khiến tôi nhận ra, sự vô tình của mình, sự vô ơn của mình đối với cái nơi đã đùm bọc, ban cho mình bao nhiêu thứ, gia đình, tuổi thơ, học hành, trưởng thành…

Thảo ngồi yên lặng bên tôi. Có phải nó đang vẽ trong trí tưởng một thành phố ngăn nắp, nơi mà mỗi người sống trong đó có thể tìm ra những kỷ niệm, quá khứ của mình một cách dễ dàng hơn. Chưa làm gì, nhưng nghĩ được như thế cũng là một cách trả ơn, phải không?

Chúng tôi đến cầu tầu Phú Lâm, một khu vực sinh hoạt, không biết từ bao giờ, đã trở nên náo nhiệt khác thường. Có lẽ sức sống của thành phố, người ta có thể trông thấy dễ nhất về đêm, chính là chỗ này. Ngồi trong chiếc xe đang chạy, nhìn cả một khu vực chập chờn trong muôn ngọn đèn cháy sáng, ngỡ như một thành phố nổi giữa một vũng biển.

Nhiên nói:

– Ở đây có đủ các món nhậu.

Thảo bảo:

– Hôm nào Nhiên cho tôi tới đây “nhậu” một bữa đi.

Cái tiếng “đi” con nhỏ kéo dài thêm một chút đẻ tỏ sự thèm muốn, nghe ngộ nghĩnh.

Nhiên cười:

– Tôi sẽ đưa bà đi khắp hang cùng ngõ hẻm một lần, để bà thấy, chẳng cần học kiến trúc, người ta vẫn xây được mọi kiểu nhà.

Thảo cũng cười bảo:

– Cái đó thì tôi cũng chịu thua thật.

Một cơn gió sông đầy hơi nước thổi lọt vào trong xe pha lẫn mùi dầu xăng.

Thảo nói:

– Mình ở đây bao nhiêu năm mà chưa đi hết Sài Gòn. Trông như một thế giới mới. Mai mốt có khi mình sẽ tiếc Sài Gòn như người ta tiếc Hà Nội. Thực ra mình đã biết gì về Sài Gòn đâu?

Nhiên bảo:

– Đây mới chỉ là cái vỏ Sài Gòn thôi.

Thảo thích chí hỏi:

– Còn ruột Sài Gòn ở đâu?

Nhiên cười:

– Khắp cả. Nhưng liệu bà có dám nhìn không?

Thảo gật đầu cả quyết:

– Dám chứ sao không?

Nhiên nói:

– Vậy hôm nào tôi sẽ dẫn bà đi.

Đằng sau câu nói của thằng nhỏ, có điều gì đó vừa kích thích vừa thảm thiết.

Thảo bảo:

– Sinh ra làm đàn bà cũng thiệt thật.

Tôi nghiêng đầu nhìn một hè đường vắng lặng. Trên những phiến xi măng lớn, gió thổi bay bụi rác lạt sạt. Sài Gòn ngày. Sài Gòn đêm. Một mai Sài Gòn sẽ khua thức tôi bằng những tiếng động và hình ảnh nhỏ nhặt này.

Tôi hỏi Nhiên:

– Sài Gòn, chỗ nào đẹp nhất?

Nhiên nói:

– Không biết.

Thảo hỏi:

– Thế chỗ nào hấp dẫn nhất?

Nhiên cười:

– Cũng không biết nốt. Nhưng thường là chỗ đàn bà không ai thích đến cả.

Thằng quỷ con này thật quá sức. Nó kiếm được tiền sớm và tiền đã đưa nó vào những ngõ ngách của đời sống, biết nhiều thứ có lẽ chẳng bao giờ chúng tôi biết được.

Thảo nói:

– Bực thật.

– Bực gì?

– Bực vì phải làm đàn bà.

– Bằng vào kinh nghiệm của tôi thì thế giới bí hiểm nhất của đàn ông chỉ là đàn bà thôi. Không có gì các bà cần khám phá nữa.

Câu nói của thằng nhỏ vừa có vẻ gì đó giống như một lời thú nhận chịu thua vừa có vẻ lăng mạ, chọc tức chúng tôi.

Thảo lặng thinh không nói gì.

Một lát, thằng nhỏ chặc lưỡi bảo:

– Có những thứ bà chẳng lòng dạ nhìn đâu, đừng đòi theo tôi. Ngoài những trang sách, mọi thứ đều chán lắm đấy.

Nhiên lái xe chạy đều. Tiếng bánh xe lăn trên mặt đường nhiều lúc chúng tôi nghe thấy rõ. Chúng tôi không nhìn thấy trăng, có lẽ trăng mọc ngược với hướng xe chạy, nhưng các lề đuờng, các tàn cây, đều sáng ánh trăng.

Thảo hỏi Nhiên:

– Nhiên học được điều gì nhiều nhất?

Nhiên quẹo nhanh xe ở một góc phố, chúng tôi ngã chúi vào nhau.

Môt con chó đen đang lê la sục sạo kiếm ăn trong đống rác bên lề đường, nghe tiếng bánh xe, giật mình bỏ chạy.

Nhiên nói:

– Học ấy à? Tôi chỉ lo tìm cách sống thôi.

Câu nói của thằng nhỏ làm tôi ngơ ngẩn. Trong lời nói của nó, có một phần sự thật nào đó cũng đang đè nặng trong tâm trí chúng tôi, tạo ra chứng u uất không ít người chung quanh cũng mắc phải.

Xe chạy qua một con đường lớn. Khuya, đường vắng, như rộng thêm ra.

