Mùa Cô Hồn (Tùy Bút – Trương Thức Thái An)

Mùa Cô Hồn (Tùy Bút – Trương Thức Thái An)

Trong miền nam Việt Nam, những năm trước 1975, cứ đến rằm tháng bảy, khoảng bốn năm giờ chiều, những gia đình người Hoa đã bầy sẵn bàn thờ trước cửa nhà để chuẩn bị cúng cô hồn. Trên bàn thờ có nhiều đồ ăn mặn, gà, vịt, hoa quả, có vài đĩa đựng gạo sống, một đĩa đựng nhiều tiền cắc. Họ thắp hương từ chiều.

Khoảng chiều tối từ 6 hay 7 giờ, họ lại thắp hương lần nữa, cầm hương lên và miệng lâm râm khấn vái. Lũ trẻ con hàng xóm bu lại chung quanh đứng xem và chờ chủ nhà bố thí cho các cô hồn mà gọi tắt là “thí cô hồn”.

Sau đó họ cầm đĩa gạo lên hất tung ra phía trước sân. Còn đĩa tiền cắc thì họ nắm từng nắm hất tung lên phía trước cho lũ trẻ xúm nhau giành giật. Nhà nào có con đứng chầu dìa trước bàn thờ thì họ tung tiền cắc về phía các con của họ cho chúng nhặt được nhiều hơn. Sau đó họ đốt vàng mã để gửi xuống âm phủ cho thân nhân hay cho các cô hồn đang lang thang chầu chực.

Cúng kiếng và thí cô hồn xong, họ đem thức ăn vào nhà để cả nhà cùng ăn tối.  Rồi khuân bàn vào nhà cất.

Thời đó không thấy người Việt Nam bầy bàn thờ trước nhà để cúng cô hồn như người Tàu. Vì thế hình như chỉ có người Tàu có phong tục này.

Nhưng bây giờ trong nước có vẻ chạy theo đủ thứ vì chánh phủ đang cổ xúy loại văn hóa được du nhập từ Tàu. Vì thế báo chí trong nước viết bài chỉ vẽ dân cách cúng cô hồn sao cho phải cách vì sợ dân không biết làm.

Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thừa biết rằng sau vài chục năm cấm đoán dân chúng hội họp cúng kiếng rước đình rước thần vì đi ngược với giáo điều cộng sản quốc tế, dân trở nên thiếu thốn về mặt văn hóa và tín ngưỡng. Họ suy ra rằng, cách ru ngủ dân tốt nhất là cổ súy dân chúng chạy theo những lễ hội đâm trâu, chém lợn, hội làng này, hội làng kia thì dân chúng sẽ không để ý đến những cái xấu, cái tồi tệ của hệ thống cai trị kềm kẹp, độc đảng, độc tài của đảng Cộng Sản. Không những thế, dân chúng còn tưởng lầm rằng lúc này chánh phủ cởi mở hơn thời xưa nhiều, cho dân được tự do tín ngưỡng nên an tâm mà chạy theo sự xúi bẫy của đám cán bộ làng xã. Còn đám cán bộ văn hóa thì được lệnh viết bài xúi dục, dạy bảo dân cách cúng các ngày lễ hội và ca tụng đó là hành động có văn hóa. Và họ cũng viết thêm phần quảng cáo cho các dịch vụ du lịch đưa khách đi tham quan các làng vào những ngày lễ hội.

Nhìn các bà sồn sồn và các cô gái quê ăn mặc áo tứ thân trong các lễ hội của các làng miền Bắc thì biết ngay đã bị kỹ nghệ hóa. Áo tứ thân thế kỷ 21 màu sắc lòe loẹt, một cái áo tứ thân có hai ba màu chõi nhau, mỗi thân áo hay mỗi vạt áo là một màu khác. Mặt các cô các bà son phấn như hát tuồng. Cử chỉ nói năng như dân đi buôn hàng chạy. Chẳng còn thấy vẻ nết na thùy mị của thời “Lỡ Bước Sang Ngang” của Nguyễn Bính, trước khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam.

Người Trung Hoa lập ra tết Trung Nguyên, rằm tháng bảy cúng cô hồn, từ trước thời Lão Giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên. Nó là một loại tín ngưỡng dân gian của người Tàu. Họ tin rằng tháng bảy là tháng cô hồn, Diêm vương ra lệnh mở Quỷ Môn Quan vào rằm tháng bảy, thả cho ma quỷ túa ra, về dương thế. Đến 12 giờ đêm hôm đó thì phải trở về địa ngục. Người ta sợ bị ma quỷ quấy nhiễu cũng có, muốn làm phước bố thí cho chúng nó cũng có, nên người Tàu lo cúng rằm tháng bảy để được yên ổn. Cũng có thể, họ nghĩ rằng một ngày nào đó họ cũng sẽ trở thành một cô hồn lang thang tìm kiếm thức ăn và vàng mã thì sẽ có người khác cho lại.

