Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 7

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 7

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG BẢY

Chúng tôi về phòng, đi ngủ.

Tôi ngủ thiếp, không kịp nghe hết câu nói dở dang của Thảo. Tôi mơ thấy mình đang ở giữa một thành phố xa lạ, đi hoài qua các khu phố mà không biết định tới đây để làm gì.

Cảm giác hoang mang, lo sợ, vẫn còn trong lòng khi thức dậy.

Thảo vẫn còn ngủ ở bên cạnh.

Tôi nghĩ ngay đến những gì xẩy ra trong bữa đi chơi ngoài Cấp với Sơn, thầm nói với mình, sẽ nén giữ trong lòng, không cả tự tra hỏi, vì sao lại làm như vậy. Chỉ còn vài ngày nữa tôi sẽ đi khỏi đây. Nếu đó là một tiếng nổ, nó sẽ nổ khi tôi còn một mình ở nơi xa xôi ấy. Tôi sẽ chịu đựng tiếng nổ đó một mình. Nếu đó là một nỗi đau thương, tôi sẽ gậm nhấm nỗi đau thương đó một mình.

Tôi nhỏm dậy, đi ra ngoài sân dù hai mắt còn cay.

Tôi muốn hứng những cơn gió lạnh để nó làm cho tỉnh hẳn.

Giấc mơ kéo lê thê gần suốt giấc ngủ làm tâm trí bải hoải.

Chỉ còn vài ngày nữa tôi sẽ đi. Tới phút này đây, tôi nhận ra đó không phải là một việc bình thường nữa mà đối với tôi, nó trở thành một cách tôi tự xóa bỏ những dấu vết của mình ở chốn này.

Chuyến đi của tôi liệu có thay đổi được gì?

Cứ tưởng tượng tôi đủ thấy chẳng có mảy may hy vọng. Trốn đi đâu, có gì khác? Nhưng như vậy có nghĩa là thế nào?

Mấy chục năm sống của tôi, điều mà tôi biết rõ nhất là cái gì ?

Buồn.

Đúng như thế, chỉ có cái buồn là tôi thấy rõ nhất, còn tất cả những thứ khác đều mờ mờ, ảo ảo.

Tôi trở vào trong nhà.

Thảo vẫn còn ngủ. Sau khi làm những công việc thông thường buổi sáng, tôi pha sẵn cho nó một chút cà phê, lát thức dậy, nó chỉ cần chế thêm nuớc sôi cho đủ nóng để uống.

Tôi mang tách nước của mình ra lại ngoài thềm ngồi uống.

Mẹ tôi mở cửa bước ra hỏi:

– Muốn ăn gì?

Tôi kéo chiếc ghế còn lại nhích ra một chút cho bà ngồi, nhưng bà không ngồi.

Tôi nói:

– Dạ, để chờ Thảo dậy, ăn luôn.

Mẹ tôi bảo:

– Ăn xôi nhé?

Tôi thưa:

– Vâng.

– Xôi đậu hay xôi bắp?

– Xôi bắp đi mẹ.

Một người đàn bà bán xôi đi qua cửa cất tiếng rao lanh lảnh. Mẹ tôi mang chén ra mua.

Tiếng rao hàng của người đàn bà làm tôi nhớ lại lời anh tôi kể. Ở Hà Nội xưa, sáng, trưa, chiều, tối đều có những thức quà riêng. Miếng ăn của Hà Nội, người ta có thể cảm thấy ngay trong lúc nghe rao.

Những tiếng động làm nên một phần của thành phố, tiếng rao quà, tiếng chổi của các phu quét đường kéo soàn soạt trên mặt nhựa những buổi sáng mùa đông trời còn tối đen, tiếng rào rào của chiếc xe phun nước cho bớt bụi mùa hè, những tiếng động khiến cho người đi xa nhớ mong, muốn trở về.

Có thể những điều anh tôi nói là sự thật. Nhưng đối với tôi, nó chỉ có ý nghĩa mơ hồ. Vậy mà, không hiểu sao, nó vẫn không ngừng nhen lên trong lòng tôi nỗi mong ước được trở về, được nhìn thấy Hà Nội. Tôi cũng tin rằng, chính những người yêu Hà Nôi như anh tôi, phải trở về, trả lại những kỷ niệm họ mang theo lúc ra đi, Hà Nội mới phục sinh được.

