Giờ Ra Chơi (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 3

Giờ Ra Chơi (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 3

GIỜ RA CHƠI
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* Khai Phóng xuất bản (Sài Gòn – 1970)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác (Tiểu Thuyết I&II – 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG BA

Xe chạy qua vài khu phố.

Đà Lạt về đêm đẹp vô cùng trong cái lạnh và vẻ mờ ảo của nó. Trên những ngọn thông nhìn nghiêng, những hạt mưa buổi chiều chưa khô hết, lóng lánh trong ánh sao, kéo dài như một giải lụa. Nhưng cũng có thể đó chỉ là mặt bóng cửa những cành lá. Kính xe đuợc hạ thấp, tôi ngửi thấy mùi nhựa thông thơm ngát trong gió lẫn với mùi phấn đánh mặt, mùi sáp môi và nước hoa tôi và Lãm dùng.

Xe chạy vào một biệt thự có con đuờng lát đá uốn cong khá dài, hai bên cây cối tươi tốt. Sân biệt thự có những bụi hoa nhiều mầu nở đầy bông.

Chúng tôi đuợc đón tiếp ngay ở ngoài thềm.

Hai vợ chồng chủ nhân đều còn trẻ, rất đẹp đôi, y phục lịch sự, trang trọng.

Chú Quyên giới thiệu chúng tôi với họ.

Người chồng nghiêng mình chào chúng tôi, bắt tay chú Quyên và Khôi.

Người đàn bà nắm tay tôi và Lãm đưa vào trong nhà.

Bà nói:

– Bụi hồng bạch trước thềm nhà tôi sớm nay bói đuợc mấy bông đẹp quá. Không ngờ đó là điều báo chúng tôi sẽ đuợc tiếp khách quý.

Lãm đáp lại bằng một câu không kém kiểu cách:

– Vâng, chúng cháu cũng vừa nhìn thấy khóm hoa tuyệt đẹp bên ngoài. Nếu không nghĩ đó là lời chúc tụng bác, chắc chúng cháu không dám vào.

Người đàn bà cười ròn, có vẻ ưng ý lối nói chuyện của Lãm.

Tôi thầm nghĩ, đó là thứ ngôn ngữ tôi không bao giờ học đuợc, và dù có học đuợc, chắc cũng không bao giờ dùng được.

Người đàn bà nói tiếp:

– Vậy lát nữa tôi sẽ hái biếu các cô mấy bông hoa đẹp nhất trong đám để cám ơn lời khen tặng của cô.

Giọng bà trong sáng, có vẻ một ngưòi thích vui đùa, yêu đời.

Tiếng nhạc nghe thấy cùng một lúc với mấy tấm kính hắt lờ mờ bóng người qua lại.

Những ánh đèn dấu sâu trong bóng tối, những tiếng đàn trầm làm cho cả cái hành lang dài dường như rung lên và tôi nghe tim mình rộn một nhịp xa lạ.

Vâng, những cuộc vui chơi thế này còn xa lạ đối với tôi. Lọt vào đó, tôi có cảm tưởng ra khỏi giờ ra chơi của mình. Tôi bắt đầu vào một cuộc chơi tôi chưa hề biết luật lệ. Thật tiện khi người ta đã nghĩ ra cách giấu các cuộc chơi như thế trong bóng tối. Ánh sáng tù mù của những ngọn đèn không đủ để nhìn rõ một người nào trong phòng. Nhờ vậy tôi cũng đỡ bối rối. Chúng tôi được đưa đến ngồi quanh một chiếc bàn thấp trong góc phòng. Nữ chủ nhân giới thiệu tôi với các con bà. Họ cũng cỡ tuổi chúng tôi.

Những lời chào hỏi khách sáo lại diễn ra. Sau đó ai về chỗ nấy. Cuộc vui được tổ chức nhân dịp sinh nhật một trong số những người con của chủ nhân và cũng để mừng họ về đây nghỉ hè. Trà. Nuớc ngọt. Rượu nhẹ. Bánh. Trái. Những bài hát êm ái, ngọt ngào trong căn phòng kín, quấn quýt bay vờn trong hương thơm của của son phấn. Đêm lạnh cái lạnh của đêm, cái lạnh của mưa, cái lạnh của những người ngồi một mình, nỗi bơ vơ dịu dàng của một đời sống còn nguyên vẹn, của nỗi vui bừng trong giọt rượu hiếm hoi thấm trên lưỡi chút vị gay gắt.

