Má Hồng (Truyện Ngắn – Tạ Quang Khôi)

Má Hồng (Truyện Ngắn – Tạ Quang Khôi)

Hồng Uyển thẫn thờ cả tháng kể từ ngày bất ngờ gặp lại Hải sau ngót bốn chục năm mất liên lạc. Chàng vẫn thế, tất nhiên già đi nhiều. “Vẫn thế” đối với nàng chỉ có nghĩa là chàng vẫn sống độc thân và vẫn yêu nàng như ngày nào, cái ngày mà nàng bị mẹ ép phải lấy chồng. Trước khi nhận lời gả nàng cho Dũng, mẹ đã từ chối lời cầu hôn của Hải mà không hỏi ý kiến nàng. Bà cho rằng chàng còn đang học hành dở dang, chưa có nghề ngỗng, làm sao có thể bảo đảm đời sống gia đình được. Hai trái tim vàng, một túp lều tranh chỉ là hình ảnh lừa dối của mấy ông bà văn sĩ giầu tưởng tượng. Trên thực tế, không thiếu gì cặp vợ chồng lấy nhau vì tình mà phải bỏ nhau trong cảnh nghèo khổ. Không ai có thể nhịn đói mà yêu nhau được. Dũng đã tốt nghiệp đại học và có việc làm đàng hoàng, vững chắc. Khi nghe tin nàng lấy chồng, Hải bỏ đi biệt tăm.  Nàng không hiểu tại sao ngày ấy nàng không dám trái lời mẹ, dù nàng cũng đã yêu Hải. Có lẽ vì nàng quá sợ mẹ. Hay mối tình nàng dành cho Hải chưa đủ sâu đậm để nàng có thể hy sinh tất cả cho chàng? Nghĩ kỹ, nàng cho là có thể vì cả hai lý do trên. Nàng chỉ yêu Hải bằng mối tình học trò lãng mạn, nông nổi nên dễ quên. Trong gia đình, mẹ là người nắm hết quyền hành và  độc đoán. Hầu như không bao giờ cha dám trái ý mẹ. Không những thế, ông là người rất chiều vợ. Khi mẹ từ chối gả nàng cho Hải và ép nàng lấy Dũng, nàng biết cha cũng chả thể bênh vực nàng  được nên nàng chỉ âm thầm khóc suốt mấy ngày liền. Rồi mọi việc tiến hành theo sự xếp đặt của mẹ.

Cuộc hôn nhân của Hồng Uyển và Dũng thất bại ngay sau một tuần trăng mật ở Đà Lạt. Dũng là một người đàn ông vũ phu, lại quá nghe lời gia đình mà hành hạ nàng.  Dũng mất mẹ từ hồi anh mới mười tuổi, nhưng cha Dũng lại khó hơn bất cứ một bà mẹ chồng nào ở cõi đời này. Đầu óc ông hẹp hòi, tính tình keo bẩn, suốt ngày để ý theo dõi nàng, rồi bắt bẻ từng ly từng tý. Chỉ một sơ sót nhỏ của con dâu, ông cũng kể lại với con trai và nàng thường bị chồng đánh ngay để làm vừa lòng ông già ty tiện ấy. Mỗi lần bị chồng đánh như vậy, Hồng Uyển lại nhớ đến sự nâng niu, chiều chuộng và những lời nói dịu dàng, ngọt ngào của Hải. Nếu lúc đó chàng bất ngờ xuất hiện, không cần nói một lời, nàng cũng sẽ sẵn sàng bỏ chồng đi theo chàng đến bất cứ chân trời góc biển nào.  Nàng đã nhiều lần than thở với cha mẹ. Nhưng mẹ không tin lời nàng vì nghĩ rằng một người có học như Dũng làm sao có thể đối sử với vợ một cách thiếu giáo dục như vậy được. Trong khi đó, cha tỏ vẻ xót xa thương con gái, có ý muốn nàng bỏ chồng, trở về với gia đình. Nhưng ý kiến của ông không được vợ chấp thuận. Bà lườm ông một cái dài rồi dọa rằng bà không chứa chấp đứa con gái bỏ chồng, vì bỏ chồng là hư hỏng, là gián tiếp trách cứ cha mẹ đã gả bán sai lầm. Muốn bỏ chồng thì bỏ luôn cả cha mẹ, gia đình, đừng hòng trở về nhà.

Hồng Uyển ngấm ngầm oán giận mẹ, nhưng không dám nói gì và đã nghĩ tới cái chết. Nhưng muốn tự hủy hoại thân mình không phải là chuyện dễ dàng ai cũng có thể làm được. Con người phải tuyệt vọng cùng cực và phải có can đảm. Nàng dù sao cũng chưa lâm vào tình trạng đó và nàng cũng không có đủ can đảm. Tự tử thì nàng không dám, bỏ chồng trở về với gia đình thì mẹ không cho, nàng đã nghĩ đến việc trốn đi, ở tạm nhà một người bạn nào đó. Nhưng từ ngày thôi học, rồi lấy chồng, nàng ít liên lạc với bạn cũ, lại chẳng thân thiết với ai. Bây giờ chợt đến nhờ vả, khó có người chịu giúp. Cuối cùng nàng cũng nghĩ ra được một lối thoát tạm thời, là đi làm. Một hôm, nàng rụt rè hỏi ý chồng. Suy nghĩ, tính toán mấy ngày liền, Dũng mới bằng lòng. Sau khi bỏ học, nàng cũng đã tính đến chuyện đi làm nên từng học đánh máy chữ và qua một lớp huấn luyện về kế toán. Nhờ vậy, nàng dễ dàng tìm được việc làm trong một sở tư. Lương thấp, nhưng nàng không quan tâm đến tiền bạc mà chỉ muốn được giải thoát khỏi cái không khí ngột ngạt trong gia đình nhà chồng và hưởng những giờ phút thoải mái, thảnh thơi ở sở.

