Giờ Ra Chơi (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 3 (Tiếp theo)

Giờ Ra Chơi (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 3 (Tiếp theo)

GIỜ RA CHƠI
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Khai Phóng xuất bản (Sài Gòn – 1970)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG BA
(Tiếp theo)

Tôi thức dậy lúc mặt trời còn ủ kín trong sương. Trên những ngọn lá non, ánh sáng ấm áp của những tia nắng đầu tiên, chiếu qua màn sương, tựa trong suốt. Những tiếng chim sâu kêu liếp chiếp dưới vườn vọng vào tận trong giường. Trời xanh không gợn một áng mây nhìn thấy sau những rặng núi xa. Mùa hè cao nguyên có thể cảm thấy trong mùi lá cây bị nắng hơ nóng, mùi đất ẩm, mùi của những bông hoa đã héo rụng. Tôi trở dậy, đánh răng, rửa mặt, xuống nhà ăn sáng. Sau đó, chú Quyên đi đến hãng của ông. Tôi, Lãm và Khôi ra phố chơi. Chúng tôi thực hiện tất cả những ý muốn đã định từ trước, dạo phố, leo núi, cưỡi ngựa, bơi thuyền. Trong những ngày kế tiếp, Khôi còn dẫn tôi đi thăm các vườn trái cây, ăn mận và dâu hái tại chỗ. Đó là lần thứ nhất tôi nhìn thấy những cây dâu. Trong đám lá xanh bò lan sát mặt đất, những trái dâu chín đỏ trông quyến rũ lạ lùng.

Khôi bảo:

– Coi chừng thuốc sát trùng. Ăn vào đau bụng chết.

Lãm nói:

– Không sao. Có lẽ mình cũng nên sát trùng tận ruột một lần.

Những trái mận non đắng ngắt. Nhưng thích thú là bứt từ trên cành xuống bỏ vào miệng.

Tôi cũng nói đùa với Khôi:

– Nụ hoa không đụng tới của Khôi, đôi khi cũng chỉ kết thành những trái đắng chát này thôi.

Đứng trên sườn núi nhìn xuống những rừng thông, những vườn cây trái xanh mướt, tôi tưởng chừng như mùa xuân ẩn nấp đâu đó chỉ cần một ngày, một trận gió lướt qua, sẽ hiện ra bằng những búp nõn, hoa nụ.

Có những buổi trưa chúng tôi không về nhà, rủ nhau đi ăn tiệm, lang thang trong các khu phố, vào quán ngồi uống cà phê. Ở Đà Lạt có sự sung sướng nhất là hình như thời tiết làm cho người ta không biết mệt. Không khí trở thành một thứ mật bổ dưỡng, chúng tôi đã bơi trong biển mật đó. Có những buổi chiều, mặt trời vàng chiếu trên các cánh rừng xa, trông tưởng như tất cả lá đều biến thành hoa. Cũng có hôm trời chuyển mưa bất chợt, những cơn mưa làm cho trời thấp xuống, chúng tôi đạp thuyền vội vàng vào bờ, nhưng có khi ngồi chán chê trong quán, vẫn chưa thấy mưa.

Mặt hồ như tấm gương soi nhan sắc Đà Lạt. Trong những cơn giông muộn màng của những ngày thời tiết biến chuyển đột ngột đó, Đà Lạt trông xanh xao, và chúng tôi tha hồ nô giỡn trên các quãng đuờng vắng vẻ.

Khôi cũng giữ đúng lời hứa, ngồi canh cho tôi ngủ một giấc ngoài hiên nhà thủy tạ. Đó là buổi chiều, không, đúng hơn, một hoàng hôn, mặt trời đã lặn từ lúc nào khi chiều chưa hết, và tôi có cảm tưởng bao nhiêu hương mật của đêm đã quần tụ dưới những đám mây đen đang sa trên các đỉnh núi, mật và hương thơm đầy trong nếp áo. Tôi ngủ. Tôi đã cố ngủ trong khi hai tai vẫn muốn dỏng lên nghe những tiếng gió thổi từ mặt hồ lên, hút qua khe những sợi giây đan ghế và nghe những tiếng rì rào từ cánh rừng đâu đó, đang cùng với bóng đêm bủa xuống vây kín thành phố, giống như một tấm màn buông trên chiếc nôi.

Tôi sung sướng trong tưởng tượng của mình và còn đuợc ru bằng tiếng hát khẽ của Khôi ở bên cạnh :

Em có biết một ngày
Mặt trời không mọc ở phía đông
Không lặn ở phia tây?
Nhưng làm gì có một ngày như thế.
Tôi chỉ nhớ một ngày
Người yêu dấu của tôi đã chết.