Tôi cũng muốn có dịp đứng trên cầu Long Biên nhìn xuống con sông Hồng đỏ phù sa, mùa nước lớn, lũ từ trên nguồn đổ về, réo sôi, sủi bọt quanh những chân cầu bằng đá lớn, nghe mùa thu trở mình bằng những trận gió heo may, xào xạc thôi, nhè nhẹ thôi, vậy mà chỉ qua một đêm, đã thấy cả Hà Nôi chìm ngập trong mùa thu. Tôi cũng muốn nhìn thấy hồ Tây, hồ Trúc Bạch, cái nắng hàng Đường, Sơn đã có lần nói với tôi.

Cơn mơ tưởng làm tôi như ngủ thêm một giấc trắng trên ghế.

Mẹ tôi mang cho chúng tôi hai chén xôi bắp.

Tôi nói:

– Để con đợi Thảo nó dậy, ăn cùng.

Mẹ tôi bảo:

– Để sẵn đấy, lúc nào muốn ăn thì ăn.

Tôi trở vào phòng. Thảo vẫn còn ngủ. Tôi lại gần đánh thức con nhỏ:

– Dậy chứ cô mình.

Thảo mở mắt ngồi nhỏm dậy.

Tôi bảo:

– Nằm xuống cho tỉnh hẳn đã.

Con nhỏ cười với tôi, hỏi:

– Sáng rồi hả?

Tôi cười với nó bảo:

– Mới gần trưa thôi.

Thảo vươn vai, duỗi thẳng người trên giường. Nó hơi gầy, nhưng cái vặn mình làm nổi rõ những phần cong và thẳng trên người trông nó cũng khá đầy đặn.

Thảo hỏi:

– Bữa nay chị có đi đâu không?

Tôi nói:

– Chưa biết. Nếu đi, hai đứa cùng đi.

Thảo nói:

– Đói bụng quá.

– Bác có để sẵn xôi ngoài hiên rồi.

– Thế hả?

– Dậy được chưa?

Thảo trở dậy, vào phòng tắm, đánh răng, rửa mặt. Tôi lấy sữa, nước sôi, chế thêm vào tách cà phê cho nó, rồi mang ra ngoài thềm.

Chúng tôi cùng ăn sáng.

Thảo nói:

– Lâu quá mới được ăn xôi lúa.

Tôi cũng thầm nghĩ, mai mốt chắc sẽ có lúc thèm một bữa ăn sáng thế này, nhưng dĩ nhiên chẳng biết tìm đâu ra.

Tôi hỏi:

– Chỗ em không có bán à?

– Không thấy ai mua về cả.

– Ngõ ngách nào chẳng có hàng quà rong.

– Mình đi phố mua cái gì làm đồ tráng miệng cho bữa ăn.

– Ừ.

Mấy con chim sẻ từ mái hiên bay ra đậu trên cây dương liễu, rúc kêu lẹt xẹt, rỉa lông cho nhau. Thỉnh thoảng chúng bay, nhẩy, làm những giọt sương chưa ráo hết trên lá rớt xuống sân.

– Em uống trà thấy thích hơn cà-phê.

– Lắm bữa không kịp ăn sáng, uống cà-phê, đến sở, cồn ruột muốn chết.

– Buổi tối uống trà, ngồi học thấy tỉnh táo hơn.

– Cô có biết vì sao không?

– Vì sao?

– Sách Trà Đạo bảo, Đức Phật tham thiền thấy buồn ngủ. Ngài dùng dao cắt hai mi mắt vứt ra sân. Hai mi mắt ấy, mọc thành cây trà. Thành thử bây giờ uống trà, người ta mới thấy không buồn ngủ.

Con nhỏ cười, hai hàm răng trắng bóng.

Nhìn nó cười, tôi tưởng như nhìn thấy buổi sáng còn nguyên vẹn.

Tôi nói:

– Chị cũng muốn đi kiếm mua vài quyển sách để mang theo.

Chúng tôi về phòng sửa soạn.

Trước khi đi, tôi ghé vào phòng thầy tôi. Ông còn nằm trên giường và đang đọc tiếp (hay đọc lại?) tờ báo tôi đã thấy ông đọc tối qua.