Đi làm được mấy tháng, Hồng Uyển bắt đầu lén lút ngoại tình với một người làm cùng sở. Nàng dễ dàng chấp nhận cuộc tình vụng trộm này vì cho đó cũng là một cách trả thù tiêu cực đối với chồng và nhà chồng. Người tình của nàng cũng đã có vợ con nên cuộc tình không kéo dài. Một hôm, bà vợ của ông ta đến sở, nhìn nàng chằm chặp, rồi bĩu môi bỏ đi. Từ đó, người ấy xa nàng dần, rồi cắt đứt luôn. Nàng chỉ buồn có một thời gian ngắn vì sau đó tìm được việc làm mới ở một sở khác, lương cao hơn chút đỉnh. Làm cho sở mới chưa đầy ba tháng, nàng đã trở thành người tình của ông chủ già hơn gấp đôi tuổi nàng. Ông chủ giầu có nên thuê hẳn một căn nhà nhỏ bên Gia Định để lấy chỗ lén lút đi lại với nàng. Ngoài số lương hàng tháng nhất định, nàng được ông chủ chu cấp riêng mỗi tháng một số tiền bằng hai lương. “Bổng lộc” này nàng cất dấu kín đáo để tránh đôi mắt dòm ngó, lục lọi của chồng và bố chồng. Nàng mua hột xoàn và vàng lá để phòng bất trắc sau này. Có dư tiền, nàng chơi hụi với bạn bè trong sở. Nhờ tiền hụi đó, nàng đã mua cho chồng một xe gắn máy hiệu Honda mới toanh thay thế cái xe cũ mua cả chục năm trước. Nhờ vậy Dũng bớt vũ phu đi chút ít.

Trong thời gian làm “người tình bé nhỏ” của ông chủ, Hồng Uyển có bầu, sinh được một đứa con trai. Nàng không biết chắc đứa con đó là sản phẩm của ông chủ già hay của chồng. Từ ngày đi làm, biết cách trang điểm, nàng trông đẹp hẳn ra. Chồng nàng bị quyến rũ nên không đêm nào để cho nàng ngủ yên đến sáng. Anh lại không có thói quen mơn trớn, vuốt ve trước khi yêu vợ. Có những đêm đang ngủ, nàng chợt thức giấc vì một sức nặng đè lên thân thể. Nàng không dám phản đối dù không muốn. Sự chịu đựng này có thể bắt nguồn từ một mặc cảm phạm tội. Bao giờ cũng vậy, xong việc, Dũng nằm sóng sượt bên cạnh vợ, rồi ngáy như bò rống. Nàng phải lấy gối bịt tai, cố tìm lại giấc ngủ vì hôm sau còn phải đi làm hay đến chỗ hẹn. Khi nàng sinh đứa con trai đầu lòng, cả gia đình nhà chồng đều cho rằng đứa bé giống Dũng. Nhưng trong thâm tâm, nàng nghi ngờ vì đứa bé hao hao giống ông chủ sở của nàng. Ông lén vợ vào thăm nàng khi nàng còn nằm trong nhà bảo sanh và ông cũng nhận nó giống ông. Ông cho nàng nghỉ liền ba tháng có lương để ở nhà lo cho con. Nhưng nàng chỉ mới nghỉ được có một tháng, ông đã thúc nàng đến chỗ hẹn. Nàng chiều ông ngay vì biết ông không thể thiếu nàng lâu được. Một tháng xa nhau đã quá sức chịu đựng của ông. Trong khi đó, ở nhà, mới nửa tháng sau khi nàng ra khỏi bảo sanh viện, Dũng đã không cho nàng được nghỉ lâu hơn. Nàng từ chối thì anh dùng mọi cách thô bạo để đạt tới mục đích.

Khi vừa trông thấy nàng, ông chủ ngẩn mặt ngắm nàng rất lâu, rồi thì thầm bên tai nàng: “Đúng là gái một con…!” Ông không cho nàng nghỉ ngơi lấy một phút. Hôm đó, ông như con hổ đói làm nàng cũng mệt nhoài, bải hoải cả tay chân. Đến chiều, khi hai người sửa soạn chia tay, ông cho biết nàng đã… mất việc. Nàng giật mình hỏi tại sao thì ông giải thích ông không muốn người trong sở được chiêm ngưỡng vẻ đẹp “một con” của nàng nên bắt nàng nghỉ việc. Về tiền bạc, ông sẽ chu cấp cho nàng đầy đủ để nàng rộng rãi lo cho con (mà ông tin chắc là con ông). Ông tăng gấp đôi số “ngoại bổng” của nàng, nghĩa là gần gấp bốn số lương nàng chính thức được lãnh ở sở. Nhưng đối với gia đình chồng, nàng phải nói dối vẫn đi làm. Từ đó, nàng trở thành vợ nhỏ của ông chủ. Nàng có hai cuộc sống song song. Thỉnh thoảng nàng cũng bế con đến chỗ hẹn để ông chủ được ôm ấp đứa nhỏ. Cuộc đời hai mặt của nàng kéo dài được nhiều năm vì cả nàng lẫn ông chồng già khéo dấu. Rồi nàng có thêm ba đứa con nữa, hai trai, một gái. Có đứa rất giống chồng già, có đứa lại giống chồng trẻ. Nhưng chẳng ai nhận ra sự khác biệt. Riêng đối với nàng, con nào cũng là con, dù là con của chồng trẻ hay chồng già.

Hồng Uyển đẻ đứa con thứ tư được gần một năm thì miền Nam bị cộng sản tấn công. Tình hình mỗi ngày một gay go, căng thẳng. Ông chồng già cho biết đang tìm đường trốn khỏi nước và ông hứa sẽ đưa cả nàng và các con đi cùng. Trong khi đó, Dũng không một chút lo lắng vì cho rằng anh chả có tội lỗi gì mà phải tìm đường chạy trốn. Riêng nàng, nàng rất hoang mang. Từ lâu nàng đã muốn bỏ chồng, giấc mơ đó thực hiện được thì nó sẽ là một hạnh phúc lớn đối với nàng. Nhưng nàng vẫn nơm nớp sợ ông chồng già không thể thu xếp cho nàng đi cùng được vì ông còn vợ và cả một đống con. Rồi mối lo của nàng thành sự thật. Vào một ngày gần cuối tháng 4, ông gặp nàng trong sự lo lắng, vội vã. Ông trao cho nàng một gói nhỏ, nhưng hơi nặng, rồi cho biết có thể buổi chiều sẽ có xe đến đón mẹ con nàng lên phi trường. Sau đó, ông hấp tấp từ giã nàng và không quên dặn nàng phải sẵn sàng ra đi nếu có người đến đón. Khi ông đi rồi, nàng mở gói ra xem thì thấy có hai chục lạng vàng lá. Nàng biết ngay ông sẽ không bao giờ cho người đến đón. Nhưng nàng không buồn và cũng không giận ông. Thật ra, lúc nào ông cũng tỏ ra rất chu đáo với nàng. Ông lo cho nàng như thế cũng đủ rồi, vì ông còn phải lo cho gia đình chính của ông, vợ cái con cột! Sau khi Saigon đổi chủ, nàng được một nhân viên cũ của sở cho biết ông chỉ kịp đưa vợ  và mấy người con trốn ra khỏi nước vào phút chót nhờ một cô con gái của ông làm sở Mỹ.