Khôi hỏi tôi có muốn nhẩy một bài không?

Tôi nói:

– Tôi nhẩy dở lắm.

Khôi kéo tôi đứng dậy, bảo:

– Không sao, chị nhẩy với tôi chứ có với ai đâu mà sợ.

Tôi nhẩy vụng về lúc đầu, nhưng lát sau, chân cũng không còn bị vướng víu nữa.

Tôi nói:

– Đây là lần thứ nhất trong đời tối nhẩy với một người con trai.

Khôi nói:

– Thế thì tôi hân hạnh quá.

Một thanh niên cầm micro hát môt tình khúc quen thuộc, nói đến những nỗi vui buồn của tình.

Tôi chưa biết gì về cả nỗi vui lẫn nỗi buồn đó. Nhưng hình như tôi hiểu đuợc, tôi đoán được, những lời nói dối để nói thật, những lời nói thật để nói dối.

Tôi không tìm thấy thú vui trong cái trò chơi mới này. Tôi bảo Khôi đưa tôi ra ngoài sân một chút cho thoải mái.

Đêm. Trăng chỉ có môt mảnh nhưng cũng đủ tạo một làn ánh sáng mỏng chiếu trên khu vườn. Những ngọn cây rậm rạp như đuợc tráng một lớp dạ quang. Cả khu vườn trông âm u trong một vẻ thướt tha, mềm mại.

Gió thổi từ các cánh rừng thông bên kia hồ đem theo những đám sương trông tưởng như có thể nắm giữ được.

Tiếng nhạc bây giờ, nghe thấy ở sau lưng, đuợc bưng kín bằng những cánh cửa kính, nặng như vọng qua một mặt nước. Bỗng dưng tôi cảm thấy buồn, chân tay rời mỏi. Hình như cho đến lúc này tôi mới mỏi mệt, cái mỏi mệt của chuyến đi. Nhưng sâu xa hơn, hình như tôi vừa nhận ra một vẻ gì đó của cái đời sống tôi vừa muốn gia nhập, từ trong đó, toát ra một sự từ chối. Bản chất tôi không thích hợp với một đời sống như thế, hay quả thật đời sống đã chứa sẵn sự từ chối đối với một số người đó [giống như sư từ chối của cơ thể được ghép tim mà tôi đã đọc trong các báo?].

Và tự nhiên tôi thấy sợ.

Khôi hút thuốc.

Tôi yên lặng nhìn đốm lửa cháy đỏ trong tay anh.

Khôi nhẩy lên ngồi trên thành bức tường thấp ngăn sân với khu vườn.

Tôi cũng ngồi xuống chiếc ghế đu treo bên cạnh.

Tôi đẩy khẽ chiếc đu và nghe thân thể lao đao theo nhịp của hai sợi giây treo đưa đẩy.

Tôi hỏi:

– Khôi có hay dự các buổi họp mặt thế này không?

Khôi cúi xuống nhìn tôi, yên lặng một lúc lát, bảo:

– Chị không thích không khí đó à?

Tôi nói:

– Có lẽ tại tôi bị mệt. Cũng có thể tại tôi không quen với lối sống ấy.

Khôi hỏi:

– Chị có muốn đi quanh một vòng trong vườn không?

Tôi đứng dậy, bảo:

– Đi.

Chúng tôi đi lại mé hiên bên trái, từ đó có những bực thềm dẫn xuống dưới vườn. Đêm, cây cỏ bình yên, xanh cái màu xanh huyền hoặc của trăng sao và sắc lá. Những viên sỏi tròn dưới chân reo lạo xạo. Những đóa hoa nở tung cánh trắng phảng phất thơm. Tôi cũng nghe da thịt gợn lên trong gió rét và tiếng thông reo vi vút lẩn khuất trên lưng chừng cao. Chính lúc đó tôi cũng nhận ra sự ít nói của Khôi. Sự ít nói của một người ở vào tuổi ấy không đáng ngạc nhiên sao?

Tôi nhìn bóng hắn in bên cạnh bóng mình trên lối đi tối khuất dưới những lùm cây và thỉnh thoảng hiện ra rõ ràng dưới bầu trời sáng đục.

