Ngã Tư Hoàng Hôn (Truyện Dài – Văn Quang) Chương 26

Ngã Tư Hoàng Hôn (Truyện Dài – Văn Quang) Chương 26

NGÃ TƯ HOÀNG HÔN
* Truyện dài – VĂN QUANG
Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2002

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 26

Buổi sáng Chủ nhật trở nên trống rỗng. Phùng đi rồi, hết chỗ đánh tổ tôm. Còn lại bốn người thì ông cựu dân biểu say sưa tối ngày mới bị té bể đầu phải nằm liệt ở nhà nên chưa thể lập sòng tổ tôm khác. Quý quay ra binh xập xám hoặc đánh chắn còm giết thì giờ. Ông Huy tính bò lên Cổng Xe Lửa số 6 chui vào nhà một anh sĩ quan Công Binh cũ đánh mạt chược cho qua ngày, nhưng ông phân vân mãi. Ở đó đông chân quá, chân như chân rết đến muộn là hết “vé”. Vả lại, ông chẳng muốn tranh chân với anh em khác cũng cần một chỗ cho hết ngày Chủ nhật. Sáng nay ông ngồi nhà bên ấm trà đặc. Độc ẩm đôi khi là một cái thú của người tao nhã nhưng đôi khi cũng là cánh cửa mở ra sự cô đơn như thấy mình hiện lên trong sa mạc. Bạn bè ông đang lần lượt ra đi, HO1, HO6, HO8… Diện đoàn tụ, diện tỵ nạn, diện di dân, Pip… Theo diện nào cũng là đi khỏi đất nước này, lý do nào cũng là đi, thoát cảnh này. Và, chính ông cũng sẽ đi. Năm 1991 sẽ ra đi mười tám ngàn người diện HO. Có lẽ ông đi vào dịp này chăng. Cái đó tùy thuộc hai nhà nước họp kín, họp hở với nhau, cò kè cái gì, nhượng bộ tới đâu. Đùng một cái hai nhà nước có điều gì bất hòa, chương trình nhân đạo tạm xếp xó. Những bộ mặt đang hớn hở bỗng xẹp xuống như cái lốp xe xìu. Lại một mớ tin đồn lao xao tung ra, chẳng anh nào đúng, chẳng anh nào sai. Có cái tin được nhà nước tuôn ra bằng một ngả nào đó, có tin báo bên Mỹ đăng theo một lời tuyên bố nào đó và cũng có tin bà con bên kia viết thư rồi thiên hạ xào lại. Anh nào muốn nghe thì nghe cho khoái lỗ nhĩ, anh nào không được đi hay không cần đi, bàn ngược bàn xuôi. Ông Huy nửa nạc nửa mỡ, nửa mừng, nửa tỉnh queo, buông mặc cho cái sự đời xoay vần. Nó đã xoay ông chóng mặt, nhảy đom đóm mắt, bây giờ xoay theo nó chỉ có nước hộc hơi.

Ông nhấp một ngụm trà, phì phèo điếu thuốc lá rẻ tiền, rẻ thì rẻ, từ ngày cấm thuốc lá ngoại, thuốc lá nội lên giá vù vù như bốc theo hơi xăng dầu. Lối làm ăn của dân ta vẫn vậy, bóp được là bóp lè lưỡi người tiêu thụ. Chính phủ cũng phe lờ. Người mua bực mình, thà kiếm thuốc ngoại mua lậu, hơn tí tiền thôi, hút vừa ngon vừa đậm, vừa hả cơn bực. Chính ông cũng ở vào tâm trạng ấy khi loại thuốc rẻ tiền ông vẫn hút quen tăng từ hai trăm một gói lên đến bốn trăm rưởi. Ông chửi thầm thằng sản xuất thuốc nội.

Tiếng giầy cồm cộp ngoài hành lang rồi Giá bước vào. Tiếng cười rổn rảng ồm ồm của Giá vang lên:

– May quá, gặp cậu ở nhà.