Sau thất bại của miền Nam, riêng gia đình Hồng Uyển cũng gặp nhiều biến cố quan trọng. Ông bố chồng khắc nghiệt, ty tiện của nàng bị ngã và ngất xỉu trong nhà tắm mà không ai biết. Mãi đến khi người con gái lớn của ông, chị của Dũng, đến chơi mới phát giác sự vắng mặt của cha và đã tìm thấy ông. Chị vội đưa ông vào nhà thương. Các bác sĩ  trong bệnh viện chỉ có thể cứu ông sống lại chứ không chữa nổi bệnh bán thân bất toại.

Biến cố thứ hai là một hôm Dũng ói ra một đống máu. Nàng đưa chồng vào bệnh viện và biết anh bị lao phổi. Nguyên nhân gây ra bệnh là sự làm việc quá sức. Lương công nhân viên của chế độ mới, dù biên chế, không đủ sống cho một gia đình gồm bảy người (kể cả ông bố nằm liệt), anh phải dạy tư thêm nhiều giờ. Ăn không đủ bổ dưỡng, làm việc nhiều, cộng với lo buồn, không sao tránh nổi bệnh tật. Nhưng lao phổi ngày nay không còn là một bệnh nan y nữa.

Trong thời gian Dũng nằm bệnh viện, Hồng Uyển hàng ngày vào thăm chồng. Một hôm, nàng gặp một bác sĩ tự giới thiệu là bạn học cũ của Dũng, tên là Hưởng. Trước mặt Dũng, Hưởng tỏ ra rất lịch sự và lễ phép đối với nàng. Nhưng khi nàng ra về, có một mình, Hưởng tìm cách ve vãn, tán tỉnh nàng. Hôm sau, vào thăm chồng nàng hỏi Dũng về Hưởng. Dũng cho biết Hưởng là một người bạn khá thân của anh khi hai người còn học trung học. Sau khi đỗ tú tài, mỗi người theo một con đường nên thưa gặp nhau. Họ chỉ tình cờ gặp lại khi Dũng nhập viện. Dũng kết thúc câu chuyện về người bạn cũ bằng một câu nói nửa trách nửa khen: “Đến bây giờ nó vẫn chưa chịu lấy vợ!”. Cho đến ngày Dũng được xuất viện, nàng không gặp lại Hưởng lần nào nữa. Một hôm, Dũng cho biết Hưởng vượt biên, định trốn ra nước ngoài, nhưng không thành công, đang phải trốn chui trốn nhũi. Vì nhiều công việc phải lo, Hồng Uyển cũng không quan tâm nhiều đến người bạn cũ của chồng.

Sau khi Dũng bị bệnh, Hồng Uyển cũng thấy lương tâm mình không yên ổn. Vàng và hột xoàn để dành vẫn được dấu kín. Nàng không dám đem ra chi dùng cho gia đình, cứ  để mặc chồng lo lắng, xoay sở. Một phần nàng sợ mấy bà chị chồng thắc mắc, phần khác nàng thấy tương lai còn mù mịt trong khi nàng có bốn con nhỏ phải nuôi dưỡng. Sau nhiều đêm suy nghĩ, nàng đành quyết định phải bán bớt hột xoàn đi để sự chi tiêu trong gia đình được rộng rãi hơn. Thấy vợ có tiền, Dũng cũng hơi thắc mắc, nhưng nàng cho biết là tiền để dành từ lâu thì cũng không hỏi gì thêm.

Những tưởng cuộc đời cứ êm trôi như vậy, Hồng Uyển cũng sẽ an phận. Nhưng “họa vô đơn chí”, một biến cố khác lại bất ngờ xảy đến cho chính nàng. Đứa con trai thứ ba của nàng bị chết vì một tai nạn xe cộ, mới có 6 tuổi đầu. Một hôm, nó đang đứng chơi với mấy đứa bạn hàng xóm trên lề đường ở đầu hẻm thì bị một người say rượu phóng xe leo lên lề, đụng phải nó, làm nó ngã, đầu đập lên nền xi măng, chết tức khắc. Người say rượu cũng ngã nên bị bắt ngay. Trước cái chết bất ngờ của con, Hồng Uyển như điên như dại, khóc suốt một tuần, chỉ muốn chết theo con, Nhưng khi nhìn ba đứa còn lại, đứa nào cũng nhỏ và ngây thơ, thì không nỡ bỏ rơi chúng. Rồi thời gian cũng làm nàng khuây khỏa, vì cuộc sống trước mặt còn có nhiều bất trắc, hàng ngày vẫn phải lo lắng đủ mọi thứ chuyện.

Trong khi gia đình Hồng Uyển gặp nhiều tai biến như vậy, cha mẹ và hai anh nàng lại gặp may mắn. Trước khi Saigon thất thủ, họ đã kịp thời lên được một tầu Hải quân Việt Nam để ra khơi tỵ nạn.

Số tiền bán hột xoàn rồi cũng hết. Nàng phân vân không biết có nên bán vàng hay hột xoàn nữa không? Điều quan trọng là phải tìm lời giải thích cho xuôi tai. Lương thư ký kế toán không phải là loại lương giám đốc hay bộ trưởng để có thể dành dụm được nhiều. Dũng cũng không phải là người ngu và cả tin. Sau nhiều ngày suy tính, nàng quyết định phải đi buôn. Đó là một lối thoát duy nhất. Nhưng quyết định là một chuyện, còn bắt tay vào việc lại là một chuyện khác. Gia đình nàng không phải là một gia đình buôn bán, cha nàng là một công chức cao cấp trong một ngành có nhiều bổng lộc, mẹ nàng suốt đời sống dựa vào chồng, còn chính nàng thì chỉ biết đi học, rồi lấy chồng và làm một chân thư ký quèn trong một hãng buôn. Bây giờ, bước chân vào con đường đầy lừa lọc, quá mới mẻ, biết có làm nổi không hay lại mất cả số vốn đang có ?  Nếu không buôn bán, nàng sẽ làm cách nào giải quyết được những khó khăn về tài chính hiện tại ?  Suy đi tính lại mãi, cuối cùng nàng cho rằng nàng cần phải đi coi việc buôn bán ở  chợ trời ra sao.

