Dòng Giống Tiên Rồng (Phiếm Luận – Lê Văn Phúc)

Dòng Giống Tiên Rồng (Phiếm Luận – Lê Văn Phúc)

Hầu như mỗi dân tộc trên thế giới đều tự cho mình thuộc một nguồn gốc thần bí oai phong, coi đó là biểu tượng của sự cao cả, thiêng liêng mà mình có diễm phúc và hãnh diện được là hậu duệ.

Có nước nhận những vị thần linh làm tổ tiên, có nước nhận mặt trời làm quốc hiệu, có nước coi những vật tưởng tượng, xa lạ làm khởi điểm nguồn gốc của mình.

Như người Việt Nam chúng ta, ai cũng hãnh diện nhận mình là Con Rồng, Cháu Tiên.

Có lẽ chưa ai trông thấy tiên thật đâu mà chỉ thấy tiên trong tranh vẽ, trong trí tưởng tượng rồi vẽ vời ra cho thêm vẻ diễm kiều để gọi là đẹp như tiên. Vì thật sự không có tiên ở dương thế nên phải đặt tiên sống một nơi cách biệt nhân gian trong cõi xa vời, gọi tắt là tiên giới hay tiên cảnh để đùng ai thắc mắc.

Năm thì mười họa, lâu lắm buồn tình tiên nữ mới đột xuất ghé xuống trần thăm dân cho biết… Nên mới gọi là tiên giáng thế. Nếu tiên “dụ khị” được anh chàng thư sinh nào như Luu Thần, Nguyễn Triệu hay Từ Thức, thì rủ người yêu lên non tìm động hoa vàng, khi nào chán cảnh chán người thì lại tìm về cõi tục. Cũng có khi tiên nữ giáng trần mà lại lỡ trớn nghe theo lời ngon ngọt đam mê, bị dụ dỗ bởi tiếng đàn tôi hay giọng hát lời thơ mà ở lì trần gian thì coi như giã biệt chốn thiên thai, chắc không đường về tiên nữ ơi…

Rồng cũng là loài chưa ai nom thấy bao giờ. Theo óc tưởng tượng mà vẽ vời ra thì hình dáng rồng như con rắn nhưng dài và lớn hơn. Rồng có cặp mắt tròn và sáng rực, có râu dài dù tuổi còn rất trẻ trung. Rồng lại được vẽ thêm chân để đi đất hay chạy bộ. Ở dưới nước thì rồng vùng vẫy, lội khỏe bơi nhanh hơn cá kình cá mập. Ở trên trời thì tuy rồng không có cánh chắc coi bộ rườm rà quá chăng? nhưng vẫn có thể bay được bay được y như phản lực cơ siêu thanh F5 mà lại bay rất đẹp, nên được khen là rồng bay phượng múa…

Một giống da vàng!

Như vậy là ta hãnh diện về dòng giống. Nhưng chưa đủ, chúng ta còn hãnh diện mình là chủng tộc máu đỏ da vàng.

Về máu thì ai cũng máu đỏ đã đành rồi, nhưng về mầu da thì ta phải nhìn nhận mình có mầu da đẹp nhất, tuyệt nhất trần gian! Để tìm hiểu, ta lại phải nhìn về dĩ vãng.

Nhớ xưa, khi Thượng Đế nặn ra con người, ngài có bỏ vào bếp lửa than hồng để nướng cho chín, cho cứng cáp hơn.

Lứa đầu vì chưa có kinh nghiệm, ngài nướng non tay nên con người trắng quá: Đó là giống da trắng ngày nay. Vì còn quá trắng nên ta gọi là trắng nhễ nhại, trắng bệch…

Lứa sau, ngài mải coi ti-vi nên để lửa quá tay, hóa nên con người đen ngỏm đen ngòm: Đó chính là dân Phi Châu bây giờ. Đen đến cái độ quá độ nên ta gọi là đen thủi đen thui, đen như cột nhà cháy…|

Kế tiếp, ngài cẩn thận hơn, tắt ti-vi, vặn nhỏ cải lương nhưng vẫn chưa dồi dào kinh nghiệm thành ra lửa vẫn còn hơi to: Đó chính là dân da đỏ. Giống dân này có màu da đẹp hơn dân Phi Châu nhiều, coi như là da bánh mật. Giống dân này ngày xưa ít chịu đi chợ, đi sóp-pinh, cứ đi săn người về, cho vào nồi luộc hoặc nướng rô-ti xé ra ăn vã…

Không nản lòng, ngài nướng thêm mẻ nữa, nhỏ lửa hơn nhưng vẫn còn hơi đậm: Đó chính là các sắc dân có mầu da nâu nâu, xam xám, đen không ra đen, đỏ không ra đỏ: Đó là dân Phi Luật Tân, dân Mễ, dân Nam Dương… Màu da này coi bộ không mấy khỏe mạnh nên được gọi là da chì, da bủng.