– Rảnh rỗi thế? Đi đâu mà láng coóng vậy?

– Bận bỏ mẹ chứ rảnh rỗi gì đâu. Đi chào anh em họ hàng. Mai tớ đi rồi. Đi buổi chiều, tớ đi Air France. May quá, nó nhét vào chuyến Air Việt Nam thì mệt.

– Air nào chẳng được. Miễn đến Thái Lan thì thôi.

– Air France vẫn khoái hơn chứ. Ngồi lịch sự như bố Tây, tiếp đãi ra gì. Đến Thái Lan được vào trại ngay, khỏi phải chờ trong mấy cái nhà tôn, dài mặt từ sáng đến tối.

Ông Huy nhún vai:

– Mẹ kiếp, các cậu vẽ chuyện. Nếu nó nhét lên tàu biển cho ngồi trong khoang chở súc vật, chắc ai cũng đi.

– Cậu đừng đùa. Tớ đi theo diện bảo lãnh, con tớ trả tiền đàng hoàng chứ có đi “miễn phí” như mấy anh khác đâu. Tớ không thèm xin Mỹ đồng xu nào. Từ tiền máy bay, tiền nhà, tiền ăn tiêu, tiền thuốc, tiền bảo hiểm, tiền xã hội, tiền mua quan tài nữa, Mỹ bắt các con tớ bảo đảm hết. Nó chỉ cho tớ ở nhờ nước nó thôi.

– Thế cũng là tử tế rồi, nó đếch cho, cậu làm gì nó. Công tâm mà nói, nó có cái đểu và có cái tử  tế. Có việc nó nhân đạo ra trò và cũng có việc nó tàn nhẫn đến nơi đến chốn. Cậu sang Mỹ liệu mà sống.

Giá vốn không thích nói chuyện chính trị chính em và quen sống kiểu nhà buôn. Cuộc sống từ hơn mười năm nay cũng huấn luyện cho anh ta cách phòng thủ là phe lờ những đề tài công kích bất kỳ chính phủ nào, dù là Mỹ hay ta hay chế độ cũ. Giá chỉ bàn tới chuyện Phi Châu có nhân quyền hay không có nhân quyền là đã bạo miệng lắm rồi. Cho nên Giá ngồi xuống chiếc ghế bành cũ được bọc lại bằng simili nâu để sát tường. Đỡ ly nước trà bốc khói từ tay Huy, Giá lảng chuyện:

– Tớ sang bên ấy có nhà cửa sẵn sàng của con tớ. Nhà nó khá lắm, năm buồng ngủ, một phòng khách, một vườn hoa. Tớ chỉ ngồi chơi với cháu rồi ngắm cảnh trời đất.

Ông Huy thấy Giá có vẻ muốn phô trương. Cứ nhìn kiểu cách ăn mặc của Giá đủ biết. Giày tây, bao da to tướng ngang thắt lưng đựng kính và thuốc, kính trắng gọng vàng, áo sơ mi rộng thùng, đầu chải mượt, tóc dài phủ gáy. Đúng là con người của thời mốt. Mặt mũi phởn phơ đầy vẻ hãnh diện vì được đi Mỹ, được là một nhân vật nào đó mà Mỹ đang cần hay ít ra cũng là một anh nhà giàu có con cái thành đạt ở xứ người. Đó là sự hơn người duy nhất mà Giá muốn tỏ ra. Tuy vậy, Giá cũng chưa lố bịch như vài anh khác.

