Gươm Thiêng Trấn Quốc (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 23

Gươm Thiêng Trấn Quốc (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 23

GƯƠM THIÊNG TRẤN QUỐC
* Tiểu Thuyết Dã Sử – UYÊN THAO
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2005

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

Hồi Kết:
TRĂM NĂM CÒN LẠI…?

Bóng những hàng cờ ngũ sắc khắp đại doanh thành Đằng Châu in dài trên nền sân rộng.

Nắng chiều nhạt dần chuyển thành màu lụa bạch.

Những đợt gió cuối thu thấm hơi lạnh heo may khiến viên vệ tướng già rùng mình áp cây dáo sát vai.

Sứ quân Phạm Phòng Át bắt gặp cử chỉ đó của người thủ hạ. Cặp mắt bén như dao của ông bỗng dịu hẳn trong cái nhìn thương cảm. Những nếp nhăn ngang dọc trên khuôn mặt xạm đen của lão tỏa ra sức hút dị kỳ khiến vị sứ quân nắm chặt hai bàn tay đang đặt trên thành kỷ tựa hồ cố nén một cơn xúc động.

Gió chiều từng đợt tiếp tục lay nhẹ những hàng cờ. Lẫn trong hơi gió chốc chốc nổi lên âm vang của những hồi trống vẳng lại từ xa.

Phạm sứ quân lặng lẽ đứng lên, nhấc thanh gươm đặt nằm ngang trên mặt án, khẽ kéo ra khỏi vỏ. Lưỡi thép loé sáng phả lên mặt ông một làn hơi lạnh. Một tay nắm vỏ gươm, tay kia cầm ngang thanh gươm trần, Phạm sứ quân chậm chạp bước ra thềm đại sảnh. Viên vệ tướng ép cây dáo dài sát bên sườn, lặng lẽ bước theo.

Trước tiền môn đại doanh, toán vệ binh đứng dàn như một hàng tượng đá. Những ngọn dáo dài với bông ngù đỏ thắm loé sáng dữ dội dưới ánh nắng chiều.

Phạm sứ quân chuyển cái nhìn từ tiền môn về ngọn cờ dựng giữa nền sân đại sảnh.

Lá cờ lớn hình vuông viền vây rồng nhọn hoắt đang bay phần phật. Màu cờ đen đã bạc với hàng chữ vàng ở chính giữa cũng gần đổi thành màu trắng. Nhưng trước mắt Phạm sứ quân, lá cờ vẫn hiện ra chói lọi với màu chữ vàng nổi bật trên nền đen dữ dằn giữa lớp viền đỏ rực. Trong khoảnh khắc, ông bỗng thấy mình đang đứng trước đoàn nghĩa binh khí giới tuốt trần, đối diện cùng Trần Lãm. Nét mặt Trần Lãm căng thẳng khi đặt chiếc cán cờ vào tay ông.

Không đầy một tháng sau, ngọn cờ vươn cao trên kỳ đài phía nam thành Đại La giữa những hồi trống trận dồn dập trong cơn mưa tên của các cung thủ Nam Hán.

Phạm sứ quân ngỡ như còn nghe rõ tiếng rít của từng lằn tên nhắm thẳng vào ông đang phơi mình trên kỳ đài và liên tục nhắc mình:

– Phải dựng cờ cho thật thẳng.

Một tay nắm chắc cán cờ, ông xoay nghiêng người về phía địch quân, vung tít lưỡi gươm cố bứt ngang những lằn tên cuồng loạn bay tới.

Thời gian như dài hàng ngàn năm, rồi toàn thân ông chấn động do một va chạm trên vai. Lá cờ nghiêng theo đà chúi người của ông về phía trước cùng lúc tiếng những lằn tên lại rít lên. Một chân ông khuỵu xuống khiến cánh tay gươm chậm lại. Ông chỉ kịp thốt lên hai tiếng:

– Hỏng rồi!

Nhưng một tấm khiên thình lình dựng lên chắn ngang phía trước. Tiếp liền, một bàn tay níu lấy cán cờ.

Lập tức ngọn cờ vươn thẳng lại và ông thấy mình đã đứng sau một hàng khiên dầy đặc trong tiếng hò reo như sấm dậy khắp bờ thành.

Quên hẳn mũi tên đang cắm ngập trên vai, ông bước lên kỳ đài giơ cao gươm lệnh. Từng đợt sóng người dồn dập xô lên và một khoảnh khắc sau, suốt mặt nam thành Đại La đã sạch bóng quân thù.

Từ đỉnh kỳ đài, ngắm đại quân ào vào thành như thác lũ, ông nghe thấy lá cờ cũng đang cất tiếng hò reo. Từ đó, lá cờ đen trở thành hiệu kỳ riêng của ông và luôn khiến nổi lên những tiếng la ngưỡng mộ mỗi khi xuất hiện:

– Tướng quân Phạm Bạch Hổ đó!

Phạm sứ quân quay lại nhìn viên vệ tướng đang đứng sau lưng. Ông nói:

– Mỗi lần nhìn lá cờ, ta lại nhớ sự xuất hiện kịp lúc của ngươi tại bờ nam thành Đại La.