Tôi hỏi:

– Con ra phố với em Thảo một chút. Thầy có cần gì không ạ?

Ông buông tờ báo xuống, ngó tôi, bảo:

– Không. Các con cứ đi đi.

Nắng đã bắt đầu nồng nực, nhưng trên trời có rất nhiều mây đen.

Thảo bảo:

– Thế này thì chỉ có trời mới biết sẽ mưa hay nắng.

Tôi nói:

– Chốc nữa mình cũng biết.

Phút này tôi mới hiểu nỗi bồi hồi thường cảm thấy mỗi khi bước vào phòng thầy mẹ tôi. Hình như quanh mỗi người già, luôn hiện hữu một mùi gì đó làm ra cái cõi riêng của họ, khô se, ngai ngái, có thể chính họ không biết, nhưng những người khác sẽ nhận ra ngay, mùi vị của cái chết đã len lẫn vào đời sống. Tôi đã ngửi thấy cái mùi ấy trong phòng bác tôi, trước khi ông mất. Tôi đã chứa trước trong lòng cái chết của thầy mẹ tôi, tôi biết như vậy.

Bỗng nhiên lại thấy tôi thẫn thờ không nói gì nữa, Thảo kéo tay tôi bảo:

– Bà này kỳ quá.

Tôi gượng cười với con nhỏ, cũng không muốn nói với nó điều tôi vừa cảm thấy.

Chúng tôi tới chợ mua môt ít trái cây, vào tiệm mua môt hộp bánh.

Tôi nói với Thảo:

– Em có muốn mua gì không?

Thảo bảo:

– Không .

Cuối cùng tôi tự ý dùng số tiền đã định dành cho Thảo, mua cho nó ít vải và mỹ phẩm.

Tôi nói:

– Học, nhưng cũng đừng quên trang điểm.

Con nhỏ cười:

– Bộ trông em lọ lem lắm sao?

– Xấu hay đẹp, có trang điểm vẫn hơn.

– Không sao. Tôi xin được bỏ quên cho đến khi học xong.

– Sợ người ta nhặt được, hết học hả?

– Tính tôi hay lo xa, tránh được thì cứ tránh.

Câu nói của con nhỏ làm tôi chợt nhớ đến Sơn. Trong một phút, mọi sự lóe sáng đối với tôi. Đó là một lời hẹn tôi sẽ trở lại chốn này. Nếu vì một lẽ gì, không biết trước, tôi không còn trở lại đây nữa, tôi đã để lại đây tất cả rồi, không còn gì đáng tiếc nữa.

Tôi đưa Thảo tới một tiệm may.

Xong xuôi, chúng tôi trở về nhà.

Thảo nói:

– Chẳng thấy anh chàng Nhiên đâu cả.

– Lát thế nào nó cũng đến.

oOo

Ăn cơm trưa xong, chúng tôi quanh quẩn giúp mẹ tôi làm vài việc lặt vặt, rồi lại rủ nhau đi.

Mẹ tôi hỏi:

– Chúng mày không nghỉ à ?

Thảo nói:

– Chúng con đi coi phim.

Mẹ tôi bảo:

– Nhớ về trước giờ ăn kẻo khách đến.

Tôi nói:

– Nhiên đến, mẹ bảo nó đón tụi con ở chỗ này.

Tôi lấy mảnh giấy ghi giờ và nơi hẹn nhờ mẹ tôi trao lại cho Nhiên.

Phim chúng tôi coi là một cuốn phim hay nhưng buồn.

Mùa Hè 42.

Trong một đêm, sau khi chồng tử trận, có thể nói, bà ta đã giết chết một cậu con trai và cho ra đời một người đàn ông, bằng hết thẩy những gì gọi là đàn bà của bà.

Tôi rất thích phần nhạc của Michel Legrand, mỗi nốt nhạc như một sự giải thích mơ hồ về chuyện đó, lẫn lộn với biển, gió và cát.

Ra đường Thảo nói:

– Đàn bà nguy hiểm thật.

Tôi cười bảo:

– Con cái của rắn mà.

Thảo nói:

– Chúng ta chưa có được một mùa hè ẩm ướt như thế.

Tôi nhìn con nhỏ và thầm nói với nó: “Điều ấy chỉ đúng một nửa thôi”.