Ông Huy lại nghĩ đến một số bạn bè. Họ cúi đầu trầm lặng trước khi rời bỏ quê hương, họ chân thật đau buồn vì cái thân phận phải đi ăn nhờ ở gửi, họ hiểu thế nào là cái tủi buồn khi nhận đồng đô-la rơi ra vì lòng nhân đạo. Họ biết rất rõ những cặp mắt của người chính quốc sẽ soi mói trong cái vẻ hững hờ nhìn đám dân lưu lạc, họ thiết tha mong có ngày được trở lại quê hương. Nhưng có ai trở về hay không lại là chuyện của thời gian. Ông thấy Giá không có một giọt buồn nào như thế, dù chỉ là một chút lòng man mác khi phải rời bỏ nơi mình đã sống lâu ngày. Giá còn mải hãnh diện vì cái tương lai rực rỡ đang chờ ở chân thang máy bay. Ông Huy buồn vì Giá thay đổi nhiều quá. Ông yêu biết bao thằng Giá học trò trường huyện ngày nào.

Giá bỗng lên tiếng:

– Tôi mới đến thăm bà Cúc rồi ghé thăm cậu đây. Tội nghiệp, bà ấy xuống quá. Mới ở bệnh viện về sáng qua. Cậu có sang thăm bà ấy chưa? Bạn bè hồi xưa chẳng còn lại mấy người ở đây. Bà ấy nhắc tới cậu đấy.

Ông Huy lặng người như vừa nghe một lời trách móc hay đúng hơn là một lời sỉ mắng. Ông vô tâm hay nhẫn tâm quên bà Cúc trong hoàn cảnh này? Ông thù ghét gia đình bà chăng? Vì cái gì nhỉ? Vì ông Tuân, chồng bà là cán bộ cấp cao của chế độ này, đối nghịch với chế độ cũ ông từng phục vụ, hay vì hành động vô luân của thằng con út của bà? Có đáng là những thù hằn không? Bây giờ cả hai người đó còn gì nữa để ông thù hận? Cuộc sống của chính họ đã quăng họ xuống. Họ như những pho tượng đất đã tự sụp đổ. Nhưng giữa ông và bà Cúc vẫn là chỗ thân tình, ít ra ông và bà cũng đã trải qua một mối tình đầu còn lại mãi trong ký ức, không gì xóa nổi. Thật ra hai căn nhà đối diện hai bên đường phố, dù bề ngoài vẫn thản nhiên sống như cùng một xóm làng, nhưng từ lâu đến nay bề trong của họ là sự xa cách lạnh nhạt, sự đố kỵ cực kỳ sâu sắc, sự ghen ghét thường xuyên đến nỗi sự đau khổ của gia đình này là sự vui mừng của gia đình kia. Ngoài mặt họ có thể tha hồ nói thương mến giúp đỡ nhau nhưng tự trong tâm gan, họ muốn cho nhau tàn tạ. Sự phân hóa hiểm hóc đó, chính ông Huy đã duy trì nó mà không hề hay biết. Nhìn chồng bà Cúc leo lên xe hơi đi làm mỗi buổi sáng, ông bĩu môi với bè bạn và xóm giềng: “Quan cách mạng đấy. Giai cấp mới. Bọn tư sản đỏ đang tập làm tư bản. Giàu lắm, sang lắm, toàn đồ đi cướp của người khác”. Đại khái như thế, ông nuôi sâu lòng căm hận mà ông không hay. Ngược lại từ bên phía gia đình bà Cúc, chắc ông Tuân cũng nhìn ông bằng đôi mắt khinh thường “Bọn ngụy hết thời, cắn xé lẫn nhau, hỏng tận gốc từ trong nhà hỏng ra, xuống cấp từ tâm hồn đến thể xác, toàn bọn bỏ đi, chẳng nên cơm cháo gì, chỉ dài mồm ra chửi lén, nói láo là nhanh”.