Viên vệ tướng già khẽ chớp mắt, trong lúc vị sứ quân nói tiếp:

– Lần đó và cả lần bắt sống Hoằng Thao tại Bạch Đằng, ngươi đều cứu mạng ta.

Lão nắm chặt tay vào cán dáo, cúi đầu:

– Thuộc hạ đâu còn toàn mạng để dự mấy trận đó, nếu không có đường gươm cứu tử của sứ quân trong trận Tây Phù Liệt.

Như muốn tránh nhắc chuyện xưa, lão đổi giọng:

– Bẩm, chư tướng đã chuẩn bị sẵn sàng, đang chờ lệnh của sứ quân.

Phạm sứ quân vẫn chăm chú nhìn những nếp nhăn trên mặt người thủ hạ, hỏi:

– Ngươi còn nhớ đã ở bên ta từ lúc nào không?

Lão có vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn cung kính đáp:

– Bẩm, ngay từ ngày đầu thuộc hạ gia nhập nghĩa binh cuối năm Canh Dần. Hồi đó sứ quân chưa tới tuổi ba mươi.

Phạm sứ quân khẽ gật đầu:

– Mới đó mà hơn ba chục năm rồi. Cả ta lẫn ngươi lúc này đều đã ngoài sáu chục. Nhưng, có khi nào ngươi tưởng tượng ra cảnh chính ngươi sẽ múa dáo cố giết ta không?

Toàn thân viên vệ tướng run lên. Lão hoảng hốt tới mức nghẹn giọng:

– Dạ, bẩm… bẩm sứ quân…!

Phạm sứ quân chậm rãi bước lại gần, đặt một bàn tay lên vai người thủ hạ:

– Ta biết ngươi không bao giờ tưởng tượng nổi cảnh đó. Ngươi đã đứng bên ta dưới bóng cờ của tướng công Dương Diên Nghệ để khôi phục giang sơn. Ngươi lại đứng bên ta dưới bóng cờ của tiên vương Ngô Quyền để đuổi quân xâm lược. Từ khi có sự biến Dương Tam Kha tới nay, ròng rã hơn hai mươi năm trong cảnh đất nước phân chia thành mười hai sứ, ngươi vẫn từng ngày đứng bên ta tại đất Đằng Châu này. Sinh mạng của ta và ngươi đã trao gửi cho nhau từng giây phút thì sao có thể nghĩ tới chuyện ta và ngươi sẽ đâm chém lẫn nhau.

Viên vệ tướng bậm chặt môi cố ngăn những dòng nước mắt. Giọng Phạm sứ quân khác hẳn bình thường khiến lão ngỡ như ông đang sắp khóc.

Đột nhiên ông hỏi:

– Ngươi còn nhớ sứ quân Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu chứ?

Lão ngơ ngác nhìn chủ tướng, đáp lời dè dặt:

– Bẩm, thuộc hạ còn nhớ! Thuở đó, ông ấy vẫn thường tìm gặp sứ quân.

Phạm sứ quân khẽ gật đầu nói như kể chuyện:

– Trước khi theo phò Dương tướng công, ta là nghĩa đệ của Trần Lãm. Hơn sáu năm kể từ buổi mở đầu cuộc chiến giành lại thành Đại La cho tới lúc kết thúc trận Bạch Đằng Giang, ta và ông ấy luôn sát cánh bên nhau. Sau đó, Tiên Vương muốn ông ấy trấn giữ Bố Hải Khẩu còn ta được giao trách nhiệm bảo vệ đất Đằng Châu này và không còn cơ hội gặp lại nhau do tình trạng ly tan của xứ sở. Dù vậy, ta luôn nhớ tới người nghĩa huynh thuở nào và ngươi đã biết rõ điều này.

Viên vệ tướng khẽ đáp:

– Dạ!

Ánh mắt Phạm sứ quân chợt sáng lên chiếu cái nhìn thẳng như lằn tên vào mặt lão:

– Vậy, ngươi nghĩ sao khi muốn ta nghe theo chư tướng xua binh tấn công Bố Hải Khẩu là đất của Trần Lãm, nghĩa huynh của ta? Chuyện đó có khác gì chính ngươi cầm dáo giết ta!

Viên vệ tướng chợt nhận ra mạch suy tư của chủ tướng. Lão nói:

– Dạ… bẩm, nhưng Trần sứ quân đã khuất núi và Bố Hải Khẩu lúc này đang thuộc quyền động chủ Hoa Lư.

Phạm sứ quân nghiêm giọng:

– Dù Bố Hải Khẩu thuộc về người khác thì ta có cần phải gây ra một cuộc chiến không?

Không còn lúng túng trước ánh mắt như bốc lửa của vị sứ quân, lão lên tiếng:

– Bẩm, nếu chỉ ngồi yên tại Đằng Châu này, sứ quân không thể tóm thâu thiên hạ để dựng nghiệp đế vương. Thuộc hạ thấy cũng như chư tướng thấy rằng tiến chiếm Bố Hải Khẩu là bước đầu cần thiết để sứ quân mở ra một triều đại mới, nhất là trong cơ hội ngàn năm một thuở như lúc này.