Sau này khi du nhập vào Trung Hoa, Phật Giáo dùng rằm tháng bảy để làm lễ Vu Lan, báo hiếu cha mẹ. Vậy rằm tháng bảy nguyên thủy của người Tàu hoàn toàn không phải lễ Vu Lan của Phật Giáo.

Riêng tại Thừa Thiên và Quảng Trị, người ta hay làm một hay hai cái am trước sân nhà, thoạt nhìn tưởng là bàn thờ Ông Thiên giống như của người miền Nam. Hỏi ra thì mới biết đó là những cái am cúng những người chết vất vưởng, không nhà, không ai cúng cho, hoặc cúng những cái thai bị xảo của bà chủ nhà. Có thể có những chủ nhà còn có ý cúng cho những người chết dọc đường, chết trong tết Mậu Thân, trong Mùa hè đỏ lửa hay trong suốt cuộc chiến thời Việt Nam Cộng Hòa đang bị cộng sản Bắc Việt tấn công.

Những nước chịu ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa như Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam thì cũng theo những ngày lễ của Trung Hoa như:

– Rằm tháng giêng (tết Nguyên Tiêu), người Tàu ăn chè trôi nước tròn to bằng hai viên bi có nhân đậu đỏ, nhân đậu phọng hoặc nhân mè đen. Và ăn bò bía làm ở nhà còn gọi là xuân cuốn (cái cuốn của mùa xuân), dùng bánh tráng bột mì của Tàu cuốn năm sáu thứ rau xào và xá xíu, lạp sườn, tôm khô, ruốc khô, trứng chiên, đậu hũ chiên, sau hết cho vào một muỗng đầy đường trắng và một muỗng đậu phọng rang đã tán thành bột. Cuốn một cuốn to như trái bắp; ăn hai cuốn là no ứ hự.

– Rằm tháng năm (tết Đoan Ngọ), ăn bánh ú tro và rượu nếp (hay cơm rượu) để giết sâu bọ.

– Rằm tháng bảy, cúng cô hồn.

– Rằm tháng tám (tết Trung Thu), ăn bánh trung thu (bánh nướng).  Nhưng miền Bắc Việt Nam lại có thêm bánh dẻo.

– Tết Nguyên Đán (tết Âm lịch). Ở Mỹ, truyền thông và dân Mỹ gọi là Chinese New Year chứ chẳng ai gọi là Vietnamese New Year hay Korean New Year mặc dù người Việt và người Đại Hàn vẫn còn ăn tết này.

Riêng nước Nhật, kể từ khi chánh phủ loại bỏ không xử dụng âm lịch của Trung Hoa từ năm 1873, chuyển sang dùng Tây lịch, thì tết âm lịch của Tàu đã hoàn toàn bị loại bỏ từ năm đó. Chánh phủ Nhật không nhìn nhận tết âm lịch của Tàu như một ngày quốc lễ nữa. Người Nhật đón năm mới vào ngày 1 tháng 1 của Tây lịch kể từ đó.

Tuy nhiên trong tất cả những cái lễ tết của Tàu, người Việt Nam chỉ chú trọng tết Đoan Ngọ, tết Trung Thu và tết Nguyên Đán.

Những nước Á Châu khác thì ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, không dùng đến âm lịch của Tàu nên không có những cái lễ tết và các ngày rằm của Tàu và cũng không ăn tết âm lịch của Tàu.

Người Âu Châu có lễ Halloween. Có tên gốc là All Hallows’Eve, có nghĩa là đêm trước ngày lễ các thánh. Hallow là tiếng Anh cổ, có nghĩa là “thánh”. Cuối cùng trở thành Halloween. Lễ có nguồn gốc Công Giáo để tưởng nhớ những người vừa mới chết mà họ tin là còn ở ngục luyện tội, chưa được lên thiên đàng, tưởng nhớ các người và các thánh tử đạo.

Thực ra trước khi Cơ Đốc (Kitô) Giáo du nhập vào Âu Châu vào thế kỷ thứ nhất, dân Âu Châu cổ đã có các lễ hội mang tính cách tín ngưỡng dân gian của người Celt và người Gael. Làm lễ cho những người vừa chết về hưởng ít thức ăn. Vì thế người ta cho rằng giáo hội Công Giáo thời sơ khai đã Kitô hóa lễ hội này thành lễ Halloween.