Nhiên đưa chúng tôi ra bến tầu Sài Gòn. Chúng tôi xuống xe, thong thả đi bộ dọc theo cầu tầu.

Đêm, gió mát, nước sông đen rào rạt vỗ vào bờ.

Tôi bỗng thấy lòng nao nao một tình cảm giống như sự hối tiếc. Hối tiếc cái gì đây? Tôi cũng không biết nữa. Nó chẳng khác cái cánh đồng mênh mông bên kia sông, tôi vừa trông thấy rõ ràng vừa không phân biệt một hình ảnh nào. Giáp ngay với mép nước, những căn nhà gỗ, những túp lều cao, thấp, được cất bám, uốn theo bờ sông. Một vài căn còn thắp đèn. Những đốm sáng lẻ loi làm tăng thêm sự u tịch.

Không thấy bóng người bên trong những căn nhà ấy. Đời sống đôi khi bầy ra cái vẻ rỗng không của nó.

Kế cận dãy lều là một cơ xưởng, có lẽ để sửa chữa tầu bè, vì mỗi lần qua đây, tôi thường nhìn thấy ở dưới cái mái lợp tôn cao ngất đó, ánh sáng xanh lóe của các mỏ hàn, dù giữa ban ngày. Những tiếng gõ, đập nặng nề, vọng qua mặt sông sang tận bờ bên này. Cơ xưởng bây giờ cũng lặng lẽ dưới mấy ngọn đèn. Một chiếc ghe đuôi tôm, nổ máy lạch bạch, chạy về phía Khánh Hội. Mặt nước tối đen, nhưng ánh trăng rớt trên những nếp sóng nhăn nheo, làm cho quãng sông trông giống như một tấm gương lớn lật ngửa.

Chúng tôi tới chỗ người ta bầy những chiếc bàn nhỏ và ghế đan bằng sơị ni-lông, bán đồ giải khát và cả đồ nhậu vặt vãnh, khô mực, hột vịt lộn, cho người đến đây hóng mát.

Nhiên bảo:

– Ngồi đây chơi một lát.

Chúng tôi cùng ngồi xuống. Nhiên gọi cho mỗi người chai cô-ca.

Trong chốc lát, tôi thấy lạnh vì những cơn gió không ngớt lùa từ mặt sông lên.

Tôi hỏi Thảo:

– Lạnh không?

Con nhỏ cười nhìn tôi, gật đầu. Nó thu hai tay ép trong hai đầu gối khép lại.

Đêm ở đây chưa có vẻ gì khuya. Mọi người ăn uống, trò chuyện, dường như không để ý đến thời gian.

Đằng sau chúng tôi là khách sạn Hoàn Mỹ, thắp đèn sáng choang.

Thảo quay lai nhìn, bảo:

– Cái vẻ dầy và nặng phía ngoài của nó là lối kiến trúc một trăm năm trước. Cũ nhưng đẹp. Một bà đầm già.

Con nhỏ làm tội bật cười. Một bà đầm già. Tôi không thấy cái vẻ ấy mà lại thấy nó giống như một con tầu với những ca-bin bật đèn sáng.

Tuy nhiên  những con đường chạy dài chung quanh, xe cộ qua lại, khiến người ta không thể đẩy tưởng tượng đi xa hơn.

Khách sạn với cái dáng vẻ nặng nề chắc chắn của nó, tưởng chừng như đã lún sâu thêm một chút.

Nghĩ tới cái khách sạn đã tồn tại cả trăm năm, một thứ nhiêu người đã qua lại trú ngụ, tôi thấy rởn người. Đó có lẽ là một thứ nhà không bao giờ trở thành nhà được. Hãy tưởng tượng một cuộc trò chuyện với những xó góc, bàn ghế, giường nệm, với những tấm gương trong các căn phòng ấy, hẳn người ta sẽ biết ra nhiều chuyện lạ lùng lắm. Không biết tôi đã nghe hay đọc được ở đâu đó, một nhân vật đã cho rằng, y thích cái không khí tạm bợ của các khách sạn, đó mới đúng là chỗ ở của một người. Ý nghĩa bền vững, riêng tư của căn nhà, làm y sợ. Nó phản lại cái đời sống giới hạn của con người và luôn thúc đẩy y có ý định tự sát.

Ai nghĩ sao, thực tế thế nào, mai mốt chắc cũng không khỏi có lúc tôi sẽ phải sống ở trong những chỗ như thế.

Tiếng sóng vỗ bỗng làm tôi xao xuyến. Thành phố với những nhà cửa, đường xá, ngõ ngách, những người quen thuộc và xa lạ, dòng sông cũ kỹ, tầu bè neo chật bến, tất cả những tiếng động, hình ảnh, thời tiết này, rồi sẽ theo tôi, khua động trí nhớ, tôi biết thế.

Càng gần đến ngày đi, tôi càng cảm thấy đây không phải là một chuyện bình thường, nó có vẻ gì đó như tôi tự xóa bỏ những dấu vết của mình, một kẻ chạy trốn.

Chúng tôi ra về lúc đêm đã khá khuya.

Nhiên đưa tôi và Thảo về trước.

Trước khi đi nó bảo:

– Mai em sẽ trở lại.

Nhìn thằng nhỏ tôi vẫn có cảm tưởng nó định nói với tôi điều gì đó nhưng chưa nói.

Chuyện gì, nếu không phải là chuyện ngoài Vũng Tàu đêm trước?

Thảo nói với Nhiên:

– Ngủ ngon nghe bồ.

(Còn tiếp – Chương 7)

Share this post