Tiếp tục nhìn người thủ hạ, Phạm sứ quân hỏi:

– Cơ hội đó ra sao?

Giọng lão vệ tướng sôi nổi hơn:

–  Bẩm, toàn bộ tinh binh Bố Hải Khẩu hiện đang theo động chủ Hoa Lư tiến sâu vào Man Động. Lực lượng lưu lại giữ nhà bất quá không hơn một ngàn quân lão nhược. Với uy võ của sứ quân và tinh thần phụ tử chi binh của Đằng Châu ta, lực lượng đó khác nào trái trứng trước một tảng đá xanh. Thuộc hạ tin chắc không quá nửa tuần trăng, trọn vùng đất từ bờ bắc Thanh Quyết trở ra đã nằm trong tay ta. Khi đó, động chủ Hoa Lư có dẹp tan Man Động cũng hết đường trở lui và lâm cảnh tứ bề thụ địch ngay giữa vùng đất lạ đầy sơn lam chướng khí thì dù là thần nhân cũng khó tránh bại vong. Ta chỉ cần vươn tay dài hơn chút nữa, bờ cõi Đằng Châu sẽ mở rộng tới chân đèo Ba Dội, và cái thế vô địch của ta so với mọi vị sứ quân khác đã trở nên rõ ràng. Vì thế, thuộc hạ nghĩ không còn cơ may nào lớn hơn lúc này để mở cuộc nam chinh.

Một nụ cười lặng lẽ nở trên môi vị sứ quân.

Ánh mắt ông dịu xuống, nhưng ông tiếp tục hỏi:

– Ngươi thấy sao khi ta cho rằng không cần phải gây ra một cuộc chiến?

Giọng lão đanh lại:

– Bẩm, việc đó không cần với thuộc hạ nhưng rất cần với sứ quân.

– Tại sao?

– Thuộc hạ vốn là đứa ngu si nơi đồng ruộng may được kề cận bên sứ quân hơn ba mươi năm thì tâm nguyện bình sinh đã thỏa. Nhưng sứ quân không thể ngồi mãi ở đất Đằng Châu này nhìn ngày tháng trôi qua. Chỗ của sứ quân phải là kinh đô Cổ Loa để uy đức tưới nhuần khắp bốn cõi cho trăm họ cùng chung hưởng ơn phúc. Chính do mong mỏi đó mà mấy ngày nay, chư tướng nài xin sứ quân xuống lệnh nam chinh. Sứ quân không thể chôn vùi tài đức của mình trong lúc trăm họ khao khát mong chờ một vị chân chúa.

Vị sứ quân khẽ lắc đầu khi lão ngừng nói. Ông chậm rãi lên tiếng:

– Ta thấy con người luôn có mặt rồi tan đi cùng tất cả sự sáng suốt cũng như lầm lẫn của mình. Chỉ tiếc là dường như người ta thường lầm lẫn nhiều hơn, cho nên cuộc đời lúc nào cũng đầy rẫy đau đớn tang thương. Gần như mọi con người đều hăm hở cố đoạt lấy những mưu cầu, nhưng rút cục tất cả sẽ còn lại gì? Ngươi có thể nói cho ta nghe về những thứ còn lại ấy không?

Lão vệ tướng cúi đầu im lặng trước câu hỏi của chủ tướng vì đó là câu hỏi mà trọn đời lão không hề đặt ra. Vẫn nhìn lão bằng ánh mắt nặng trĩu u hoài, Phạm sứ quân tiếp:

– Giả dụ những điều ngươi và chư tướng mong mỏi cho ta đều thành sự thực thì chính ta sẽ giữ được gì khi nằm xuống? Ngươi có thể nhìn thấy là ta chẳng giữ được gì kể ngay cả nắm xương tàn của mình. Tất cả rồi sẽ thành cát bụi. Ngôi vị hoàng đế hay hào quang của những võ công hiển hách chỉ là những màu sắc do con người tìm ra để tô vẽ cho nhau và tô vẽ cho bản thân. Những màu sắc đó có đáng kể gì khi chính thân xác con người bắt buộc phải trở thành cát bụi! Tiếc thay trong cơn đam mê vẻ ngoài phù phiếm, con người đã không kịp nghĩ tới cái giá phải trả cho những mưu cầu. Ngươi vừa nhắc tới uy võ của ta. Vậy ngươi còn nhớ đã có bao nhiêu đồng đội của chúng ta ngã xuống để tạo nên cái hào quang thượng tướng cho ta chăng?

Ông ngắt ngang câu nói bằng một hơi thở dài. Viên vệ tướng ngước nhìn lên, giọng chắc nịch:

– Thuộc hạ trộm nghĩ mọi người chỉ làm theo bổn phận, còn uy võ của sứ quân là do chính tài đức riêng của sứ quân chứ đâu phải do xương máu của đồng đội.