Trong đêm Halloween, các nhà thờ kéo chuông, cầu nguyện cho các linh hồn đang thanh tẩy trong luyện ngục, làm bánh linh hồn “soul cakes” để trước thềm nhà của người vừa chết để họ về hưởng và chia cho trẻ em và người nghèo.  Họ cũng đem nến đến thắp trước những ngôi mộ của người thân vừa qua đời.

Trong thời cải cách Tin Lành ở Âu Châu vào đầu thế kỷ 16, giáo lý về “luyện ngục” bị phản đối và loại bỏ; vì thế người Tin Lành không cử hành lễ Halloween để cầu nguyện cho người vừa chết sớm thoát luyện ngục lên thiên đàng hay làm bánh cho người chết về ăn.

Ngày nay tại Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) lễ Halloween có tính cách giải trí và thương mại, trẻ em được mặc quần áo hóa trang và đi xin kẹo từng nhà. Kỹ nghệ làm kẹo và quần áo hóa trang có cơ hội buôn bán tốt. Những người trẻ có cơ hội đi dạ tiệc hóa trang, vui chơi với bạn bè.

Người Tin Lành ở Hoa Kỳ và Canada vui vẻ mở cửa phát kẹo cho trẻ em trong đêm 31 tháng 10 vì xem như lễ nhi đồng, không có tính cách tôn giáo nữa. Họ không trang trí nhà cửa bằng những hình đầu lâu sọ người hay các hình ảnh quỷ để mừng lễ Halloween.

Tuy nhiên nhiều người khác vẫn trang trí lễ Halloween theo như thông lệ.

Nhìn chung từ Âu sang Á, thời cổ xưa khi chưa có những tôn giáo lớn hình thành hay du nhập từ nước khác vào, người ta đã tin có linh hồn nên làm ra các lễ để mời đón linh hồn về ăn uống, chiêu đãi các linh hồn một ngày cho xoa dịu cả năm bị nhục hình trong địa ngục.

Bởi đâu mà con người biết rằng ngoài thể xác ra, họ còn có linh hồn? Phải chăng từ thời cổ xưa, con người đã kinh nghiệm được sự hiện hữu của ma quỷ, là loài không có thân thể như người sống mà chỉ có những hình ảnh xấu xí và kinh dị, khi biến khi hiện.

Các hình ảnh kinh dị này đi theo phá phách họ, có khi hiện ra ngay trong nhà họ lúc đêm khuya hay hiện ra trên con đường làng, đường huyện lúc đêm vắng ít người qua lại khiến họ sợ hãi. Mục đích của ma quỷ là hù dọa, làm cho người ta sợ mà làm bàn thờ cúng tế chúng để chúng có một chỗ ăn, chỗ ở. Đôi khi có gia chủ phải mời thầy cúng, thầy pháp đến cúng kiếng, dán bùa trừ tà ếm quỷ.

Thông thường, người ta thường lầm tưởng rằng ma quỷ là linh hồn của những người chết mà biến thành ma quỷ vì chết nhằm giờ trùng, giờ xấu hay vì không siêu thoát v.v…

Nhưng Kinh Thánh của Đức Chúa Trời cho biết rằng ma quỷ là quân đội của Satan (Chúa quỷ), chúng nó là những thiên sứ sa đọa bị Đức Chúa Trời đuổi ra khỏi thiên đường. Chúng ở đầy dẫy trên không trung và trên quả địa cầu này. Chúng chẳng phải là linh hồn của những người đã chết biến thành ma quỷ dù đôi khi chúng giả dạng giống y như người đã chết cố ý đánh lừa thân nhân người chết để cúng tế chúng nó. Chúng có quyền phép biến hóa, hiện ra hù dọa, và có thể hành hạ con người, phá phách trong nhà của người ta gây tiếng động ồn ào, vặn nước chảy trong buồng tắm, dựng đứng giường, kéo bàn ghế  hay xúi dục giết người này người nọ v.v…