Khu vườn rộng, chỉ còn cách mặt hồ bên ngoài một bãi cỏ xanh, những lá cỏ đã ướt  sương. Tôi cũng không biết mình còn muốn tiếp tục đi dạo nữa không. Tôi đi như một cử động tự nhiên. Trăng dường nhập hẳn vào xương tủy làm cho người ngất ngư.

Đến ven hồ, chúng tôi dừng lại.

Tôi thấy Khôi cúi nhặt một hòn đá ném xuống hồ. Mặt nước như một tấm gương xao động hắt lên những tia sáng xanh.

Tôi chẳng còn nghe thấy tiếng nhạc trong nhà vọng ra nữa. Chỉ còn tiếng sóng nước róc rách dưới chân, tiếng gió căng trên mặt nước, tiếng những con cá đớp trăng, và tôi lịm cả người đi trong cái vắng vẻ, mung lung kỳ ảo này.

Trong lúc tôi tưởng như chính mình không thể đứng vững được nữa đó, tôi thấy Khôi nắm lấy hai vai tôi và cúi xuống nhìn thẳng vào mặt tôi.

Trên mô đất, trông hắn lênh khênh như môt chiếc bóng tay chân dài nghều.

Tôi muốn nhìn cho rõ mặt hắn, nhưng hai mắt tôi không thể xua hết đuợc bóng tối. Tôi chỉ nhìn thấy một cái bóng đen nặng trĩu đang cúi sát xuống mặt tôi. Tôi né sang một bên vừa kịp tránh khuôn mặt hắn áp xuống. Mặt Khôi rớt xuống vai tôi và tôi có cảm tưởng như ngàn con sóng dưới mặt hồ đang lùa cả vào dưới chân. Trong giây phút, tôi như bị một tia điện giật, tối tăm mặt mũi.

Tôi gọi:

– Khôi! Khôi!

Tôi vừa van xin vừa dỗ dành hắn. Tôi cũng muốn xóa lấp cái cử chỉ vừa rồi của hắn để nó đừng hiện ra một ý nghĩa nào rõ rệt. Những sợi tóc của Khôi làm gợn một bên má tôi, cái mái tóc “kỳ cục” của hắn. Và, nghĩ ra đuợc hai tiếng kỳ cục đó, tôi biết rằng tôi đã được cứu thoát, tôi đã tỉnh lại và tôi có thể vui đùa với hắn.

Tôi nói:

–  Khôi đưa tôi vào trong nhà đi.

Khôi vẫn giữ chặt hai vai tôi. Hắn ngó thẳng vào hai mắt tôi.

Trong đêm tối, một lần nữa tôi lại có cảm tưởng như cái bóng đen của hắn đè nặng lên tôi.

Khôi hỏi tôi:

– Chưa ai hôn chị bao giờ sao?

Câu hỏi của Khôi làm tôi nóng mặt.

Nhưng tôi chỉ nói một câu nhẹ nhàng:

– Khôi hỏi kỳ quá.

Chúng tôi trở vào nhà, trở lại cái lối đi có những viên sỏi rạo rạo dưới chân. Nghe gió thổi qua khu vườn, tôi có cảm tưởng nó cũng cuốn dùm đi những bóng tối đang phủ kín trong lòng.

Lãm vẫn ngồi ở góc bàn cũ. Nhìn thấy chúng tôi Lãm hỏi:

– Đi đâu mất tiêu vậy?

Tôi nói:

– Ra vườn.

Lãm cười. Nó có vẻ biết rõ Khôi hơn tôi, hẳn thế.

Lãm nói:

– Không sao chứ?

Tôi bảo:

– Không sao.

Chú Quyên chắc ngồi trò chuyện với các chủ nhân ở đâu đó, trở lại bàn hỏi:

– Các cháu đã muốn về chưa?

Lãm nói:

– Cháu muốn ở lại chừng nửa tiếng nữa.