Phạm sứ quân vỗ nhẹ lên vai lão:

– Đúng là ta có dự phần vào việc tạo nên uy võ của ta, nhưng trên đời này mọi người đều phải nương cậy lẫn nhau. Nếu không có ta thì người đã bỏ mạng tại Tây Phù Liệt. Ngược lại, không có ngươi thì ta đã chết tới hai lần trên thành Đại La và trên sông Bạch Đằng. Nhưng ta không muốn nói tới mối tương quan này khi nhắc về những đồng đội đã nằm xuống. Thực ra, ta chỉ muốn nhắc tới cái uy võ của ta vốn chỉ là một ảo ảnh phù du nhưng đã phải tạo nên bằng không ít xương máu và đau thương.

Ông nói tiếp chậm rãi từng lời:

– Những mưu cầu lầm lẫn đã biến con người thành đam mê mù quáng, miệt mài hành hạ chính mình và hành hạ người khác. Cuộc đời đâu cần phải có những bậc chân chúa hay những đế vương, danh tướng. Ngươi không thấy điều đó sao?

Thấy lão ngơ ngác nhìn mình, ông tiếp:

– Ngươi vừa nói trăm họ đang cần một vị chân chúa và ngươi cùng chư tướng đã nghĩ ta chính là vị chân chúa đó. Cho nên, mọi người mới mong ta động binh đánh dẹp Đinh Bộ Lĩnh rồi sau đó đánh dẹp các sứ quân khác. Nhưng thực ra trăm họ đâu có cần một vị chân chúa nào để dẫn dắt họ xây nên các vĩ nghiệp bằng những cuộc chém giết trong đó chính họ sẽ là người trước tiên phải dâng hiến máu xương. Điều cần thực sự của trăm họ là cuộc sống thanh bình và no ấm.

Viên vệ tướng bật la lên:

– Bẩm sứ quân, nhưng…

Phạm sứ quân giơ tay cắt lời lão và nói:

– Ta hiểu ý ngươi. Ngươi đã nhìn nhận trăm họ cần cuộc sống thanh bình, no ấm nhưng lại cho rằng chỉ một vị chân chúa mới mang lại nổi điều đó và vị chân chúa đó là ta. Lúc này tại Đỗ Động Giang, chắc Đỗ Cảnh Thạc cũng đang nghĩ mình là chân chúa, và anh em Nguyễn Thủ Tiệp tại Bắc Ngạn hoặc thậm chí kẻ như Lã Đường cũng không nghĩ khác. Thực ra, bọn họ cũng như các ngươi đều ảo tưởng về cuộc đời và ảo tưởng về bản thân mình. Suy xét kỹ hơn, ngươi sẽ thấy hạnh phúc luôn có sẵn trong cuộc sống chứ không phải tặng vật để kẻ này trao cho kẻ khác. Muốn có hạnh phúc, mỗi người phải tự tạo cho mình trong sự nương cậy lẫn nhau chứ không thể chờ ai ban phát. Ngỡ mình có thể ban phát hạnh phúc cho trăm họ là ảo tưởng về bản thân và sẽ trở thành kẻ tàn phá hạnh phúc của trăm họ khi đắm đuối chạy theo giấc mơ điên cuồng đó.

Lão chống thẳng cây dáo cúi đầu trong khi giọng Phạm sứ quân đều đều vang lên:

– Ngươi vừa nói cần tưới nhuần tài đức của ta khắp bốn cõi cho trăm họ cùng chung hưởng ơn phúc. Nhưng mở đầu cho cái việc tưới nhuần đó là gì? Đó là cuộc nam chinh xâm chiếm Bố Hải Khẩu và sau đó là cuộc chiến kéo dài đánh dẹp các sứ quân. Ta không hiểu cái ơn phúc mà ta có thể đem lại cho trăm họ là gì trong cảnh máu lửa triền miên đó.

Viên vệ tướng khẽ lắc đầu. Lão lên tiếng:

– Bẩm, muốn có cơm ăn thì phải lo phá rừng vỡ đất rồi đổ sức gieo trồng. Cảnh gian nguy trong binh lửa của mọi người chẳng qua là gánh nặng phải xan xẻ trên đường đi tới cuộc sống yên lành, tương tự trước đây mọi người đã xan xẻ trong cuộc chiến đánh đuổi kẻ thù phương bắc.

Phạm sứ quân mỉm cười trước lời biện bác của người lính già. Ông nói:

– Ngay lúc này, ta vẫn sẵn sàng làm lại những gì đã làm hơn ba chục năm qua. Nhưng ta mong ngươi cân nhắc kỹ hơn khi đứng trước những sự việc tưởng chừng hoàn toàn tương hợp. Thuở xưa các ngươi chiến đấu theo lệnh của ta, nhưng không vì bổn phận đối với ta. Lúc đó trăm họ sẵn sàng chia xẻ mọi khó nguy cũng không vì bổn phận đối với Dương tướng công hay với tiên vương Ngô Quyền. Tất cả đều cố làm tròn bổn phận gìn giữ giang sơn trong một thời thế không còn cách làm nào khác hơn. Đó là cuộc tụ hội để bảo vệ cuộc sống của giống nòi và để không biến mình thành tôi đòi cho ai, dù đó là một thần nhân. Nhưng lúc này thì không phải thế. Dù ngươi tôn xưng ta là gì chăng nữa, sự việc xẩy ra cũng vẫn nằm trong mưu cầu vương bá của cá nhân ta. Ngươi nên nhớ không cá nhân nào được coi mạng sống trăm họ nhẹ hơn sự nghiệp của riêng mình dù đó là một sự nghiệp cực kỳ vĩ đại. Cho nên, biện bạch như ngươi trong hoàn cảnh hiện nay chính là những lời xảo trá do vô tình hay cố ý che lấp dã tâm của mình bằng sự đổi trắng thay đen.