Cái bề trong thù địch ấy dựng lên bức tường vô hình nhưng rất kiên cố ngăn cách họ. Mặc mọi chủ trương đường lối, mặc những khoa ăn nói thân thiện bề ngoài, mặc cả những cái bắt tay khi cần thiết, những câu xã giao không thể tránh khỏi. Hai căn nhà đối diện như hai cái pháo đài âm thầm bắn phá nhau. Cuộc chiến tranh còn tiếp diễn chăng? Tư bản hay Cộng sản đã để lại trong hai tâm hồn con người hai kho thuốc súng ấy? Cái khoảng cách còn lại như một cái hào sâu thăm thẳm kia lấy gì lấp lại cho bằng? Thây người ư? Chủ nghĩa ư ? Dù cho chế độ Cộng sản có lỗi thời, dù cho chế độ Tư bản có tàn lụi, dù cho có một thứ chủ nghĩa nào đó sẽ vượt lên trên tất cả, liệu có lấp nổi cái hố sâu đã đào khoét tận đáy tâm hồn con người? Chỉ có một thứ  duy nhất có thể san bằng lấp kín không để lại dấu vết nào, đó là tình cảm chân thành của mỗi con người. Không gì khác hơn nữa!

Khi Giá về, sau cái bắt tay từ biệt, ông Huy biết rằng đã mất một người bạn. Ông vẫn suy nghĩ về sự san bằng bức tường ngăn cách, không chủ nghĩa, không chế độ, không đường lối chủ trương nào xen vào được thứ tình cảm đó cả. Con người thật sự chỉ có tình thương yêu, chỉ có sự chân thành mới có thể gần gũi nhau dù bất cứ ở đâu.

Buổi chiều, ông Huy ăn mặc sơ sài, lê đôi dép da bước sang bên kia đường. Ông bình thản bấm chuông nhà bà Cúc. Ông vẫn nhìn thấy cái cánh cửa sắt dài sơn xanh này hàng ngày, vậy mà ông không hề biết bên cạnh đó, trên bức tường dài cẩn gạch men xanh có một cái nút chuông điện. Ông cúi đầu đứng đợi. Một cô gái nhỏ nhắn ra mở rộng cánh cửa mời ông Huy bước vào. Cô đưa ông lên lầu, ngồi chờ ngoài phòng khách trong lúc cô bé vào phòng ngủ báo tin cho bà Cúc. Ông đưa mắt quan sát căn phòng. Hầu hết là đồ gỗ đơn sơ, vài loại đồ dùng bình thường, trên tường treo năm bảy cái bằng khen, huy chương, huy hiệu. Rõ ra là nhà một viên chức thanh bạch, một cán bộ cao cấp liêm khiết.

Chờ vài phút, ông Huy nghe tiếng dép bước ra. Ông đứng dậy đón bà Cúc. Bà mệt nhọc, đi từng bước nặng nề. Ông Huy thản nhiên đỡ bà ngồi xuống chiếc sô-pha nệm nâu. Bà Cúc nhìn ông, đôi mắt mệt mỏi nhưng long lanh:

– Anh chưa sang nhà tôi bao giờ?

Ông Huy mỉm cười:

– Bà cũng chưa hề đặt chân qua ngưỡng cửa nhà tôi…

Hai người nhìn nhau, cái nhìn như nối lại những xa cách, làm sống dậy một tình cảm mênh mông, không hẳn là tình yêu xa xưa mà là tình người. Tình người thứ thật, không phải là hàng mạo hóa! Bà Cúc chỉ gật đầu rất nhẹ. Ông Huy lặng người cảm thấy sự trong tâm thức mình có một đôi cánh vừa được giải thoát đang bay bổng.

Hai người không nói thêm lời nào, mặc cho đôi cánh bay, bay về xa xưa, bay trên trời cao hiện tại, bay về ngày mai. Họ cùng tôn trọng giây phút yên lặng tuyệt vời này. Cô bé đặt trên bàn hai ly nước từ bao giờ, họ không cần biết. Căn phòng khách rộng, thoáng mát, yên tĩnh.

Có tiếng chim non chiêm chiếp gọi mẹ từ dàn hoa ngoài cửa vọng vào.

– Ba mươi sáu năm rồi, anh nhỉ. Tôi thấy như vừa mới hôm qua.

