Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 8

Đồng Cỏ (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 8

ĐỒNG CỎ
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Nhật báo Chính Luận, Sài Gòn (1973-1974)
* Đồng Dao xuất bản lần thứ nhất tại Úc Châu (1994)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG TÁM

Tôi làm những công việc đã dự tính. Nhân viên Tòa Đại Sứ tiếp tôi một cách lịch thiệp. Họ vui vẻ chỉ dẫn tất cả những gì tôi cần biết. Trong khi chờ đợi các nhân viên hoàn tất giấy tờ, tôi được mời vào một văn phòng. Tiếp tôi là một ngưòi đàn ông còn  trẻ. Sau khi hỏi thăm về công việc của tôi, ông ta tỏ ra rất vui. Ông cho tôi một địa chỉ và nói rằng đó là nhà bà chị của ông, trường hợp có gì khó khăn khi tới nước ông, hãy đưa danh thiếp của ông cho người có tên ông ghi trong đó, tôi sẽ được chỉ dẫn.

Tôi ngỏ lời cảm ơn ông.

Tôi nói lời cảm ơn bằng tiếng Nhật.

Ông ta cười, nói thêm một tràng tiếng Nhật nữa, nhưng tôi không hiểu gì cả.

Ông nói tiếp với tôi bằng tiếng Anh:

– Tôi hy vọng ngày trở lại Việt Nam cô sẽ nói chuyện được với tôi bằng tiếng Nhật.

Tôi nói:

– Tôi sẽ rất sung sướng nếu có thể thực hiện được điều đó.

Ông cũng khoe với tôi, ông đang học tiếng Việt. Nhưng vì cách phát âm quá khó nên ông cần có thêm nhiều thời gian nữa, mới hy vọng nói được.

Tôi cười bảo:

– Lịch sử hai nước chúng ta có nhiều liên hệ. Nếu chúng ta có nhiều người biết tiếng của nhau, mọi việc có thể sẽ trở nên dễ dàng hơn không chừng.

Ông hỏi tôi, có nói được nhiều tiếng Nhật chưa?

Tôi nói, ngữ vựng tôi đã học được chút ít. Nhưng tôi không nghe kịp, kể cả những chữ đã học rồi. Tôi hy vọng, khi sang bên đó, được tiếp xúc với người Nhật, tôi sẽ nghe hiểu.

Người đàn ông có râu quai nón, nhưng đã được ông cạo nhẵn. Chân râu làm cho da mặt ông bớt vẻ thư sinh.

Ông ta tự giới thiệu chức vụ của ông trong Tòa Đại Sứ: tùy viên văn hóa.

Tôi nói:

– Tôi cũng đoán vậy.

– Đoán sao, thưa cô?

– Đoán ông là tùy viên văn hóa.

Ông xin phép tôi để được hút thuốc. Tôi nói, xin ông cứ tự nhiên.

Ông mở nắp hộp thuốc, đưa mời tôi, bảo:

– Vì các cô gái Việt Nam ít hút thuốc, nên ông không biết tôi có hút không?

Tôi khẽ lắc đầu tỏ ý từ chối, nói cám ơn ông rồi hỏi lại:

– Các nữ sinh viên Nhật có hút thuốc lá không?

Ông nói:

– Tôi có hai người bạn, hút thuốc còn nhiều hơn tôi nữa.

Tôi bảo:

– Nước Nhật của ông tôi nghe mỗi người nói một khác.

Ông ngước hẳn lên nhìn tôi, nét mặt thư thái, tự tin.

Tôi nghĩ thầm, đất nước của ông đã ban cho ông cái vẻ tự tin ấy. Các bạn học của tôi, những người tôi quen biết, Sơn chẳng hạn, không phải những người thiếu tự tin, nhưng sự tự tin không phát hiện ra trên nét mặt họ, có lẽ hoàn cảnh đất nước, sự u ám, buồn bã, đã phần nào che khuất đi.

Ông ta hỏi tôi:

– Ngoài công việc sẽ làm, cô có ý định theo học thêm một môn gì ở bên ấy không?

Tôi nói:

– Đó cũng là ước muốn của tôi. Song tôi cần đến tận nơi, thu xếp công việc đã, rôi mới quyết định được.

Ông ta bảo:

– Tôi e công việc sẽ chiếm mất nhiều thời gian của cô lắm đấy.

Rồi ông tiếp:

– Trước khi qua đây, ở bên Nhật, tôi có làm quen được với một nữ sinh viên Việt Nam. Cô ấy đang học ngành nhuộm ở Đông Kinh.

Tôi hỏi:

– Cô ấy đã về đây chưa ạ?

Ông ta nói:

– Cô ấy đã tốt nghiệp, nhưng quyết định ở lại học tiếp để lấy một cấp bằng cao hơn, nên có lẽ phải mất thêm vài năm nữa.

– Tôi mong sẽ được gặp chị ấy.

– Tôi chắc cô sẽ gặp thôi. Sinh viên Việt Nam cũng như người Nhật, lòng hoài hương của họ rất mạnh. Họ thường tìm cách họp mặt trong những dịp lễ tết.

Ông cũng khoe đã được người bạn Việt Nam này dịch sang tiếng Nhật cho nghe nhiều bài thơ Việt Nam. Ông khen chị bạn nói tiếng Nhật rất hay.