Ông khẽ lắc đầu nói tiếp:

– Từ khi về đất Đằng Châu này, ta vẫn không quên câu chuyện mà ta có dịp biết khi lánh nạn tới Hoa Lư. Đó là câu chuyện về thanh kiếm thần mà ngươi có thể đã nghe nhắc tới. Một gia đình nghĩa khí trùm đời đang sống trong an vui bỗng vì ý thức bổn phận mà trở thành tan nát thê lương. Nhưng nỗi đau không phải vì trọn gia đình đã chết thảm dưới gươm đao mà vì đã sẵn sàng chết thảm dưới gươm đao do quyết tâm bảo vệ một thanh kiếm giả.

Giọng ông đột nhiên chìm hẳn xuống khiến lão lắng nghe một cách khó khăn:

– Lẽ chân giả trên đời quả thật khôn lường. Không phải chỉ dì Lê là nạn nhân của vàng thau lẫn lộn mà ngay cả kẻ cầm gươm như Trần Lãm và ta cũng bị đui mù. Dù sao thì ta cũng may mắn nhận được một lời chỉ dẫn là hãy tỉnh táo nhìn ngược lại chính con tim mình.

Viên vệ tướng không hiểu Phạm sứ quân nói gì nhưng không dám lên tiếng. Thấy ông im lặng hồi lâu, lão e dè  nói:

–  Thuộc hạ sợ Đinh Bộ Lĩnh không nghĩ như sứ quân, nên dù ta có muốn cũng không tránh nổi cảnh binh lửa cho mọi người.

Phạm sứ quân gật đầu:

– Ngươi nói không sai.Ý đồ thống nhất sơn hà của Đinh Bộ Lĩnh hiện ra từ hơn một năm nay khi y tiến binh chinh phạt Hoan – Ái rồi lúc này lo bình định Man Động. Rõ ràng y đang củng cố thế đứng để tiến binh về phiá bắc mà đích nhắm đầu tiên của y bắt buộc phải là Đằng Châu.

Viên vệ tướng nói như la lớn:

– Vậy thì… bẩm sứ quân, sao ta không nhân cơ hội này ra tay trước?

Phạm sứ quân nói:

– Ta không tin việc nam chinh lúc này dễ dàng. Đinh Bộ Lĩnh không thấp trí tới mức quên rằng ta hoặc Đỗ Cảnh Thạc đều có thể tiến binh tới Bố Hải Khẩu bất kỳ lúc nào. Cho nên, trước đây Đinh Bộ Lĩnh dùng tinh binh Bố Hải Khẩu quen với đồng bằng để tấn công Hoan – Ái thì lúc này y sẽ chỉ dùng tinh binh Hoa Lư vốn quen núi rừng để bình định Man Động. Bố Hải Khẩu không hề bỏ trống như ngươi và chư tướng nghĩ.

Bắt gặp ánh mắt bất ngờ nhìn lên của viên vệ tướng già, ông mỉm cười:

– Ngươi đừng vội nghĩ ta nhụt chí trước khó khăn. Thực ra, suốt mấy chục năm nay quân Đằng Châu chưa hề lùi bước trước bất kỳ kẻ địch nào thì dù có chạm mặt tinh binh Bố Hải Khẩu cũng chưa hẳn là điều đáng ngại. Ta nói thế chỉ để các ngươi không nhìn sai thực tế và cũng muốn nhắc lại câu hỏi của ta: Tại sao lại phải lao vào một cuộc chém giết như thế?

Lão trả lời một cách dứt khoát:

– Bẩm, chính sứ quân đã thấy là Đinh Bộ Lĩnh không chịu để cho chúng ta ở yên.

Vị sứ quân nói:

– Yên hay không là do chính ta chứ không do kẻ khác ban cho.

Viên vệ tướng ngơ ngác nhìn trong lúc ông cắn nhẹ vành môi nhìn ra ngoài sân đại doanh. Bóng tối bắt đầu buông xuống xoá nhòa dần lá cờ đen vẫn đang phần phật tung bay. Hồi lâu sau, lão lên tiếng:

– Thuộc hạ không thể hiểu nổi ngụ ý của sứ quân?

Phạm sứ quân trả lời viên vệ tướng già nhưng như đang nói với chính mình:

– Khi để cho những mưu cầu do tư ý thôi thúc chắc hẳn khó yên.