Từ sau ngày Saigon đổi chủ, chợ trời mọc ra như nấm ở khắp nơi. Dân chúng hoảng hốt, thấy tương lai bất trắc, ào ra lề đường để bán bớt đồ đạc trong nhà. Nhưng rồi tình hình đi dần đến ổn định, chợ trời tự động biến đi rất nhiều. Người ta tập trung lại ở một số nơi trong thành phố và mỗi nơi có một tính chất đặc biệt riêng. Chẳng hạn khu Kỳ Đồng phần lớn bán thuốc Tây từ ngoại quốc gửi về, khu chợ Tân Định bán linh tinh đủ mọi thứ, như bột ngọt, kem đánh răng, quần áo, cả cũ lẫn mới, kể cả thuốc tây, v.v…

Hồng Uyển đạp xe đi xem nhiều nơi để rồi càng thấy phân vân hơn. Người ta buôn bán tấp nập và có tính cách chụp giật. Nàng hoa cả mắt vì thấy người ta đi lại nhốn nháo, người ta chào mời, người ta trả giá, người ta chửi tục ồn ào… Nàng nhận ra rằng với bản chất nhút nhát, hiền lành, nàng không thể hợp với không khí của chợ trời. Nơi cuối cùng nàng tới là khu bán thuốc Tây ở góc đường Kỳ Đồng và Nguyễn Thông. Nàng tính sẽ chỉ ghé qua cho biết, chứ thực sự nàng không hiểu gì về thuốc  men. Nhưng ở đây nàng đã bất ngờ gặp lại Hưởng. Hắn cho biết hắn bỗng biến mất tăm kể từ ngày chồng nàng còn nằm bệnh viện vì hắn trốn “học tập cải tạo” và đã mấy phen vượt biên, đều thất bại và đã bị tù một lần, nhưng vượt ngục được. Hết tiền, hắn đành hoãn chuyện vượt biên lại, tạm sống lẩn lút, trốn tránh nên không dám gặp lại người quen cũ. Bây giờ hắn đang giúp một người bạn buôn bán thuốc Tây, sống qua ngày và chờ dịp lại tìm đường ra đi.

Hưởng hỏi thăm Dũng và cuộc sống của gia đình Hồng Uyển trong thời gian qua. Sau khi cho hắn biết sơ tin tức về gia đình mình, nàng rụt rè nói đến chuyện buôn bán. Thế rồi, sau vài lần gặp gỡ, nàng và hắn mau chóng trở thành cộng tác viên. Hắn là một bác sĩ nên rất thông thạo về thuốc men, còn nàng có chút vốn. Sự cộng tác phát triển nhanh về cả hai phương diện: thương mại và tình cảm. Nàng không ngờ số tiền nàng kiếm được hàng tháng lại lớn như vậy, gấp cả chục lần tiền lương “công nhân viên” của Dũng. Sự chi tiêu trong nhà trở nên rộng rãi khiến Dũng rất vui vẻ, mấy bà chị chồng tỏ vẻ khâm phục và nể sợ nàng, không dám ăn hiếp như hồi nàng mới về làm dâu. Có lần Dũng cũng thắc mắc về việc buôn bán. Nàng phải nói dối là được một người bạn học cũ là dược sĩ chỉ dẫn về thuốc men. Để chồng không nghi ngờ nàng đưa một nữ dược sĩ, bạn của Hưởng, về giới thiệu với chồng. Từ đó, Dũng không còn thắc mắc nữa. Về mặt tình cảm, nàng và Hưởng đã yêu nhau. Sau nhiều lần ngoại tình, nàng không một chút áy náy nào khi ân ái với Hưởng. Không những thế, nàng còn rất vui vì đã giải tỏa được sự  dồn nén từ ngày Dũng bị bệnh lao. Dù đã khỏi hẳn, anh cũng không ham hố như trước nữa, có thể vì sức khỏe suy giảm mà cũng có thể sợ bệnh cũ trở lại. Có khi cả tháng anh cũng không gần vợ một lần.

Tuy nhiên sự cộng tác giữa Hồng Uyển và Hưởng không kéo dài. Chưa đầy một năm, Hưởng cho biết hắn sẽ lại tìm đường ra biển trốn đi nước ngoài. Hắn không thể sống mãi trong tình trạng bất hợp pháp và mối đe dọa bị bắt càng ngày càng lớn. Bây giờ hắn đã để dành đủ cho một chuyến đi. Nghe người yêu nói, nàng vừa buồn vừa lo. Hiểu ý nàng, hắn tìm lời trấn an. Về mặt buôn bán nàng đã đủ hiểu biết để có thể đứng riêng một mình, không những thế khi đã được định cư ở một nước Tây phương nào đó, mà hắn mong ước là Mỹ, sẽ mua thuốc gửi về cho nàng. Còn về mặt tình cảm hắn lúc nào cũng chỉ yêu nàng và hứa sẽ chính thức cưới nàng sau khi nàng ly dị với chồng. Nghe hắn an ủi, nàng cũng chỉ tin được nửa phần. Nàng công nhận bây giờ nàng đã khá thông thạo về thuốc men và giá cả, nhưng về mặt tình cảm nàng nghĩ rằng hắn hứa cho xong chuyện, nàng làm sao bỏ chồng được và nếu có bỏ cũng không thề lấy hắn. Ở Việt Nam hắn sống lén sống lút, nếu hắn trốn thoát ra nước ngoài thì hai người cách nhau cả ngàn vạn cây số, liên lạc đã khó, nói chi đến chuyện lấy nhau. Thôi thì cứ coi như duyên nợ đến đây là hết.