Đức Chúa Trời đã tạo ra loài người và ban cho linh hồn trú ngụ trong thân xác người đó cho đến khi xác bị chết, linh hồn phải đi ra. Nhưng hồn người không được Đức Chúa Trời cho phép biến thành ma quỷ hay thần thánh. Người suốt đời chỉ là người mà thôi cũng như thiên sứ thì suốt đời là thiên sứ, không bao giờ biến thành người. Dù cựu thiên sứ trưởng của Đức Chúa Trời là Lucifer có quyền phép cao đến đâu cũng chỉ ở cấp bậc thiên sứ mà thôi. Nhưng Lucifer không an phận ở ngôi vị của mình, hắn muốn trở thành Đức Chúa Trời vì nghĩ rằng quyền phép của hắn cũng ngang hàng với Đức Chúa Trời rồi. Bởi vì Lucifer kiêu ngạo muốn phá vỡ trật tự ngôi thứ nên bị Đức Chúa Trời loại bỏ hắn ra khỏi hàng ngũ thiên sứ thiện, Ngài đuổi hắn và các thiên sứ theo hắn ra khỏi thiên đường. Từ đó Lucifer và bè lũ của mình trở thành thiên sứ ác, mặc lấy những hình ảnh xấu xí, kinh dị, chuyên đi khắp thế gian dụ dỗ loài người phạm đủ thứ tội chống nghịch cùng Đức Chúa Trời.

Những cái thai bị xảo hay bị cha mẹ nó cố ý lấy ra, hay những đứa trẻ chết non khi còn bé nhỏ đều được thiên sứ của Đức Chúa Trời đem về thiên đường nuôi dưỡng. Ma quỷ không thể bắt những đứa bé này theo chúng. Dưới địa ngục không có trẻ con hay các thai nhi.

Đây là một câu chuyện có thật. Có một người thanh niên Việt Nam sống ở Toronto, Canada. Anh này tên Vinh, bị hư thận nên phải đi lọc thận một tuần ba lần. Vì thế anh không muốn nghĩ đến việc lập gia đình. Nhưng khi gần bốn mươi tuổi, anh gặp một cô Việt Nam, tên Ánh, hai người yêu nhau và kết hôn với nhau.  Họ có được một đứa con trai, gia đình thật hạnh phúc.

Khi đứa con được bảy tuổi, người vợ rủ chồng dẫn con về Việt Nam thăm gia đình bên vợ. Vì thương vợ con nên anh đi theo. Trước khi đi, anh đã liên lạc với bệnh viện tại Sài Gòn cho xe đến đón anh tại phi trường Tân Sơn Nhất khi vợ chồng anh vừa đến nơi để chở anh vào bệnh viện lọc thận ngay tức khắc.

Cuộc lọc thật thứ nhất thành công, anh vui vẻ ra về đi chơi với vợ con. Hai hôm sau anh phải trở lại nhà thương để lọc thận lần nữa. Lần này thì anh đi luôn về thiên đàng với Chúa. Vợ anh làm hỏa thiêu cho anh rồi đem tro rải xuống biển y như có lần anh đã nhắc đến, rồi dẫn con về Canada.

Một ngày Chúa Nhật, hai chị em cô Ánh dẫn hai đứa con trai của họ đi nhà thờ như thường lệ, nhưng hôm đó có một ông mục sư ở xa đến thăm hội thánh. Sau khi giảng xong, ông mục sư mời gọi những người có nhu cầu cần cầu nguyện thì bước lên.

Hai đứa con trai của hai chị em cô Ánh bước lên, một đứa lên bẩy, một đứa lên tám. Ông mục sư hỏi:

– Hai cháu muốn xin Chúa điều gì?

Đứa anh họ trả lời:

– Con muốn xin Chúa cho con gặp dượng Vinh con.

Đứa trẻ ngây thơ xin một điều mà chưa ai dám xin.  Ông mục sư thấy nó thành thật quá nên cũng đặt tay lên vai nó và cầu nguyện Chúa ban cho nó được như điều nó nài xin. Tức thì nó thấy mình được lên thiên đàng, gặp Chúa Jesus mặc áo trắng toát và dượng Vinh đứng phía sau Chúa. Chúa xoa đầu nó, và dượng Ánh nói với nó khi trở về thế gian nhớ nghe lời mẹ và thương mẹ. Khải tượng thiên đàng mà Chúa cho nó thấy chỉ vài giây thôi, rồi biến mất.

Nó vui vẻ kể lại cho mọi người chung quanh nghe, còn bảo rằng áo của Chúa màu trắng nhưng đẹp hơn áo trắng của dượng Vinh.

Em họ nó là con của anh Vinh nghe thấy thế liên thưa với ông mục sư:

– Xin ông mục sư cầu nguyện Chúa cho con được gặp ba con!