Lão không giấu nổi băn khoăn:

– Lúc này thuộc hạ chỉ thấy nếu không sẵn sàng chiến đấu thì ngay mạng sống của chúng ta cũng không còn khi mà một kẻ như Đinh Bộ Lĩnh dẫn quân tới đây.

Phạm sứ quân hỏi:

– Ngươi nghĩ về Đinh Bộ Lĩnh như thế nào?

Lão vệ tướng nói:

– Y là một kẻ hèn mọn ở đất Hoa Lư, nhờ lòng tin của sứ quân Trần Minh Công trở thành người thừa kế binh quyền tại Bố Hải Khẩu nên sẽ không thể xử sự theo cung cách của một chính nhân khoan hòa độ lượng.

Phạm sứ quân nói:

– Ta e là ngươi nghĩ sai về Đinh Bộ Lĩnh, dù quả thực y xuất thân hèn kém ở đất Hoa Lư. Riêng ta đã gặp y khi y có tên là Đinh Hoàn và chỉ là một đứa bé chăn trâu. Nhưng trong mắt ta từ ngày ấy, y đã không giống mọi đứa trẻ khác. Ta càng trọng y hơn vì y chỉ chịu đến Bố Hải Khẩu sau khi đã tự tạo cho mình địa vị động chủ Hoa Lư, dù y có thể đến Bố Hải Khẩu bất kỳ lúc nào và trong bất kỳ tư thế nào cũng được.

Ông ngưng lại trầm ngâm, đoạn tiếp:

– Nhưng… không phải vì y là một kẻ có tài mà ta ngại đương đầu với y…

Ông bỏ lửng câu nói, ánh mắt trở nên xa vắng. Vẫn đứng đối diện với người thủ hạ nhưng ông không còn nhìn thấy lão. Bên tai ông vẳng lên một giọng nói nghẹn ngào đứt quãng và ông thấy đứng trước ông lúc này là một người con gái mảnh mai đầm đìa nước mắt. Người con gái cắn chặt vành môi như cố nén một tiếng nấc trong khi nói với ông:

– …Bất kỳ lúc nào có dịp, xin Phạm huynh hãy lo cho bé Hoàn.

Tiếng trống điểm canh chợt gióng lên dõng dạc. Không khí im lìm bao phủ toàn thành Đằng Châu lập tức vụn vỡ theo những hồi trống lệnh vang dội từ khắp các doanh trại.

Phạm sứ quân như sực tỉnh. Ông rời thềm đại sảnh chậm rãi bước vào phía trong. Viên vệ tướng lặng lẽ bước theo, cán dáo áp sát vai. Ngồi xuống sau án thư, Phạm sứ quân nhìn lão một hồi rồi nói:

– Không bao lâu nữa, Đinh Bộ Lĩnh sẽ vượt sông Hải Triều tiến tới đây. Lúc đó, ta sẽ ban lệnh rõ ràng cho chư tướng. Mọi thỉnh cầu hiện nay của chư tướng ta không chấp thuận.

Ông hạ giọng:

– Riêng với ngươi, ta sẽ nói rõ một điều. Ngươi có thể ngạc nhiên và khó nén nổi bất bình. Nhưng trước hết, ngươi cần giữ kín và hãy cố chia xẻ ý nghĩ của ta.

Viên vệ tướng lắng nghe trong lúc giọng Phạm sứ quân trầm xuống hơn nữa:

– Vào lúc Đinh Bộ Lĩnh dẫn quân tới Đằng Châu, ta sẽ lệnh cho chư tướng và ba quân bó gươm xếp giáp, tề chỉnh tại doanh trại.

Cây dáo trong tay người thủ hạ run lên theo từng lời gằn chậm của Phạm sứ quân. Lão kinh hoàng trợn mắt nhìn chủ tướng. Trời đang cuối thu nhưng mồ hôi tuôn tràn trên mặt lão. Một hồi sau, lão mới thốt lên được hai tiếng, giọng đầy đau đớn:

– Sứ quân!

Ánh mắt lão nhìn sững vào gương mặt trầm lắng của Phạm sứ quân. Ông vẫn tì hai tay trên mặt án thư nhìn người bạn đồng đội cùng trải mọi hiểm nguy sinh tử trên ba chục năm qua. Giọng người lính già mỗi lúc một thêm khích động. Lão nói liền một hơi dài:

– Bẩm sứ quân, vậy là ta đầu hàng sao? Sĩ tốt Đằng Châu có khi nào phải hạ mình như thế? Sức mạnh của ta đủ đánh bại mọi kẻ thù, sao sứ quân nỡ bắt ba quân bó tay trước khi xung trận? Rồi sứ quân sẽ còn gì sau hơn ba mươi năm lăn mình trên khắp các chiến trường? Xin sứ quân xét lại!