Ít lâu sau, Hưởng thành công trong việc vượt biên và được định cư ở Mỹ. Việc buôn bán của Hồng Uyển vẫn tiếp tục bình thường, nếu không muốn nói là tốt đẹp hơn trước vì không phải chia tiền cho ai. Nhờ có nhan sắc xinh tươi và tính tình hiền dịu, nàng được khách hàng quý mến và tin tưởng. Thỉnh thoảng nàng cũng nhận được thuốc Hưởng gửi về tặng nàng. Thấy công việc buôn bán trở nên phát đạt, nàng đề nghị Dũng bỏ “nghề” làm công nhân viên nhà nước để phụ giúp nàng. Dũng bằng lòng ngay. Nhưng có một điều Hồng Uyển không ngờ là khi giao dịch với giới buôn bán chợ trời, Dũng được biết nhiều bí mật của vợ. Gia đình lại lủng củng từ đó. Dũng không phụ giúp nàng nữa mà bỏ luôn việc buôn bán. Anh mở lớp dạy tư riêng từng nhóm ở ngay nhà để không lệ thuộc vợ về tài chánh. Rồi hai người đi đến chỗ không nhìn mặt nhau, tuy vẫn ở chung nhà. Có điều may cho nàng là Dũng không còn giở thói vũ phu đánh đập nàng như trước.

Vào dịp đó, nhận được tin của cha mẹ và hai anh. Cha mẹ nàng hiện ở chung với gia đình người anh lớn của nàng ở một tiểu bang thuộc miền Tây Bắc nước Mỹ. Còn gia đình người anh thứ hai ở miền Nam California. Cha mẹ nàng nóng lòng muốn biết tin tức về gia đình nàng và địa chỉ chắc chắn để có thể gửi quà. Đồng thời, trong tương lai, người anh lớn sẽ làm giấy tờ bảo lãnh cho gia đình nàng sang Mỹ. Chuyện bảo lãnh chỉ mới được đề cập tới một cách vu vơ và có mục đích trấn an nhiều hơn thực tế, Dũng đã vội cho biết anh không đi đâu hết. “Nhà tôi tôi ở, quê tôi tôi sống. Không việc gì phải đi ăn nhờ ở đậu đất nước người ta”, anh hung hăng tuyên bố ầm ĩ. Trong khi đó, Hồng Uyển rất háo hức chuyện ra khỏi nước vì muốn tương lai của các con sáng sủa hơn. Nếu Dũng không chịu đi với nàng, việc bảo lãnh không thể thực hiện được khi vợ chồng còn hôn thú và còn ở chung nhà. Nàng không dám đề nghị chuyện ly hôn vì biết anh sẽ không bao giờ bằng lòng với mục đích ngăn cản nàng cho bõ ghét.

Sau khi biết tin tức của cha mẹ và gia đình hai anh, Hồng Uyển chợt nhớ tới người tình già. Từ ngày dúi cho nàng một số vàng rồi hối hả bỏ đi, cho đến nay ông vẫn biệt vô âm tín. Nàng không biết ông còn sống hay đã chết, hiện ở đâu. Con gái ông trước làm sở Mỹ thì có thể gia đình ông được định cư ở Mỹ. Dù ở đâu thì bây giờ, sau nhiều năm thay đổi, người ta ai cũng đã có tin tức, riêng ông vẫn im hơi lặng tiếng. Nàng thầm giận ông, vì dù sao hai người cũng đã có con với nhau. Thỉnh thoảng tình cờ gặp lại những người làm cùng sở cũ, nàng hỏi thăm về ông, cũng chẳng ai biết hơn nàng.

Việc buôn bán của Hồng Uyển đang xuôi chèo mát mái thì bỗng một hôm công an bố ráp khu chợ trời của nàng, lấy cớ thuốc tây đều là thuốc giả hoặc quá hạn. Nàng bị kẹt với một số thuốc mới mua lại của khách hàng và bị đưa về đồn cùng một số bạn hàng khác. Tên công an “làm việc” với nàng là người Bắc và còn trẻ. Mới đầu, trước mặt mọi người, hắn quát tháo, kết tội nàng là buôn thuốc giả, làm hại sức khỏe của nhân dân. Nhưng khi chỉ còn lại mình nàng, hắn bỗng dịu giọng nói nhỏ là hắn đã theo dõi việc buôn bán của nàng từ lâu và biết thuốc men của nàng là thật, đa số mới từ ngoại quốc gửi về, nên hắn muốn giúp đỡ nàng. Đang từ dọa nạt, hống hách chợt đổi sang dịu ngọt, hứa hẹn, hắn làm nàng ngạc nhiên vô cùng. Nàng nghĩ tới những mưu mô xảo trá, lừa gạt nhân dân của cộng sản nên tự cảnh giác ngay. Nàng dè dặt cho biết nàng chỉ buôn bán lặt vặt, kiếm tiền nuôi con, đâu cần đến sự giúp đỡ của hắn. Biết nàng chưa tin, hắn cũng không nói thêm, chỉ cho nàng thong thả ra về.  Từ hôm đó, hắn thỉnh thoảng đến gặp nàng để hỏi thăm việc buôn bán và lần nào cũng hứa sẵn sàng giúp đỡ, nếu cần. Những lần đến thăm, hắn mặc thường phục. Có hôm hắn còn đem quà bánh đến tặng. Nàng không nhận hắn cũng để lại khi ra về. Dần dần nàng cũng bớt sợ hắn, vì khi mặc thường phục hắn cũng không có vẻ độc ác đáng ghét. Hắn cho nàng biết tên hắn là Trọng.

Một hôm, công an lại bố ráp và nàng lại bị bắt với nhiều loại thuốc. Tên công an bắt nàng hầm hầm la mắng, đòi đưa nàng đi học tập cải tạo. Hắn còn dọa đến khám xét nhà nàng vì có người tố cáo nàng oa trữ nhiều loại thuốc bất họp pháp. Trong khi hắn đang làm biên bản về vụ bắt bớ này, tên Trọng bỗng xuất hiện trong bộ đồng phục màu vàng. Hắn tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy nàng đang lo sợ, mặt mày tái mét. Nhìn đôi mắt cầu cứu của nàng, hắn khẽ gật đầu để trấn an nàng. Hắn kéo tên công an bạn ra ngoài Hai đứa nói chuyện với nhau khá lâu, khi trở vào phòng, tên Trọng cho biết mọi chuyện đã được dàn xếp ổn thỏa, nàng lại được tha và số thuốc cũng trả lại cho nàng. Từ đó, nàng và tên Trọng trở thành thân nhau hơn. Mãi sau này, khi nàng đã trở thành người tình của hắn, dù hắn kém nàng cả chục tuổi, nàng mới khám phá ra rằng vụ bắt bớ sau chỉ là một cảnh được dàn xếp để tên Trọng có dịp mua chuộc lòng nàng. Biết được như vậy thì đã quá muộn. Từ ngày Hưởng bỏ đi, vợ chồng lủng củng, Dũng không thèm đến gần vợ một phần vì sức khỏe một phần vì khinh ghét. Vào những đêm lạnh lùng mưa gió, nàng cũng thèm một vòng tay đàn ông. Tên Trọng đã đáp ứng nhu cầu đó của nàng. Không những thế, hắn còn trẻ và khỏe mạnh, khiến nàng rất hài lòng, có khi hơn cả anh chàng bác sĩ độc thân đã lớn tuổi. Nhờ hắn, nàng có cảm tưởng như nàng trẻ hẳn lại. Kể ra hắn cũng là người hào hoa, ngoài việc ăn nằm với nàng, hắn không đòi hỏi gì ở nàng mà còn giúp cho việc buôn bán tốt đẹp hơn. Nhờ vậy, nàng mua thêm được nhiều “cây” vàng để dành cho một tương lai bất trắc. Sống trong gông cùm cộng sản thì tương lai mọi người dân đều bấp bênh.