Tôi lặng lẽ cùng Thảo băng qua một con đường đông đúc, tới một quán nước, nơi đã hẹn Nhiên tới đón.

Thằng nhỏ không có trong quán, nhưng xế cửa quán, chúng tôi thấy xe của nó đậu đó.

Thảo nói:

– Chắc hắn quanh quẩn đâu đây.

Tôi bảo:

– Chờ nó một tí vậy.

Chúng tôi chọn một cái bàn ngồi sát cửa kính, để có thể thấy Nhiên ngay khi nó tới.

Thảo nói:

– Dầu sao, thế giới của đàn bà bao giờ cũng do đàn ông kiến tạo.

Điều con nhỏ vừa nói hình như có chứa một sự thật nào đó. Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ đang dò dẫm sống, và càng tìm ra được những ý nghĩa chống đỡ cho cái đời sống không mấy vững chắc, người ta càng cảm thấy khó sống. Bản chất của đời sống vốn bấp bênh, hay chúng tôi chi là những đứa trẻ đần độn?

Tình cờ tôi nhận ra, tôi đã ngồi đúng cái chỗ tôi đã ngồi với Sơn bữa trước. Có một sự ràng buộc vô hình nào đó sắp xếp thật chăng? Hay chính tôi đã tự đâm đầu vào lưới?

Thảo nhìn tôi bảo:

– Chị có bao giờ thực sự cảm thấy phải lấy chồng không?

Câu hỏi của con nhỏ làm tôi bối rối. Tuy nhiên, nó không có vẻ chờ đợi câu trả lời của tôi.

Nó tiếp:

– Nghĩ đến lúc sinh một đứa con càng khó hiểu và rùng rợn hơn nữa.

Nếu tất cả những người đàn bà đều nghĩ như nó, cái nhân loại này sẽ ra sao?

Tôi nhớ lại một buổi sáng đang đứng trước thềm, tôi bỗng thấy một người đàn bà ngấp nghé ngoài cửa. Người đàn bà còn trẻ, có lẽ chỉ hơn tôi vài tuổi, dáng vẻ mệt nhọc có lẽ vì quá vất vả với công việc. Chị mỉm một nụ cười e dè, nhìn tôi qua khe hở phía trên của hai cánh cửa. Chị ra dấu muốn vào. Tôi ngạc nhiên, ra mở cửa. Tôi nghĩ, chắc chị đi bán một món ăn sáng, nhưng khuất hai cánh cửa tôi không nhìn thấy, hoặc đó là người trong xóm muốn hỏi xin một viên thuốc cần kíp bất chợt, hỏi thăm chuyện điện nước. Tôi mở cửa cho chị. Chị lí nhí chào tôi, trên tay chỉ xách theo môt chiếc giỏ không, có lẽ để đi chợ. Chị mặc một chiếc áo hoa sạch sẽ, quần đen, ủi thẳng. Người đàn bà hơi xanh, có một chút nhan sắc, thứ nhan sắc tàn héo ngay lúc đang xanh.

Tôi không thể đoán biết chị muốn gì.

Bằng một giọng e dè, chị tự giới thiệu, vợ chồng chị cùng ở trong xóm đã lâu, và qua lời chi, tôi lờ mờ đoán ra anh, nhưng không chắc có đúng.

Chị nói:

– Em có chút việc muốn nhờ chị.

Tôi mời chị ngồi xuống một trong hai cái ghế mây ở ngoài thềm, vào nhà, rót hai tách nước trà mang ra.

Chị ta nói:

– Bên này yên tĩnh quá nhỉ.

Chị đưa mắt nhìn quanh khoảng sân và cây dương liễu.

Tôi thấy rõ vẻ ngơ ngác trên nặt người đàn bà. Hình như chị ngạc nhiên vì những gì trông thấy. Tôi biết có những người đàn bà, bận rộn đến nỗi chẳng còn chút thì giờ để ý đến trời đất ngoài những công việc của mình.

Chị hỏi thăm tôi cây dương liễu đã trồng được bao lâu?

Tôi nói, không lâu, mới chừng vài ba năm.

Tôi mời chị uống trà.

Chị hấp tấp bỏ chiếc giỏ đang cầm trong tay xuống dưới chân, bưng lấy tách trà.