Ông mục sư lại đặt tay lên vai đứa bé bẩy tuổi con của anh Vinh mà cầu nguyên với Chúa. Ngay lúc đó nó thấy mình được lên thiên đàng, gặp Chúa Jesus và cha nó, nó chạy đến ôm lấy cha. Anh Vinh nói với nó rằng:

– Ba thương con lắm, con phải thương mẹ và nghe lời mẹ luôn.

Khi nó ra khỏi khải tượng thiên đàng liền vui vẻ kể cho mọi người nghe. Nó rất sung sướng vì gặp lại cha và biết chắc rằng sau này khi nó lìa đời nó sẽ lên thiên đàng và gặp lại cha nó.

Có một bà cụ tuổi tám mươi đang đứng gần đó nghe thấy hai đúa bé kể chuyện vừa được đi thăm thiên đàng, bà thích quá liền nói với mục sư:

– Xin ông mục sư cầu nguyện Chúa cho tôi được đi thăm thiên đàng.

Liền lúc đó bà nghe tiếng Chúa phán bên tai bà:

– Con sắp được lên thiên đàng rồi, cần gì mà phải đi thăm!

Bà bật cười thành tiếng vì nhận ra mình đã già lắm rồi, chẳng còn sống bao lâu trên đất nữa. Bà cảm thấy Chúa thương yêu bà quá, dù bà xin một điều thật trẻ con nhưng Chúa cũng giải thích cho bà hiểu lý do Chúa không cho bà đi thăm thiên đàng. Và sự giải thích của Chúa cũng xác nhận rằng bà sẽ lên thiên đàng với Chúa ngay sau khi bà lìa đời.

Ấy thế mà bà còn sống đến ngày nay, tám mươi bẩy tuổi rồi. Đối với Chúa, “sắp” không có nghĩa là vài ngày, vài tuần hay vài tháng. Nó chỉ có nghĩa số ngày còn lại của bà cụ trên mặt đất này rất ngắn so với khoảng thời gian bà đã sống 80 năm.

Hai đứa bé kia được Chúa cho đi thăm cha và dượng trên thiên đàng vì Chúa muốn xác định với chúng rằng thiên đàng có thật để nâng đỡ đức tin cho chúng. Sau này khi chúng lớn lên Chúa có thể sẽ dùng chúng cho công việc của Ngài.

Người tin Chúa theo các giáo phái Tin Lành hay cả nhóm người Công Giáo Về Nguồn không tin vào giáo lý “Ngục Luyện Tội”, nghĩa là sau khi chết phải vào đó một thời gian để luyện cho hết tội rồi mới lên thiên đàng.

Vì thế đám tang của người Tin Lành không buồn thảm mà là một khởi sự cho một đời sống vĩnh cửu trên thiên đàng, hưởng bình yên của nước Trời đời đời trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và con Ngài là Chúa Jesus Christ.

Bởi huyết của Chúa Jesus đã đổ ra một lần, thân thể của Ngài đã tan nát và chết trên thập tự giá một lần là đủ để hoàn tất luật pháp của Đức Chúa Trời, chết thay cho tội lỗi của nhân loại. Sự hy sinh của Chúa Jesus có quyền năng để chuộc tội cho những ai tin đến Ngài. Ngài cứu người ta khi còn đủ thứ tội vấn vương rồi giúp người ta sống theo ý Ngài, là ý của Đức Chúa Trời, trong lành, thánh thiện. Chúa không bắt người ta làm lành trước rồi mới cứu họ sau.

Kinh Thánh, sách Lu-Ca, đoạn 23 chép lại:

Khi Chúa Jesus đang bị treo trên thập tự giá, có hai tên trộm cũng bị treo ở hai bên thập tự, một tên mắng nhiếc Ngài rằng: “Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa!”

Nhưng tên trôm kia trách nó rằng: “Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác”. Đoạn lại nói rằng: “Hỡi Jesus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!”

Đức Chúa Jesus đáp rằng: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.

Chúa cứu tên trộm cướp này vào giờ phút sau cùng của hắn, hắn được Chúa cho đi thằng lên thiên đàng.

Hình ảnh hai tên trộm bị treo hai bên Chúa Jesus cũng là hình ảnh của hai loại người. Một người không ăn năn và chỉ nghĩ đến sự sống của thể xác. Một người ăn năn và lo nghĩ cho sự sống của linh hồn mình.

Trong mùa lễ các vong hồn, thay vì chỉ lo bố thí cho các quỷ hay các cô hồn có đồ ăn, đồ dùng, người ta cũng nên lo nghĩ đến linh hồn của mình sau khi lìa dương thế có một chỗ về xứng đáng, bình an vĩnh cửu thì hơn.

Trương Thức Thái An (14/10/2017)

Share this post