Một hôm, sau khi yêu nhau, Trọng cho biết hắn đang tổ chức vượt biên. Mới đầu nàng còn tưởng hắn nói đùa hoặc muốn dò xét nàng. Nhưng sau nàng biết hắn thành thật, muốn đưa nàng và con nàng đi cùng; khi đã thoát được ra ngoại quốc, hắn sẽ chính thức lấy nàng làm vợ. Hắn còn cho biết thêm là chiếc ghe dùng để vượt biên rất lớn và máy móc, dầu nhớt, lương thực, nuớc uống… đều được chuẩn bị đầy đủ. Bọn hắn cũng sẽ lấy một số khách để trang trải nhiều chi phí. Bọn hắn không sợ hải tặc, vì  có súng ống đầy đủ trên ghe. Trong vòng một tuần sẽ lên đường. Thời hạn quá ngắn ngủi khiến nàng hoảng sợ, bồn chồn. Nhưng, rồi mọi chuyện xảy ra đúng như lời hắn nói. Cuộc vượt biên thành công mỹ mãn. Nhờ thời tiết thuận lợi, gió yên, bể lặng, chiếc ghe máy đã vượt trùng dương trong bốn ngày bốn đêm tới một hòn đảo nhỏ thuộc Nam Dương quần đảo. Cha mẹ và anh nàng làm giấy tờ bảo lãnh cấp tốc nên nàng và ba con được đi Mỹ sau có năm tháng ở trại tỵ nạn. Trong khi đó, Trọng bị phái đoàn Mỹ bác đơn vì có một nhóm khách trên ghe tố cáo với ban quản trị trại rằng Trọng và đồng bọn đều là công an cộng sản.

Mấy tháng đầu ở Mỹ, Hồng Uyển còn liên lạc với Trọng. Nhưng từ ngày hắn được đi định cư ở một nước Âu Châu thì hai người mất liên lạc. Thật ra, đối với hắn, nàng cũng không tha thiết, quyến luyến mấy. Sự kết hợp giữa hai người chỉ dựa trên quyền lợi và nhu cầu của thể xác. Quyền lợi hết và nhu cầu không còn thì sự kết hợp tất phải tan rã. Trong khi đó, cuộc sống mới ở xứ lạ quê người có nhiều khó khăn, ràng buộc mới, nàng phải chuyển đến một tiểu bang khác có lợi nhiều cho việc trợ cấp. Nàng tình cờ tìm được địa chỉ và số điện thoại của Hưởng. Nàng vội vàng liên lạc với hắn thì được biết anh chàng bác sĩ này không còn độc thân nữa. Nàng không ngạc nhiên và cũng không buồn vì chính nàng cũng đã không chung thủy với hắn và đã coi như hết duyên nợ với hắn khi hai người chia tay nhau.

Hồng Uyển chỉ ngạc nhiên là nàng không sao tìm được địa chỉ của ông chồng già. Những người quen nàng, không ai biết tung tích của ông. Nước Mỹ quá lớn, người Việt tỵ nạn lại ở rải rác khắp nơi nên việc tìm kiếm rất khó khăn. Cuộc sống trước mặt còn nhiều chuyện đáng quan tâm hơn. Nàng và ba con nhỏ sống tương đối dễ chịu, nhờ trợ cấp xã hội và y tế được bảo đảm. Không những thế, nàng cũng có một số vốn khá lớn để dành khi cần đến. Sau khi được Trọng cho biết chuyện vượt biên, nàng đã vội dồn tiền mua thêm vàng mang đi. Nàng khéo dấu và kín đáo nên số vàng đó nay còn nguyên vẹn. Khi các con đã được đi học, nàng cũng cắp sách đến trường để  kiếm lấy năm ba câu tiếng Anh hầu có thể giao dịch, mua bán. Nhờ thông minh và chịu khó, nàng học chóng tấn tới. Nàng cũng kiếm được một việc làm khi nhà nước cắt trợ cấp. Từ ngày sang Mỹ, phải lo nhiều chuyện mới lạ, nàng không còn thì giờ  nghĩ đến việc yêu đương. Thật ra, trong thời gian đi làm, nàng cũng được một vài người đàn ông, cả Mỹ lẫn Việt, theo đuổi, tán tỉnh, nhưng nàng đều trốn tránh họ. Lòng nàng bây giờ dửng dưng, lạnh lẽo. Đối với Dũng, người chồng chính thức, nàng đã viết thư đề nghị bảo lãnh cho anh sang đoàn tụ với vợ con. Nhưng anh quyết liệt từ chối. Anh còn viết một lá thư dài nhục mạ nàng đã bỏ chồng theo trai. Khoảng nửa năm sau, Dũng gửi cho nàng một bản sao giấy chứng nhận ly hôn. Tuy từ lâu vẫn mong mỏi được bỏ Dũng một cách hợp pháp, nàng vẫn cảm thấy tự ái bị tổn thương nặng nề. Nàng muốn hai người thỏa thuận xa nhau hơn là bị chồng bỏ.

Từ đó, Hồng Uyển sống một cuộc đời bình yên, phẳng lặng bên cạnh ba con. Chưa bao giờ nàng cảm thấy sung sướng, thoải mài như lúc này nên lấy làm mãn nguyện. Hai đứa con lớn của nàng đều đã tốt nghiệp đại học và có việc làm vững chắc. Đứa con gái út mới bước vào năm đầu của đại học. Nàng rất bằng lòng với hiện tại.