Cử chỉ của người đàn bà làm tôi áy náy. Nó chứng tỏ, ngay cả cái việc nhỏ nhặt, ngồi uống một tách trà với vài phút nhàn rỗi, chị cũng ít khi làm. Hoặc chị đang có một sự rối trí, nan giải.

Chờ cho chị uống vài hớp nước rồi, tôi mới hỏi:

– Chị có chuyện gì ạ?

Người đàn bà mỉm cười, nhìn tôi.

Tới lúc này tôi mới nhìn rõ chị. Chị có đôi mắt đẹp khác thường, to, đen và chắc chắn nó không được hoàn toàn trong sáng chỉ vì thiếu ngủ và vất vả.

Chị nói bằng giọng ngập ngừng:

– Chị biết nhà tôi?

Tôi trả lời cho qua:

– Dạ…

Giọng người đàn bà trở nên gọn gàng hơn:

– Tôi có sáu đứa con.

Tôi mỉm cười với chị:

– Chị còn trẻ mà đã đông các cháu nhỉ.

– Tôi hai mươi lăm, nhà tôi hơn tôi hai tuổi.

Tôi thầm nghĩ, quả thật chị cùng cỡ tuổi tôi.

Chị tiếp:

– Chúng tôi sanh các cháu năm một.

Tôi yên lặng chờ chị nói tiếp.

Chị nói:

– Tôi ở dưới quê lên, đang học nghề may thì gặp nhà tôi.

Rồi bằng cái giọng không được mạch lạc lắm, đang nói chuyện này nhẩy sang chuyện khác, chị cũng nói đủ để tôi hiểu rằng, gia đình chị đang trong tình trạng túng quẫn, chồng đi làm, chị phải phụ giúp bằng cách may thuê, bỏ diều bỏ quạ lũ nhỏ, phó mặc chúng trông lẫn nhau.

Tôi vẫn chưa biết mục đích chị muốn gặp tôi để làm gì.

Chị nói, chị vẫn nghe tôi nói trên đài.

Tôi có cảm tưởng chị không nhớ hết những gì định nói. Viêc này làm tôi thấy thương chị. Sự vất vả quá đáng làm cho người ta mất hết cả linh hoạt, và có vẻ gì đó buồn thảm.

– Dạ.

Tới một phút hình như chị chợt nhận ra cách ăn nói luộm thuộm của mình, chị xin lỗi đã làm mất thì giờ của tôi.

Tôi trấn an chị bằng cách hỏi lại:

– Em có thể giúp chị được gì không?

Chị lại nói loanh quanh về cảnh túng thiếu của gia đình, mãi mới tới viêc, có hai vợ chồng một giáo sĩ Tin Lành người Mỹ, chồng chị có dịp sửa cho họ một cái máy móc gì đó, thấy vợ chồng chị đông con, nay họ sắp về nước, muốn xin vợ chồng chị một đứa con mang theo.

Và đó là điều hai vợ chồng chị đã bàn tính suốt tuần qua mà vẫn chưa có được quyết định dứt khoát.

Chị tiếp:

– Em nghe nhà em nói, chị học luật, chị có học, chị hãy giúp chúng em, cho chúng em ý kiến về việc này.

Chị làm tôi lạnh xương sống.

rước hết, tôi phải nói ngay với chị, cái chị gọi là tôi “có học” đó, sự thực, không đáng kể chi. Sau đó, điều chị hỏi tôi là một việc quá quan trọng, tôi e không thể nào có ý kiến được.

Vẻ thất vọng hiện ngay trên mặt người đàn bà làm tôi có cảm tưởng phạm tội khi nói như vậy.

Có lẽ, chị ta cho rằng không phải tôi không thể có ý kiến, mà là tôi đã coi thường, hay nặng nề hơn, tôi đã khinh bỉ cái ý định “cho con” của chị, và vì thế, tôi không muốn nói gì.

Quả thật, nếu chị ta nghĩ như vậy, tôi cũng không biết phải làm sao, để chị đừng nghĩ như vậy.

Yên lặng một lát, chị nhìn thẳng vào hai mắt tôi, bảo:

– Em chỉ muốn chị cho biết việc ấy có lợi gì, có hại gì. Người ta hứa sẽ cho nó ăn học đến nơi đến chốn. Một việc tụi em không mong gì làm được.