Sau cùng, ngài tắt ti-vi, tắt video, ngưng nghe cải lương, ngồi nướng mẻ chót, để vừa lửa, quay đều tay. Kết quả là ngài có được một mẻ nướng vàng đều, hoàn toàn ưng ý: Đó là dân da vàng, đại diện chính thức phải nói là người Việt Nam chúng ta vậy!

Vậy, thử hỏi làm sao chúng ta không biết ơn Thượng Đế, không hãnh diện về nòi giống da vàng của mình cho được?

Duy ngã độc tôn!

Bởi quá hãnh diện về một tổ quốc, một giống dân Rồng Tiên da vàng, nên hình như người Việt Nam chúng ta đã vô tình hoặc cố ý tỏ ra có thái độ kỳ thị, khinh mạn đối với những sắc dân khác, chẳng kể các sắc dân đó rất văn minh, kém văn minh hay còn bán khai, man di mọi rợ! Chỉ có mình ta là nhất, chỉ có mình ta là không ai sánh bằng.

Thái độ duy ngã độc tôn ấy được thể hiện một cách rất rõ ràng trong đời sống hàng ngày, không ai là không biết nhưng không mấy ai để ý đó thôi.

Bạn cứ ngẫm lại mà coi, có bao giờ trong khi nói chuyện hàng ngày với nhau mà ta gọi sắc dân khác bằng một danh từ bình thường, lịch sự nào đâu! Toàn những là danh từ kẻ cả nhìn xuống, với giọng sách mé, coi thiên hạ không bằng nửa con mắt không à: “thằng Tây”, “thằng Mỹ”, “thằng Tầu”… Ai cũng bị gọi là thằng ráo trọi. Có khi lại còn bị mỉa mai, châm biếm hơn, gọi là “chú Chệt”, “thằng Tây cà lồ”, “thằng Mẽo”, “thằng Nhật Bủn”…

Mà họ là ai? Họ là những giống dân có nền văn minh rất cao, rất tiến bộ. Có nước đã đưa người lên tít tận cung trăng, khám phá những thiên thể cách xa ta hàng triệu triệu cây số!

Ngay cả với ta

Đối với người khác giống đã vậy, còn ngay cả với người cùng giống, ta cũng không tha, nói năng chỉ trỏ bằng một thái độ trịch thượng không kém.

Điền hình dễ hiểu nhất, thông thường nhất là trong giới nghệ sĩ, gọi tên các nam nữ ca sĩ, kịch sĩ, ta cũng dùng những danh từ kém thân mật, kém lịch sự như: con Phượng Hồng, con Ngọc Thiên Thanh, thằng Mặc Quân Huyền, thằng Tuấn Tú… cho dù trong thâm tâm ta vẫn mến yêu những ngưòi đã hiến dâng đời ca hát ngày tháng cho người mua vui, đem tiếng nhạc lời ca để làm tươi đẹp cuộc đời.

Rồi nhiều khi trong lúc vô công rồi nghề, lại còn phê bình, mỉa mai bằng những lời độc ác, bới móc đời tư của người ta ra để cười hả hê, thỏa thích: Con A. nom vậy mà nó đã có 5 đứa con rồi đấy mày ơi! Thằng B. nhìn thế mà đểu giả! Nó có vợ rồi mà cứ theo tán con em gái tao hoài à! Con D. hát được mà sao người nó lại lùn tỉ lùn tì à! Thằng H. bé tí xíu, đứng với con nọ chỉ đến nách!

Người nghệ sĩ nếu nghe được những câu châm chọc, cay đắng ấy hẳn cũng chùng lòng, cũng gợn một vài nét thoáng buồn không biết tỏ cùng ai.

Nói gần hơn nữa, giữa chốn bạn bè với nhau cũng có người ăn nói khinh khi, mục hạ vô nhân nữa kìa. Họ là người bình thường, không tài cán, chức tước gì cao sang cả (mà hình như những người thực sự cao sang lại thường có thái độ, tư cách rất đàng hoàng, dễ mến). Trước mặt người khác thì nào những là “thưa anh”, “kính anh”, vâng vâng dạ dạ, rất ư tử tế, kính trọng, mà sau lưng thì gọi bằng những danh từ thằng, nó, hắn ta, bọn nọ bọn kia… với một giọng điệu dè bỉu, kênh kiệu không thương tiếc!

Từ hồi qua bên Mỹ, nhiều người Việt cũng có thái độ kỳ thị ra mặt. Chẳng hạn như khi mua sắm nhà cửa cũng lựa chọn rất kỹ càng, có thể nói là hạng nhất nhì trên thế giới! Nhà phải có hướng tốt, không ở ngã ba đường, không bị đòn giông nhà đằng trước đâm vào nhà mình đã đành rồi. Nhưng quan trọng hơn cả là nhà phải ở khu nhiều Mỹ trắng; cạnh nhà, trước nhà, sau nhà không được có… Mỹ đen! Hình như cứ dính tí đen vào là coi như chướng tai gai mắt, là nó làm cho đen cả cuộc đời mình đi, không chấp nhận được, không sống được. Sự kỳ thị bậc nhất ấy, không biết có sắc dân nào sánh kịp dân ta?