Một bài hát tôi chưa từng nghe ai hát, trong bóng tối nhòe nhoẹt, trong giấc ngủ không đến hẳn, nghe âm vang như từ một cõi xa xôi nào, từ một cõi mơ. Có phải có những giấc mơ không cần ngủ?

Tôi hỏi:

– Bài Khôi hát đó của ai vậy?

Khôi không trả lời thẳng câu hỏi của tôi.

Hắn hỏi lại tôi:

– Chị có biết một cây cầu nào chưa ai đi qua?

– Có. Cầu vồng?

– Chị có biết cánh đồng nào ngướ ta trồng một thứ cây không mọc?

– Có. Cánh đồng xương cốt.

– Chị có biết đêm ở nơi nào không có bóng tối?

– Đêm của những người mù, phải không?

Khôi cười bào tôi:

– Đó là những gì tôi muốn viết thành những bài hát của tôi.

Tôi bảo Khôi:

– Sao Khôi không hát hết cho tôi nghe một bài?

– Đó là những bài hát chưa thành hình thù rõ rệt của tôi. Tôi chưa hát cho ai nghe bao giờ. Những gì chị vừa nghe là những câu thứ nhất.

Tôi hỏi:

– Tại sao Khôi không viết cho xong?

– Vì tôi thấy nó không được hạnh phúc.

Tôi nghe Khôi nói và tôi xúc động. Có lẽ Khôi có thể trở thành một người viết ca khúc có tài. Có lẽ chúng tôi không được hạnh phúc.

Lúc đó trăng đã lên. Trăng sau những ngày mưa vẫn xanh biếc như thuở nào. Trăng mà tôi biết cò người đã dẫm lên trên đó. Sau những đám mây đen, ánh sáng trông buồn rũ rượi.

Khôi cũng nằm im không nói gì nữa.

Chúng tôi nhìn nhau qua khe hở của của những sợi dây đan chiếc ghế mình đang nằm.

Tôi nói với Khôi:

– Nghe sóng vỗ dưới chân hệt như mình đang nằm trên một boong tầu vậy.

Khôi hỏi:

– Chị có thích bỏ đi xa không?

– Chưa bao giờ tôi nghĩ đến điều đó cả.

– Bữa cơm chiều nay chú Quyên lại mất công chờ mình.

– Đã có bé Lãm ngoan ngoãn của chúng ta đại diện rồi.

– Còn bao nhiêu ngày nữa chúng ta sẽ trở về Sài Gòn?

– Một tuần.

– Tôi cũng bắt đầu thấy chán Đà Lạt rồi.

– Chị không vui trong kỳ hè này sao?

– Thì cũng chỉ như một giờ ra chơi.

– Chúng ta sẽ gặp lại nhau chứ?

– Bao giờ?

– Môt năm. Hai năm. Ngày trở về Sài Gòn. Tôi không hẹn với Khôi, nhưng nếu Khôi muốn gặp lại tôi không có gì khó.

– Khó chứ. Bởi vì chị không hẹn nên tôi không có cớ.

– Khôi không tạo ra cớ một mình được à?

– Tưỏng tượng bây giờ nên dành cho con gái.

– Thế con trai làm gì?

– Chờ.

– Khôi muốn tôi hứa hẹn với Khôi gì bây giờ?

– Chị hẹn chứ đừng hứa.

– Khôi sẽ hát cho tôi nghe một lần bài hát của Khôi khi Khôi viết xong nhé?

– Nhưng… nếu tôi không viết được?

– Thì Khôi hãy cho tôi hay là Khôi không viết được.

– Tại sao lại những bài hát?

– Chỉ là cái cớ Khôi muốn tôi nói với Khôi thôi mà.

– Có lẽ sẽ khó khăn. Kỳ hè này là cơ hội tốt nhất, nhưng chúng ta đã chẳng làm nên trò trống gì.

– Bởi vì tôi chưa muốn gây ra một chuyện nào cả.

– Trở lại Sài Gòn sẽ chẳng có dịp nào tôi được ngồi với Thục thế này nữa.

– Bây giờ Khôi gọi tôi bằng tên trống không thế à?

– Tôi còn muốn đổi cách gọi chị một lần nữa.

– Khôi có thể gọi tôi thế nào cũng đuợc. Nhưng tôi không thay đổi nhanh chóng.

– Tại sao chị khó khăn quá thế?