Bàn tay lão rời cán dáo đưa ra phía trước run run phác họa một cử chỉ nài xin. Nước mắt chảy tràn trên má, lão cố kìm một tiếng nấc trong khi nói:

– Tướng sĩ Đằng Châu luôn tâm nguyện dù chỉ còn một người đứng vững cũng quyết đánh gục mọi kẻ thù để mở đường cho sứ quân. Suốt mấy mươi năm qua, quân Đằng Châu chưa một lần thất bại trước bất cứ ai. Xin sứ quân nghe theo chư tướng ban lệnh nam chinh. Thuộc hạ sẵn sàng đặt đầu mình trước án thư này để bảo đảm với sứ quân là ta sẽ san bằng Bố Hải Khẩu và tiến thẳng tới Hoa Lư chỉ trong một con trăng.

Phạm sứ quân cầm lấy bàn tay đang run rẩy của người lính già. Ông nói:

– Ta không khi nào quên tấm lòng của ba quân tướng sĩ. Ta cũng biết rất rõ tinh thần và sức mạnh của sĩ tốt Đằng Châu. Nhưng ta đã nói với ngươi là không thể đuổi theo những ảo tưởng phù du bằng cái giá phải trả là xương máu của mọi người. Một người lính Đằng Châu hay một người lính Hoa Lư ngã xuống lúc này đều là một mũi dáo đâm vào giữa tim ta cũng như đâm vào giữa trái tim của mọi người. Ta không còn đủ sức chịu đựng nỗi đau đớn đó. Vả lại…

Ông xiết thêm chặt bàn tay người lính già, nói thật chậm:

– …ta cho rằng bổn phận của ta lúc này là phải hỗ trợ cho Đinh Bộ Lĩnh hoàn thành mau chóng việc thống nhất giang sơn. Trong số các sứ quân hiện nay chỉ một mình Đinh Bộ Lĩnh nhận lãnh sứ mạng đó. Vào lúc mọi người lo thụ hưởng quyền vị, khư khư bảo vệ lợi lộc cho riêng mình, quên bẵng tình trạng đất nước phân ly thì Đinh Bộ Lĩnh ngày đêm gian khổ cố đem xã tắc về một mối. Y đang làm cái việc mà hơn ba mươi năm trước chúng ta đã làm khi ứng nghĩa dưới cờ của Dương tướng công là thực hiện bổn phận giữ gìn sự sống cho đất nước. Như vậy làm sao ta có thể ngăn chống y chỉ vì sợ mất những gì mà bản thân ta đang có. Theo đuổi những mưu cầu riêng tư để cản trở việc tạo điều kiện xây dựng cuộc sống tốt lành cho trăm họ thì dù có được tôn là hào kiệt, anh hùng cũng chỉ là một bầy giặc cướp man rợ mà thôi. Ngươi với ta đã như hình với bóng gần trọn một đời, ta mong ngươi hiểu rằng ta không vì run sợ mà đưa ra quyết định trên.

Nhìn những dòng nước mắt chảy dài trên má người lính già, Phạm sứ quân tiếp:

– Ngươi cần hiểu là khi thực hành nghiêm chỉnh hiệu lệnh của ta, sĩ tốt Đằng Châu đã tạo thêm một võ công tiếp nối cái chuỗi dài võ công từng có bấy nay. Chúng ta bó gươm xếp giáp không do yếu hèn cúi đầu tìm cái sống trong sự ban ơn của kẻ địch. Thực ra, ngay lúc này ta có thể chiếm Bố Hải Khẩu và đánh tan quân Hoa Lư như chư tướng đã nghĩ. Còn để mặc cho Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên các Man Động rồi hội quân tiến đánh Đằng Châu, binh lực của ta vẫn dư sức không cho phép y đặt chân lên bờ bắc sông Hải Triều. Nhưng ta cần phải đi trọn con đường bổn phận đối với đất nước và đồng bào mà chúng ta đã đặt chân lên từ hơn ba mươi năm trước bằng nỗ lực vượt qua một trận đánh khó khăn nhất là đạp bằng mọi mưu cầu riêng tư của chính bản thân. Đã có một đoàn quân nào trên đất Giao Châu này dám chấp nhận trận đánh đó chưa? Kẻ địch của chúng ta trong trận đánh này hoàn toàn vô hình và có sức mạnh ghê hồn. Đó là những tự hào, những nuối tiếc, những mưu cầu, rồi là những cảm giác tủi hổ, đau đớn vì hành vi tự động bó tay trước binh lực Hoa Lư. Chúng ta phải vượt qua tất cả những thứ khủng khiếp đó để bảo toàn uy danh bất bại trước mọi kẻ thù của sĩ tốt Đằng Châu.

Người lính già không tìm được lời biện bác nào nhưng lão nói trong tiếng nấc:

– Sĩ tốt Đằng Châu trên dưới một lòng quyết nhận cái chết để phò tá sứ quân làm sao chịu nổi nỗi đau thấy sứ quân buông cơ đồ vào tay kẻ khác!

Vẫn nắm bàn tay lão, Phạm sứ quân nói:

– Ta có mất mát điều gì đâu khi làm như thế?

Lão lắc đầu:

– Không, sứ quân sẽ không còn lại gì, vì Đinh Bộ Lĩnh đâu có chịu để cho sứ quân ngồi nguyên vị như thế này tại Đằng Châu!