Tôi nghe chị nói, nghe cùng một lúc như tim mình teo lại trong ngực.

Tôi không biết vì lý do gì, chị lại chọn tôi để hỏi cái việc oái oăm này.

Tôi cũng biết, đối với người đàn bà này, thà là tôi nói một điều liều lĩnh, thiếu suy nghĩ, còn hơn là tôi cố gắng giữ thái độ đứng đắn, nghiêm chỉnh, không nói gì cả.

Tôi phải nói cái gì đây?

Tôi bị thúc đẩy bởi một sự cân nhắc âm thầm nhưng mạnh mẽ đến nỗi tôi sợ hãi.

Tôi có cảm tưởng người đàn bà không hẳn định hỏi ý kiến tôi mà chỉ muốn dựa vào ý kiến của tôi để “bói” một điều gì đó, có thể, họ đã quyết định rồi.

Tôi nói:

– Dĩ nhiên, như thế, cháu có nhiều hy vọng sẽ được ăn học tử tế.

Người đàn bà bảo:

– Có người lại nói, trẻ con đem cho người ngoại quốc, chẳng được học hành gì đâu.

Tôi nói:

– Về chuyện này, em cũng chỉ nghe nói vậy. Sự thực không biết thế nào.

Người đàn bà có vẻ nản chí. Có lẽ vì chị thấy tôi trả lời không có điều gì dứt khoát cả. Chị uống một hớp nước trong tách. Sự mệt nhọc hình như làm cho tâm trí chị trở nên thất thường. Đôi mắt chị vừa ánh lên vẻ buồn giận khi nhìn tôi, trong một phút lại chìm trong bóng âm u, dường đầu óc đã bị cuốn hút vào một chuyện khác.

Nhưng không phải như vậy, vì tôi nghe chị hỏi tiếp:

– Chị có nghĩ, cho con đi như thế, lớn lên, nó lại trở về với mình không?

Tôi chắc hai vợ chồng chị đã bàn tính kỹ với nhau chuyện này rồi. Lòng thương con khiến họ muốn tính một nước liều.

Tôi chưa biết nói sao, lại nghe chị hỏi tiếp:

– Hai vợ chồng bà đó là giáo sĩ. Liệu có thể tin họ được không?

Tôi đành phải thú thật với chị, tôi không ngờ đã được chị tin cậy đem hỏi một việc như vậy. Nhưng đó là một việc có nhiều phần còn phải trông cậy vào may rủi, không thể tính trước hậu quả. Tôi chỉ có thể cầu mong cho chị được thêm may mắn, chứ không thể đưa ra bất cứ một ý kiến nào.

Người đàn bà ra về.

Tôi tiễn chị ra cửa, chúc chị giải quyết ổn thoả mọi việc.

Chị cười và nhìn tôi với đôi mắt thất lạc. Rõ ràng trong lòng chị có nhiều chuyện bối rối, không an tâm.

Tôi không gặp lại người đàn bà, cũng không biết vợ chồng chị quyết định thế nào về chuyện đứa con, nhưng mỗi khi nhớ lại chuyên vẫn cứ thấy lòng áy náy. Sự lo lắng quá đáng cho tương lai của trẻ con, có phải là dấu hiệu của một xã hội đã thật sự bấp bênh, suy sụp?

Nhiên tới đón chúng tôi. Nó đi thẳng vào chỗ chúng tôi ngồi.

Thảo hỏi:

– Uống gì không?

Nhiên đáp :

– Không.

– Về chứ?

– Tùy các bà.

– Mai sau lúc nào cũng chiều vợ được như thế thì có đường lắm.

Nhiên nhìn tôi. Thảo cũng nhìn tôi. Bây giờ tôi mới nhớ ra, đã một lúc lâu, mải nghĩ tới chuyện người đàn bà, tôi quên khuấy con nhỏ, không nói với nó một câu nào.

Thảo nói:

– Từ hôm qua đến giờ, bà ấy cứ như người mất hồn.

Nhiên không cười. Nó giữ vẻ bình thường dù trong giọng nói của Thảo đầy vẻ trêu chọc.

Chúng tôi đứng dậy, ra về.

(Còn tiếp – Chương 7)

Share this post