– Khôi không cho là phải à?

Chúng tôi nói chuyện với nhau, ném trả những lời đối đáp, và một lát sau tôi cảm thấy choáng váng. Hình như tâm não tôi chùng hẳn xuống trong sự loãng nhạt, buồn bã. Tách nước lạnh ngắt trong tay, tôi cầm lên nhưng không uống. Tôi cũng chẳng muốn đổi một tách nước mới. Đêm xuống từ bao giờ, sao lấp lánh trên cao, tiếng sóng nước vỗ dưới hồ trở thành nhịp đưa đẩy, tách nước muốn rớt khỏi tay, tôi đặt lại vào trong chiếc đĩa nhỏ, ánh sao gợn trên mặt vàng của tách trà. Tất cả cái ẩm lạnh của cao nguyên len lỏi trong những đám sương gió cuốn bay lướt thướt. Đêm trên những rừng thông bắt đầu đen sẫm lại, tiếng reo xào xạc thổi tới từng hồi lẫn với tiếng chuông nhà thờ làm rung cả ngực [hồi chuông giống như ngày tôi đặt chân xuống Đà Lạt], những tiếng chuông bây giờ đã vương vất nỗi nhớ nhung, đã chứa trong nó một quá khứ ngắn ngủi, những tiếng chuông có lẽ sẽ có lúc tôi nhớ lại một ngày nào đó khi trở về Sài Gòn.

Khôi bảo:

– Chị muốn ăn cơm nhà hay cơm tiệm?

Tôi nói:

– Tùy Khôi.

Đi trong đêm Đà Lạt là đi trong hơi thở của núi rừng. Những cây anh đào vươn các cành trơ trụi trong sương, mùa hoa còn lâu lắm mới tới.

Chúng tôi leo dốc lên phía chợ vào một tiệm ăn. Khôi chiều chuộng tôi trong bữa ăn. Trong căn phòng kín, nhìn sâu qua những tấm kính chắn, bên ngoài trời đen thấp thoáng ánh đèn vàng rọi trên những vỉa hè sạch sẽ. Trời lạnh cóng, những lá xà lách và cà chua ăn lạnh miệng. Quán vắng người, chỉ loáng thoáng một vài thực khách ngoại quốc. Một người đàn bà tóc vàng ngồi hút thuốc lá, nói chuyên luôn miệng với người đàn ông ngôì đối diện, tôi đoán chừng họ là những nguời Pháp. Giữa bữa ăn, chúng tôi trông thấy Lãm đi qua ngoài cửa kính. Lãm giơ tay vẫy chúng tôi trước khi đi khuất.

Tôi nói với Khôi:

– Chúng mình bỏ cơm nhà hoài, chú Quyên la chết.

Khôi nói:

– Không đâu. Ổng đã quen với lối sống ấy quá rồi.

Tôi ngó Khôi và thấy hắn trở lại vẻ lầm lì cũ. Hai mắt Khôi cúi nhìn đĩa thức ăn làm cho cái quầng mắt trũng thêm xuống.

Tôi nói:

– Cứ kể làm những người khách lạ trong một thành phố cũng thích.

Khôi hỏi:

– Chị uống trà nữa không?

– Tôi bắt đầu sót ruột vì trà của Khôi rồi.

Tuy nhiên chúng tôi vẫn kêu một tách trà nóng.

Khôi bỏ đường, vắt chanh vào tách cho tôi.

Tôi hỏi Khôi:

– Tại sao trong bài hát thứ nhất của Khôi, Khôi đã nói đến người chết?

Khôi nhìn tôi, hai mắt đăm đăm làm tôi sợ.

Khôi nói:

– Sửa soạn đi về. Sắp tới giờ giới nghiêm rồi

Chúng tôi ra khỏi quán. Đường phố đã vắng, chỉ còn những người dọn hàng ở chợ về muộn, một vài người ngoại quốc và những cặp trai gái cũng đang trên đuờng trở về nhà đi trên các ngả đường ở phía xa. Chúng tôi đi bộ về nhà.

Gió kéo luớt trên các lối đi thổi vào chân. Mặt hồ lúc ấy lao xao những đợt sống vàng chói ánh trăng và sương mù phủ kín trên những cành thông nhìn thấy ngang tầm mắt dưới cuối dốc.