Nhìn như hút vào cặp mắt thất thần của người vệ tướng, Phạm sứ quân nói:

– Quyền vị sứ quân hay chiếc ngai hoàng đế cần thiết gì cho cuộc sống. Không ai có thể ôm giữ mãi những thứ đó, vì có ai giữ mãi nổi thân xác của mình. Cho nên ngay cả khi phải vất bỏ thân xác, ta cũng có mất mát gì đâu. Trút bỏ những thứ không thể ôm giữ được đâu phải là mất mát! Hơn ba mươi năm vào sinh ra tử, ta đã có quá nhiều dịp để hiểu rằng thứ thực sự cần và sẽ tồn tại mãi mãi cùng cuộc sống chỉ là tấm lòng thương yêu chân thật mà con người dành cho nhau. Ta sẽ giữ mãi thứ này và tin rằng không một cá nhân nào, một quyền lực nào có thể cướp đoạt nổi.

Giọng ông như thì thầm bên tai người lính già:

– Giả dụ Đinh Bộ Lĩnh đem ta ra giết, ta có mất hết lòng yêu thương của ngươi không? Lại giả dụ Đinh Bộ Lĩnh đem ngươi ra giết, lòng yêu thương mà ngươi đã dành cho ta có tan theo thân xác của ngươi không?  Bằng chính cuộc sống của mình, ta đã chứng nghiệm điều này suốt mấy chục năm qua. Vợ ta bị sát hại trước khi ta ứng nghĩa, nhưng từ đó tới nay, ta vẫn thấy như nàng luôn có mặt bên ta. Cũng thời gian đó, ta đã chia tay với một người con gái yêu thương ta, ít nhất cũng không thua kém ngươi. Nàng như một bóng chim chìm sâu vào vùng trời rộng, còn ta miệt mài bước giữa rừng gươm dáo, không còn khi nào thấy lại nhau. Nhưng ta tin ở tình yêu thủy chung của nàng và vẫn tìm thấy nàng trong nỗi nhớ nhung tha thiết của bản thân. Bây giờ hẳn ngươi không còn thắc mắc về cuộc sống đơn độc của ta suốt mấy chục năm qua. Vì, có lúc nào ta đơn độc đâu! Hải Yến vẫn còn đó và Tiểu Giao cũng không hề rời xa ta. Rồi còn thêm ngươi nữa. Ngươi không chỉ là đồng đội, là người bạn lâu năm, là thủ hạ trung tín của ta. Với lòng yêu thương của ngươi, ngươi đã là một phần sự sống của chính ta. Đinh Bộ Lĩnh không thể tước đoạt nổi điều gì ta đã có, và ngay cả khi tạo nên đế nghiệp, chưa chắc y đã giữ được cho bản thân nhiều bằng ta. Vài ngày ngắn ngủi có mặt tại Hoa Lư, ta còn có dịp thấy mọi sắc màu mà con người vẫn cố đem vào cuộc sống chỉ là những hạt bụi bay. Ông già có ngoại hiệu Tuấn Sơn mãi mãi vẫn đúng như cái ngoại hiệu đó. Ông ấy luôn là một ngọn núi cao dù ngay những kẻ thân thiết cận kề đã phủ lên cuộc sống của ông ấy không ít sắc màu của vực thẳm. Cuộc sống mỗi con người không thể do ngoại cảnh hình thành mà luôn khởi từ con tim và nỗ lực của bản thân. Ta không bao giờ quên lời nhắc của ông ấy, rằng thay vì đôn đáo ngược xuôi với ý nghĩ bảo vệ kiếm thần, hãy nhìn ngược lại chính trái tim mình. Nếu tim óc ngươi chìm ngập trong tro tàn danh lợi thì mọi thanh kiếm thần trong tay ngươi đều chỉ là hình hài ngụy trá chứ không phải khí thiêng của đất nước này.

Ông ngừng lại nhìn ra vùng trời tối.

Nổi bật giữa đêm đen mù mịt là khuôn mặt đã in sâu trong tâm khảm chàng trai Phạm Bạch Hổ vào giây phút chàng rời khỏi đất Hoa Lư hơn ba mươi năm trước. Khuôn mặt đó đã theo ông qua mọi nẻo chân trời và luôn là hơi lửa ấm ấp ủ trái tim ông.

Ông im lặng nhìn vào cặp mắt người con gái, cặp mắt mở to với cái nhìn sâu thẳm chất đầy ý tình đằm thắm luôn nhẹ nhàng vỗ về an ủi ông. Ông không lưu ý tới viên vệ tướng già đang đứng như ngây dại sát một bên. Ánh mắt ông không rời khỏi khuôn mặt của người con gái lung linh trong bóng tối.

Vị sứ quân thì thầm:

– Tiểu Giao, ta không biết nàng đi về đâu, nhưng đúng như lời nàng nói, chúng ta vẫn mãi có nhau. Mọi khoảng cách đều vô nghĩa trước tình yêu của chúng ta.

(Hết)

Uyên Thao (Saigon – 12/1990)

Share this post