Tôi hỏi ông:

– Vậy, thi sĩ Việt Nam nào ông thích nhất?

Ông trả lời không cần suy nghĩ :

– Nguyễn Du.

Nhưng ông cũng nói, ông đã bỏ nhiều thời gian để tìm hiểu thêm về thơ Việt Nam, nhưng phần lớn là qua một ngôn ngữ thứ ba, nên dĩ nhiên nhiều thiếu sót. Song theo ông, “Kiều” là một tác phẩm vĩ đại, ít có tác phẩm nào trên thế giới có thể so sánh.

Tôi cười nhìn ông ta. Tôi thử lượng đoán xem trong lời nói của ông, có bao nhiêu phần của nhà ngoại giao, bao nhiêu phần là sự thật. Cuối cùng tôi lại nhận ra một điều tôi không định tìm biết, ông ta có vẻ đại diện cho một lớp người Nhật mới, ít liên quan tới quá khứ, nhất là cái quá khứ nặng nề người Nhật đã mang tới xứ sở này trước đây.

Tôi cũng thử nói với ông về một vài tác giả Nhật đã được đọc khá nhiều ở đây như Suzuki, Rynosuke, Mishima và nhất là Kawabata với tiểu thuyết “Ngàn Cánh Hạc“. Tôi cũng nói, truyện ngắn của Kawabata tôi đọc cảm thấy thích thú nhất là truyện “Thủy Nguyệt“.

Người đàn ông có vẻ hơi ngạc nhiên.

Ông nhìn tôi bảo:

– Cô đọc nhiều về văn chương Nhật bản lắm sao?

Tôi nói:

– Không đâu. Chúng tôi cũng đọc sách Nhật cũng qua ngôn ngữ thứ ba như ông thôi. Sở dĩ các tác giả tôi vừa nói được biết nhiều hơn vì chúng tôi có bản dịch một số tác phẩm của họ sang Việt ngữ.

Ông hỏi tôi:

– Cô chú ý đến điều gì trong truyện “Thủy Nguyệt“?

– Sự chung thủy của người đàn bà. Mặt trái và mặt phải của tình yêu và dục vọng.

Ông ta nói:

– Tôi không ngờ văn chương Nhật Bản được đọc đến như vậy ở đây.

Măt ông ta sáng rỡ khác hẳn cả những người đồng hương cùng làm việc với ông.

Tới đây, một người thư ký, theo lời dặn của ông, mang vào tận văn phòng của ông, trao cho tôi những giấy tờ của tôi.

Ông ta đứng dậy chào tôi và bảo:

– Tôi rất hân hạnh được gặp cô hôm nay.

Tôi ngỏ lời cảm ơn những cảm tình ông đã dành cho tôi trong cuộc tiếp xúc này.

Ông ta nói:

Nước Nhật chúng tôi rất vui mừng được tiếp nhận những sinh viên như cô.

Đó là môt lời nói hơi quá của ông ta. Nhưng ông ta có một cách nói và một dáng điệu làm cho những lời nói của ông có đầy vẻ quý phái và ắt nó phải có nghĩa như ông muốn.

Tôi đứng dậy ra về.

Mặt trời đã lên khá cao khi tôi bước ra ngoài đường. Con sông trước mặt lấp loáng những ánh bạc làm chói mắt. Vài chiếc tầu đang bốc rỡ hàng trên bến cảng. Những chiếc cần trục to, cao, chằng chịt dây cáp quơ đi quơ lại phát ra những tiếng kêu nặng nề lách cách.

Trên bến tầu, những người phu khuân vác các kiện hàng chạy lên chạy xuống trên mấy cái thang nhỏ bắc từ boong tầu xuống bến.

Buổi sáng trong suốt làm cho những tàn cây nhìn thấy lá như xanh hơn.

Tôi rảo bước đi về phía Tòa Đô Chánh, rẽ vào thương xá Nguyễn Huệ mua cho Thảo một ít đồ dùng thường ngày.

Tôi cũng nhớ tới buổi hẹn với Sơn chiều nay.

Một nửa tôi muốn gặp lại anh, một nửa muốn bỏ cuộc hẹn. Chỉ là những nỗi lo sợ, ý nghĩ vu vơ vậy thôi.

Dù sao tôi cũng sẽ đi. Tôi không chờ đợi gì ở anh, không có một ước hẹn nào phải bận tâm, cái gì khiến tôi do dự?

Tôi rẽ qua tiệm sách mua một vài cuốn mang theo.

Tôi mua được một tập truyện ngắn mới của Sơn vừa cho xuất bản.

Kỷ niệm này sẽ là kỷ niệm nặng nề nhất của tôi đây.

Tôi ra đường, kêu xe, đến nhà Thảo.

Tôi đã trù tính, buổi chiều sau khi gặp Sơn, tôi sẽ đến đón nó, cùng về nhà tôi. Không hiểu sao tôi lại bảo xe chạy tới nhà nó lúc này.

Tôi cũng nhớ ra, hình như Nhiên đôi ba lần đã định nói với tôi điều gì, nhưng vẫn chưa nói. Có thật vậy chăng?

Thảo không có nhà. Mọi việc như thế, tự nó, vẫn đúng như dự tình của tôi, không có gì thay đổi, tôi sẽ đến đón nó sau khi gặp Sơn.

(Hết Chương 8)

Share this post