Những ngày nghỉ học cuả chúng tôi sắp chấm dứt. Đà Lạt nhỏ bé, thơ mộng, chẳng làm mới thêm những ngày sau cùng của chúng tôi. Vẫn những cuộc dạo phố, đi xem suối, các vườn trái cây, vườn trồng hoa, những buổi chiều, những buổi sáng vui chơi trong các hàng quán, những câu chuyện nói với Khôi, những cuộc nói chuyện tay ba với Lãm, những hôm chú Quyên đi nhặt chúng tôi từng đứa một về nhà ăn cơm. Một tháng sống ra ngoài lề lối một chút.

Chúng tôi chỉ còn một ngày hôm nay nữa, mai sẽ về Sài Gòn, bắt đầu lại những kỷ luật cũ.

Chú Quyên bảo:

– Các cháu nhất định về à?

Lãm nói:

– Cháu hết muốn tâp chịu cái lạnh ở đây một mình rồi.

Chú Quyên cười:

– Vậy thì bao giờ có người chịu rét chung, cháu cứ lên đây, chú sẽ cho ở nhờ.

Chú Quyên cũng nói, tôi có nét phảng phất giống người đàn bà đã chết của ông, giống người đàn bà đó khi còn trẻ, giống đứa con gái ông bà đã không sinh ra đuợc. Ông cũng nói đã cảm thấy buồn chán mỗi buổi sáng thức dậy, ban đêm thui thủi trở về nhà, những bữa ăn, những ly rượu uống một mình trong cái lạnh lẽo của Đà Lạt, chắc sẽ khiến ông già mau hơn nữa. Tôi không biết ông nói đùa hay nói thật khi ông ngỏ ý muốn xin tôi làm con nuôi. Tôi quá trẻ để trở thành vợ kế ông, nhưng lại quá già để làm con nuôi ông. Tại sao, cái ý muốn kỳ cục đó ?

Buổi sáng chúng tôi ra phi trường ông đã tự lái xe đưa chúng tôi đi.

Ông cũng ghé qua chợ mua cho Lãm và tôi mỗi đứa một bó hoa hồng và một giỏ trái cây. Đi qua những quầy bán hoa trái, là lúc tôi muốn ở lại Đà Lạt. Cái không khí rét lạnh sớm mai, mấy bực thềm lấm tấm uớt nước, nước rớt ra từ những bó hoa lớn được mang từ các xe tải vào chất trong các vựa để bầy bán, có thể đó chỉ là những hạt sương đọng lúc đêm khuya. Những trái cây cầm mát tay. Học trò tấp nập đi mua sắm những thứ cần dùng cho niên học tới. Những chiếc áo đủ màu bay tung trong gió. Tôi thở cái hơi thở của hồ nước sáng cái ánh sáng âm u của một ngày vừa rạng trong sương.

Chú Quyên hỏi:

– Còn ai muốn mua gì nữa không?

Lãm nói:

– Cháu chỉ còn muốn mua lại những ngày hè.

Chú Quyên chia những gói đồ để cho chúng tôi cầm ra xe.

Ông vừa cười vừa bảo:

– Chú cũng đang muốn bán lại tuổi già của chú đây. Nhưng có lẽ tại chú quá giầu nên không ai có đủ tiền để mua.

Tôi cười hỏi nhỏ Khôi:

– Sao không thấy Khôi nói gì từ sáng tới giờ?

Khôi nhìn tôi, bảo:

– Sáng nay chị không chải đầu à?

– Tôi lười quá.

Chú Quyên quay sang bảo tôi:

– Hãy lên trên này học Chính Trị Kinh Doanh.

– Sao vậy chú?

– Sau này cô sẽ dễ giải quyết những công việc bất ngờ hơn học văn chương.

Tôi cười bảo:

Xe chạy lên phi trường khi những tia nắng đầu tiên chiếu lên trên các lề đường, nhưng ở nhiều quãng rừng nắng đã chói chang. Những cánh rừng đan xuyên nhau nhìn qua cửa xe ở những khúc quẹo. Đà Lạt lùi xa dần ở phia sau. Rừng bây giờ vàng óng.

Chú Quyên nói:

– Trời tốt. Các cháu đi máy bay khỏi sợ.

Chú thả chúng tôi ở phi cảng, trở lại Đà Lạt ngay sau đó. Tôi ngỏ lời cảm ơn ông một lần nữa về những ngày vừa qua. Ông chúc chúng tôi sẽ thi đỗ và hãy nghĩ tới việc lên học trên Đà Lạt, trước khi cho xe chạy.