Bốn ngàn năm văn hiến nước ta…

Từ khi lập quốc đến nay, chúng ta đã có trên bốn ngàn năm văn hiến qua lịch sử thăng trầm, với các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn… phá Tống, bình Nguyên, phá Thanh để bảo vệ sơn hà.

Một dân tộc anh dũng, kiêu hùng như thế chung sống trên giải đất hình cong chữ S bên bờ đại dương đã tạo ra biết bao nhiêu chiến công hiển hách, biết bao nhiêu liệt nữ anh hùng, biết bao nhiêu nhân tài tô bồi cho văn hiến nước nhà.

Một chiều dài lịch sử sáng chói như thế, hiển nhiên chúng ta là con dân nước Việt đều hãnh diện, đều trân quý một cơ đồ di sản của tiền nhân, và có bổn phận gìn giữ, phát huy những nét đẹp về thuần phong mỹ tục, về tình tự dân tộc, về văn hóa, vì đó là những nét đặc thù của dân tộc Việt Nam.

Được che dưới cái bóng “Bốn ngàn năm văn hiến”, ta có quyền tự hào về một dòng giống liệt oanh. nhưng chẳng phải vì thế mà dậm chân tại chỗ.

Trông người…

Nhìn các nước láng giềng châu Á như: Đài Loan, Tân Gia Ba, Đại Hàn… họ đã ra khỏi cái gọi là “nước chậm tiến”, “nước kém mở mang:, để đưa nền kinh tế của họ cất cánh bay bổng, theo kịp các quốc gia tiền tiến trên thế giới. Họ nhìn xa trông rộng, học hỏi, canh tân để bằng người. Họ có những nhà lãnh đạo yêu nước, anh minh, trong sạch, xả thân vì đại nghĩa, biết lo cho tiền đồ dân tộc, lo cho quyền lợi người dân để đưa đất nước qua cơn nguy biến, xây dựng một thể chế lành mạnh, tự do dân chủ.

Lại ngẫm đến ta!

Nhìn lại đất nước Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta đã sống trong chiến tranh nên nhân lực tiêu hao, kinh tế kiệt quệ.

Độc hại hơn nữa là chủ thuyết cộng sản do những kẻ vô thần nắm quyền hành đã làm băng hoại cả một dân tộc.

Trong khi các nước khác tiến bộ vượt bực thì nước ta hầu như còn dậm chân tại chỗ. Có thể nói, một phần vì tự hào dân tộc, một phần vì chiến tranh nên chưa thể phục hồi. Phần khác, cũng có thể nói là vì dưới một chế độ cộng sản như hiện nay tại Việt Nam thì chưa biết bao lâu nữa chúng ta mới sánh kịp các xứ người trong vùng Đông Nam Á.

Khối Liên Sô vĩ đại tưởng chừng bá chủ trên thế giới đã vỡ vụn như cám. Bức tường Bá Linh còn gọi là “bức tường ô nhục” đã bị san bằng để nước Đức thống nhất. Cộng sản Đông Âu đã vỡ nát để người dân được hưởng không khí tự do. Trên thế giới hiện nay chỉ còn lẻ tẻ vài nước cố bám víu vào chủ nghĩa cộng sản: Bắc Hàn, Trung Hoa, Cuba, Việt Nam… Mà ngay đến Trung quốc vĩ đại cũng đã ngả theo kinh tế thị trường với những thí điểm gần biên giới để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm hầu chuyển sang một thể chế mới.

Vươn vai một cái…

Nhìn về đất nước chúng ta ngày nay, chiến tranh qua rồi nhưng người cộng sản vẫn còn nguyên vị.

Chế độ ấy ngày nay đã lỗi thời, lạc hậu. Các nước bậc thầy, đàn anh của cộng sản Việt Nam đã dẹp bỏ chủ thuyết cộng sản để hội nhập vào đời sống chính trị tự do, dân chủ theo trào lưu thế giới.

Còn Việt Nam thì vẫn khư khư ôm lấy giáo điều cộng sản, hết cai trị bằng khẩu phần lại cai trị bằng luật lệ rừng rú, bằng những tệ trạng tham nhũng, hối mại quyền thế còn hơn cả thời phong kiến.

Nên dù đã sang thế kỷ mới, dù thế giới đang sống trong một nền văn minh tiến bộ vượt bực nhưng Việt Nam vẫn như còn trong thời đại đồng đá ngày xưa, chưa rút ra được khỏi cái vỏ bán khai, chậm tiến để mở mặt với người.

Không biết ai đó đã tức cảnh sinh tình, viết ra mấy câu thơ sau đây, ngẫm lại vẫn thấy đúng, thấy hay nhưng cũng đầy đắng cay, chua xót:

Bốn ngàn năm văn hiến nước ta,
Từ trong hang đá chui ra,
Vươn vai một cái, rồi ta chui vào…

Đó là hình ảnh sắc nét nhất của đất nước chúng ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, anh minh của những kẻ từ người xuống vượn!

Lê Văn Phúc
(Trích: Bóng Thời Gian
 www.levanphuc.com)

Share this post