Thế rồi Hồng Uyển bỗng gặp lại Hải, người tình đầu tiên của nàng khi nàng còn là một nữ sinh trong trắng. Điều đặc biệt là chàng vẫn độc thân. Cuộc đời của Hải cũng có nhiều biến cố, nhưng trong tim chàng vẫn chỉ có một hình bóng, đó là hình bóng cô nữ sinh trẻ đẹp hàng xóm ngày xưa ! Sau khi Hồng Uyển lấy chồng, Hải xin học Trường Sĩ quan Đà Lạt, rồi tình nguyện vào một binh chủng xung kích. Khi cuộc chiến chấm dứt, chàng đã là một sĩ quan cấp tá, tất nhiên phải đi tù cải tạo. Sau đó, khi được tự do, chàng sang Mỹ theo diện HO. Trong thời gian ở tù, chàng đã được một nhà sư  tận tình chỉ bảo về Thiền. Về lại Saigon, chàng mua sách để học hỏi thêm. Bây giờ thì chàng đã trở thành một chuyên viên có uy tín về môn này và cộng tác với một số bạn mở một Thiền viện ở một vùng bên bờ biển phía Đông Bắc nước Mỹ. Mới đây, chàng bay sang tiểu bang nàng ở để nói chuyện về Thiền. Khi đọc quảng cáo trên một tờ báo Việt địa phương, nàng không nghĩ thuyết giảng viên chính lại là người tình cũ của mình, vì chàng lấy một pháp danh. Nàng tò mò muốn biết về Thiền nên dự buổi nói chuyện. Hôm đó, có nhiều diễn giả, cả tục lẫn đạo. Nhưng diễn giả chính là một vị chuyên về Thiền. Khi vị chuyên viên ấy xuất hiện, nàng giật mình vì nhận ra Hải ngay. Tim nàng đập nhanh hẳn lên. Nàng vừa hồi hộp vừa vui mừng. Thuyết trình viên đang thao thao bất tuyệt trên bục cao đúng là người tình đầu tiên của nàng ngót bốn chục năm xưa! Chàng đã trở thành một chuyên viên nổi tiếng về Thiền. Cả một dĩ vãng xa xưa dồn dập sống lại trong nàng như một cuốn phim tình cảm. Những cuộc hẹn hò lén lút, những nụ hôn rụt rè vụng dại đầu tiên đã khiến nàng ngây ngất…

Bỗng tiếng vỗ tay vang dội cả phòng hội đã đánh thức nàng. Sau buổi thuyết giảng, khi mọi người đã ra về gần hết, nàng mới tìm gặp riêng chàng. Và chàng cũng nhận ra nàng ngay, thốt kêu: “Hồng Uyển!” Nàng mỉm cười, chắp hai tay trước ngực, hỏi đùa: “Mô Phật! Thầy còn nhớ… nhớ… em sao ?” Những người trong ban tổ chức thấy Hải gặp lại người quen cũ đều vội lảng ra xa. Hải nhìn nàng rất lâu, rồi rụt rè: “Bà Dũng, làm sao tôi quên được…” Nàng liền cắt ngang: “Em hết là bà Dũng rồi. Anh cứ gọi tên em cho tiện”. Rồi, nàng thăm dò: “Chị và các cháu vẫn mạnh khỏe? Anh được mấy cháu tất cả?” Chàng nhìn nàng chằm chặp, giữ im lặng khá lâu, rồi đáp: “Tôi chưa hề lập gia đình bao giờ”. Tự nhiên nàng thấy lòng mình vui hẳn lên, nhưng giả bộ ngạc nhiên, hỏi: “Nghĩa là anh vẫn… vẫn,,, độc thân?” Hải cười nhẹ: “Bộ bà…à Uyển không tin sao?” Nàng hơi lúng túng: “Tin, em tin. Nhưng tại sao?”. Hải nhìn quanh, nói: “Ở đây không tiện nói chuyện. Tôi sẽ gặp Uyển sau. Mai tôi phải lên máy bay về rồi. Hẹn khi khác”. Nàng hơi cau mày: “Việc gì mà vội thế? Không có ai chờ đợi anh ở nhà… Ở lại đây với em vài bữa để mình được nói chuyện lâu. Em xin mời anh về nhà em chơi. Chỉ có con cháu út ở nhà với em thôi. Hai anh nó đi làm xa. Nhà rộng rãi, anh khỏi lo”. Chàng lưỡng lự: “Để tôi phải hỏi  mấy người đi cùng…” Nàng phì cười: “Bộ không có anh thì người ta không biết đường về sao? Anh có lệ thuộc vào ai đâu. Cứ để họ về trước đi”. Nàng tiếp, như năn nỉ: “Gần bốn chục năm không được gặp anh rồi…”. Hải tỏ vẻ cảm động, đáp: “Vâng, thì tôi ở lại thêm ít ngày, nhưng dù sao cũng phải cho các bạn biết để họ về trước”.

Nhờ mấy ngày Hải nấn ná ở lại, Hồng Uyển mới biết rõ cuộc đời chàng. Không những thế, nàng còn biết rằng chàng sẵn sàng từ bỏ hết tất cả để theo nàng đi đến bất cứ đâu. Bây giờ, tất cả đều tùy thuộc vào quyết định của nàng. Suốt đời chàng sống độc thân, chỉ vì mối tình chàng dành cho nàng quá sâu đậm, không ai có thể thay thế nàng trong tim chàng. Quyết định của nàng sẽ ảnh hưởng tới tương lai của hai người.

Hồng Uyển thẫn thờ suy nghĩ cả tháng mà chưa biết nên quyết định thế nào. Nàng mất ăn mất ngủ về chuyện này. Nghĩ đi nghĩ lại mãi, nàng vẫn phân vân, chưa dám quyết định hẳn, dù biết Hải đang nóng lòng chờ đợi. Thỉnh thoảng, vào cuối tuần, chàng cũng gọi điện thoại hỏi thăm và nói vài ba câu chuyện về thời tiết và cuộc sống hàng ngày. Chàng không nhắc đến chuyện “tái hợp” nhưng nàng cũng biết chàng rất nóng lòng. Chàng là người tế nhị và kín đáo, không muốn thúc giục, nhất là đối với một quyết định quan trọng, có ảnh hưởng tới tương lai của cả hai người. Nhưng, nàng cho rằng chàng đã quá tế nhị và nghiêm trang trong cách đối xử với nàng, một người đàn bà đã dày dạn trên tình trường. Trong những ngày ở nán lại, chàng không một lần tỏ ra xuồng xã hoặc có ý định lợi dụng sự thân gần cũng như cảnh vắng vẻ của căn nhà rộng. Chàng bao giờ cũng lịch sự giữ một khoảng cách giữa hai người. Phải chăng việc tu hành đã biến chàng thành lạnh lùng, nghiêm trang? Hay chàng muốn tỏ lòng kính trọng người mà chàng yêu tha thiết trong suốt cuộc đời dù nàng cũng không còn xứng đáng với mối tình cao thượng đó?  Trong tận đáy lòng, nàng vẫn thầm tự cho mình là xấu xa, đã qua tay hết người đàn ông này đến người đàn ông khác. Chính vì vậy mà nàng cứ phân vân mãi.