Chúng tôi làm các thủ tục giấy tờ cần thiết và chờ phi cơ tới. Trời bắt đầu nóng. Trên trán Lãm đã thấy lấm tấm mồ hôi. Thấy Khôi không nói một tiếng nào, Lãm hỏi nhỏ tôi, có chuyện gì giữa hai người không? Tôi nói “không, trên nguyên tắc”. Lãm cười bảo, cái nguyên tắc của mày coi bộ không được rõ ràng cho lắm. Tôi nói, rõ như ban ngày vậy, không có gì để nghi ngờ. Lãm vẫn cười bảo, nhất định phải như thế chứ, chỉ phiền một nỗi, giờ ra chơi sang năm thời tiết chắc sẽ thay đổi. Tôi cũng cười bảo, một năm thì còn gì là thời tiết nữa mà lo lắng.

Máy bay đáp xuông sẻ xuống Sài Gòn. Xe nhà Lãm đón chúng tôi tại phi cảng, đưa tôi về nhà trước. Sài Gòn của một tháng xa không có gì thay đổi, hay chỉ thay đổi một chút nắng, một chút bụi bám bên ngoài các hàng cây.

Lúc xuống xe, Lãm chia phần quà cho tôi cùng với bó hoa chú Quyên mua cho. Tôi bắt tay Khôi lúc từ giã. Đây là lần thứ nhất tôi tự ý muốn bắt tay một người. Cái trò chơi tôi thường lấy làm lạ ấy của mọi người, lần đầu tiên tôi cảm thấy thực sự là trò chơi của mình.

Tôi bảo Khôi:

– Tôi sẽ gặp lại Khôi chứ?

Khôi không nói gì.

Chiếc xe lăn đi và hình như tôi nghe Lãm hỏi Khôi, có phải Khôi yêu Thục không? Câu nói nghe thoáng làm tôi thấy ngôt ngạt. Nhưng có lẽ đó chỉ là cái không khí nồng nực sẵn có của Sài Gòn, Sài Gòn chúng tôi vừa trở về từ Đà Lạt. Khôi yêu tôi hay không, điều ấy có nghĩa gì? Bao nhiêu tuổi thì người ta nên nghĩ tới điều đó? Và bao nhiêu tuổi thì người ta hiểu đuợc điều đó?

Nhà vắng hoe. Mẹ tôi và em Hiền đi thăm anh Trí. Anh vừa vào trại nhập ngũ tuần trước. Ba tôi cũng đi từ sáng chưa về. Người giúp việc trong gia đình xếp dọn đồ đạc, va-li cho tôi và cho biết như vậy.

Một tháng xa nhà, viêc anh Trí nhập ngũ là thay đổi thứ nhất [và có lẽ cũng quan trọng nhất]. Tôi trở lên phòng mình trên lầu, qua phòng anh Trí, tôi hé cửa nhìn vào. Giuờng nệm, sách vở đuợc xếp đặt gọn ghẽ. Trên mặt bàn, tấm ảnh anh Trí chụp ngày vừa tốt nghiệp sư phạm lồng trong khung kính, trông nghiêm nghị làm tôi buồn cười. [Thôi, anh Trí, nhờ anh một tí!]. Anh sẽ tha hồ bịa đặt về những ngày đi lính của anh để nạt tôi. Cũng có thể anh không nói một điều gì. Biết đâu anh sẽ không còn thể nói một điều gì, một ngày nào đó…

Tôi khép cửa, trở về phòng mình, ngồi xuống bàn học, ấn tay trên cái nút đèn, ánh sáng rọi trên mặt kính lót bàn hắt lên làm chói mắt. Cái mặt kính ấy, cái ánh sáng ấy, tôi đã thắp lên trong bao nhiêu năm, đã nhìn thấy trong bao nhiêu năm, tôi sắp bắt đầu lại trong nhiều năm nữa, đề sửa soạn tương lai. Tôi sẽ làm được gì, hay chỉ để dành lấy một phần ăn trong tương lai?

Buổi chiều mẹ tôi về nói cho biết chuyện anh Trí. Anh đã sang thụ huấn tại quân trường, đã bắt đầu công việc gọi là “chà láng“. Hãy cố gắng anh Trí, cố gắng làm trơn nhẵn hết những gì còn sót lại trong anh. Chủ nhật tới em sẽ vào thăm anh. Em sẽ rủ thêm một đứa bạn để anh “thử thời vận”. Hình như đã có lần em nghe anh nói, đàn bà là niềm an ủi lớn nhất của cuộc đời. Em mong anh không lầm. Để chúng ta, mỗi người, đều có thể tiếp tục đời mình, truớc sự thật, cám dỗ, hứa hẹn và đe dọa.

(Hết Chương 3)

Share this post