Câu trả lời rành mạch của Lãm làm tôi bâng khuâng. Lúc nào nó cũng nhìn thấy việc làm của nó một cách rõ ràng. Mọi việc đối với nó đều giản dị. Nó biết nó muốn gì. Và nó cũng biết nó không thích cái gì. Riêng tôi, tôi không lẫn lộn hai điều đó, nhưng cả hai chẳng bao giờ hiện đến với tôi một cách dứt khoát cả. Tôi không có một ước muốn nào rõ rệt. Mơ ước đối với tôi giống như một trái cây còn nguyên vỏ, có thể tôi biết bên trong có những gì, nhưng cái biết của tôi chỉ là dự đoán. Phải nhìn thấy tận mắt. Phải tự tay bóc vỏ. Phải được nếm mùi vị cái “trái đời” gay gắt đó. Nhưng cơ hội của tôi chưa đến. Trái chưa đủ chín. Có phải mỗi đời người chỉ là những cơ hội của người đó? Cơ hội xấu và tốt, may mắn và rủi ro. Và còn những gì nữa?

Tôi không nhẩy với Khôi nữa. Tôi nhẩy với chú Quyên một bài mặc dầu tôi không thich. Nhưng có sao đâu. Tôi vẫn có thể vui chơi cái trò chơi kỳ quặc này. Trong lúc nhẩy, chú Quyên hỏi tôi về việc học hành, về những mơ ước mai sau, về khí hậu Đà Lạt, về dự định của tôi sẽ ở lại Đà Lạt chơi trong bao lâu. Chú nói chuyện với tôi như với một người lớn. Tôi biết chú không biết cách nói chuyện với trẻ con vì chú không có con.

Tiếng nói của chú có một vẻ lạnh lẽo khác với tiếng nói tôi đã nghe thấy lúc buổi chiều. Hình như bề ngoài của chú chỉ là cái vỏ. Tôi nhớ đến một mẩu chuyện đã đọc được đâu đó, nói về một nhạc sĩ hồ cầm. Ông đã gần bẩy chục và vừa cưới một cô vợ trẻi. Ký giả có người đùa nghịch hỏi thăm về mái tóc bạc của ông. Ông ta bảo: “Đừng thấy mái nhà phủ tuyết mà tưởng ở bên trong không có lò sưởi”. Chuyện nhớ lại làm tôi buồn cười.

Chú Quyên hỏi:

– Cô cười gì thế?

Tôi nói:

– Cháu vừa nghĩ có lẽ chú ở Đà Lạt lâu quá nên cái lạnh đã thấm cả vào tiếng nói của chú.

Ông cười, bảo:

– Ấy là tôi đã mỗi ngày phải sưởi lại nó bằng vài ly rượu mạnh rồi đó.

Tôi nói:

– Cháu cũng thấy chú hình như mỗi lúc một đổi khác.

Chú Quyên bảo:

– Thế hả ? Rồi cô sẽ biết thêm một điều này nữa: tuổi tác dạy người ta cách đổi màu như kỳ nhông vậy.

Sau buổi dạ vũ, về nhà, chú Quyên còn rót mời chúng tôi, mỗi đứa một ly rượu nhỏ nữa trước khi đi ngủ. Khôi ngồi thụt đầu trong trong chiếc ghế bành của hắn, như thói quen, nhắm mắt không nói gì.

Chú Quyên hỏi Lãm có vui lúc buổi tối không?

Lãm nói, cháu nhẩy lu bù và bây giờ cháu buồn ngủ quá.

Trông ông chững chạc, bề thế, rõ ra một người giầu có. Nhưng không biết có phải vì tưởng tượng mà tôi vẫn thấy quanh ông một sự lạnh lẽo, trơ trọi của một người thiếu thốn một cái gì đó, tuổi già, một người bạn đời đã chết.

Một ngưòi bạn đời chết đi, điều đó có thể khiến người ta trở thành kẻ mất bóng hay luôn mang trên mình cái bóng của người đã mất? Có một sự gì đó không ổn đối với một người góa thật.

Khuya trở về phòng, thay quần áo xong, đứng bên cửa sổ nhìn xuống xuống khu vườn, trông ra mặt hồ trắng ngần sương khói và ánh trăng, tự nhiên tôi lại thấy buồn. Trở vào giường nằm, tôi nghĩ đến Khôi và vụ thoát hiểm vừa rồi, lòng áy náy, nhưng sự mệt nhọc suốt từ sáng giúp tôi ngủ một giấc không mộng mị tới sáng.

(Còn tiếp – Chương 3)

Share this post