Hồng Uyển thầm tự hỏi nếu nàng trở lại với mối tình đầu thì cuộc đời nàng sẽ ra sao? Nàng thử phác họa một cuộc sống lứa đôi giữa nàng và Hải. Về già, ở Mỹ, ai cũng sợ phải cô đơn khi các con đã có gia đình riêng. Bây giờ nàng có Hải, nương tựa vào nhau để sống nốt những năm tháng còn lại. Có thể Hải mới thực sự là người chồng nàng mơ ước. So với Dũng, người chồng chính thức cũ, Hải hơn hẳn về nhiều mặt. Dù nghĩ vậy, nàng vẫn mơ hồ cảm thấy có một khoảng cách giữa hai người.

Cuối cùng, Hồng Uyển cũng đã chọn lựa con đường mà nàng cho là hợp lý nhất lúc này. Nàng lẳng lặng mua vé máy bay và tính sẽ dành cho Hải một bất ngờ thích thú. Nàng sẽ chỉ gọi cho chàng khi đã tới phi trường nơi chàng ở và yêu cầu chàng đón nàng về nhà.

Nàng cho con gái biết nàng sẽ vắng nhà một tuần, nó sẽ phải lo lấy việc ăn uống hàng ngày. Con nhỏ là người thông minh và tế nhị, không có một thắc mắc gì hết. Buổi tối, trước ngày lên máy bay, nàng hỏi nó có biết nàng sẽ đi đâu không? Nó mỉm cười, nhỏ nhẹ đáp: “Mẹ còn đi đâu nữa! Từ ngày gặp lại bác Hải, mẹ có vẻ suy nghĩ rất nhiều, nên con hiểu tâm trạng của mẹ. Bây giờ mẹ cho biết mẹ đi chơi xa thì con đoán ra ngay”. Nàng cũng cười, mắng yêu con: “Hư thế không biết! Dám nghĩ xấu cho mẹ!” Con nhỏ chợt nhớ ra điều gì, vội nói: “Sáng nay, ở trường, con có một giờ trống, nên mượn bạn một tờ báo Việt Nam để đọc cho qua thì giờ. Con thấy trong mục ‘Tìm bạn’ có người muốn tìm một một bà là Hồng Uyển, không biết có phải là mẹ không hay chỉ là trùng tên?”. Nàng ngạc nhiên vội hỏi: “Đâu? Tờ báo đó đâu? Tên người nhắn tin là gì, con có nhớ không?” Nó suy nghĩ một lúc rồi đáp: “Con không nhớ  chắc, nhưng họ Trần…Trần Nguyên hay Trần Ngọc gì đó. Con chỉ coi lướt qua vì đã đến giờ vào lớp. Xem xong, con trả lại bạn, giữ làm gì!”. Tim nàng bỗng đập nhanh hẳn lên. Trần Nguyên Phước là tên ông chủ sở cũ của nàng, người chồng già mà nàng đã cố tìm kiếm từ ngày sang Mỹ. Thấy mẹ có vẻ nôn nóng, nó nói: “Hay để con chạy đến nhà bạn lấy về cho mẹ coi. Nhà nó cũng gần thôi, khoảng mười lăm phút lái xe. Con gọi nó trước, rồi đi ngay” .Nàng đồng ý: “Ừ, con đi lấy cho mẹ coi… Có lẽ mẹ cùng đi với con…” Nó nhún vai: “Tùy mẹ”.

Sau khi đọc mục “Tìm bạn” đăng trong một tờ báo xuất bản ở vùng thủ đô nước Mỹ, Hồng Uyển không còn nghi ngờ gì nữa. Đúng là ông chồng già của nàng đang tìm nàng. Theo địa chỉ và số điện thoại ghi trong lời nhắn thì ông hiện ở cùng một tiểu bang với nàng, nhưng mãi tận miền bắc. Về đến nhà, không chậm trễ một giây, nàng gọi cho ông ngay. Một giọng khàn khàn và yếu ớt trả lời nàng. Nhưng sau khi nàng xưng tên thì giọng yếu ớt bên kia đầu dây vụt lớn hơn, mạnh hơn và bớt khàn đi. Hai người đã nói chuyện với nhau khá lâu, cả tiếng đồng hồ. Tất nhiên là ông rất vui mừng. Nàng được biết người vợ  chính thức của ông đã qua đời hai năm trước, con cái đều đã có gia đình và ở xa, bây giờ ông ở một mình trong một khu chúng cư. Ông cũng cho biết ngay sau khi đã ổn định đời sống ở Mỹ ông viết thư về cho nàng, nhưng không thấy nàng trả lời. Nghe ông nói vậy, nàng đoán ngay lá thư đã bị Dũng mở ra xem trộm rồi dấu đi. Cách đây hơn nửa năm, một nhân viên cũ của ông cho biết nàng đã vượt biên sang Mỹ nên ông vội đăng báo tìm nàng từ ngày đó. Ông rất mong gặp nàng, càng sớm càng tốt.

Không cần suy nghĩ, Hồng Uyển hứa ngay ngày mai sẽ bay lên gặp ông. Nàng quyết định hủy bỏ, hay ít ra cũng tạm hoãn, chuyến viếng thăm Hải. Dù sao, tình nghĩa với ông chồng già vẫn nặng hơn mối tình lãng mạn học trò nàng dành cho Hải. Không những nàng và ông đã có con với nhau mà sự đối xử của ông đã hết sức chu đáo. Nhờ ông, nàng đã có một cuộc sống thoải mái về phương diện kinh tế. Ông không những là người chồng mà còn là người có nhiều ân tình với nàng…

Tạ Quang Khôi (8-2002)
Blog Tạ Quang Khôi

http://taquangkhoi.blogspot.com

Share this post