– Cuộc đời ngắn lắm. Chúng ta mất tất cả rồi.

– Chúng ta sẽ được lại. Tất cả là do mỗi người thôi.

– Chúng ta đều sai lầm, đều bị mê hoặc, chúng ta đều tồi tệ bởi mọi thứ xung quanh tồi tệ. Chúng ta phải sống khác đi. Như tôi với bà hôm nay.

– Chúng ta già quá rồi anh ạ, chỉ còn lũ trẻ.

– Vâng, nếu chúng ta không khác đi thì lũ trẻ không khác được.

Bà Cúc bỗng mỉm cười:

– Anh lầm, lớp trẻ đã khác rồi đấy. Anh biết không, con Vân nhà anh vào tận trại tù thăm thằng Khánh nhà tôi.

– Vậy sao? Chuyện đó tôi không hề biết.

– Tôi biết vì chị Ba nói lại tên người vào thăm. Tôi hiểu chuyện gì đã xảy ra giữa hai đứa. Chúng nó sẽ xa nhau vì anh mang con anh đi, nhưng quan trọng là chúng nó thành thật với nhau. Thành thật với sự hư đốn, sự tàn phá của chính mình.

Ông Huy cúi đầu, mười ngón tay ông đan lại trên đầu gối. Tiếng ông trầm trầm:

– Tương lai những đứa con hư hỏng của tôi và đứa con hư hỏng của bà bây giờ ra sao là do chính chúng nó định đoạt. Bố mẹ không còn ảnh hưởng tới con cái nhiều như xưa nữa. Đứa nào muốn lao vào con đường hư hỏng sẽ có nhiều cơ hội hư hỏng hơn, còn đứa nào muốn có tương lai tốt đẹp cũng sẽ có nhiều phương tiện hơn để đi tới. Nếu chúng nó biết được điều ấy và xã hội không cho chúng nó ăn bánh vẽ.

– Phải thú nhận rằng lớp trẻ của chúng ta bất hạnh.

– Vâng. Nhưng đừng vịn vào đó làm cái cớ phá phách.

Bà Cúc thở dài:

– Tôi không biết rồi tôi sẽ sống ra sao. Anh xem đấy, trong tình hình này, chồng con đi hết cả. Ông chồng tôi ra Hà Nội rồi ở lì ngoài đó, bị bắt, bị cầm chân hay lẩn trốn, tôi chẳng có tin tức gì. Thằng con cả đổi việc lên Pleiku, đứa con gái về với chồng con trên vùng Thượng du Bắc Việt, thằng con út ở tù, còn lại mình tôi. Căn nhà trống vắng, đời sống buồn tẻ, danh dự hão huyền cũng chẳng còn. Có lẽ tôi sẽ trở về Bắc kiếm một căn nhà nhỏ, một mảnh vườn để nương thân.

– Tôi nghĩ người ta cần đến khả năng của bà ở đây, bà cứ ở lại. Chẳng việc gì phải trốn tránh. Bà hãy làm cái gì có thể làm được bằng chính lương tâm mình. Thế là đủ rồi. Tôi cũng vậy, tôi sẽ ra đi và mang theo những đứa con. Thú thật với bà, tôi đau xót, tủi buồn khi phải bỏ nhà cửa quê hương ra đi và chẳng nhìn thấy gì ở đầu đường bên kia. Song hoàn cảnh của tôi không thể làm khác được. Tôi hy vọng sau một vài năm, tôi sẽ lại trở về đây để còn được nhìn thấy bà, thấy bà con anh em. Lương tâm tôi lúc này không yên ổn đâu bởi tôi không thể làm được bất cứ việc gì và người ta cũng chẳng muốn cho tôi làm. Bà hãy tưởng tượng rằng tôi đang giống một con ngựa bị giật dây cương phóng tới hàng rào và đành lao mình qua bất cứ chỗ nào của hàng rào có thể lao qua được mà chẳng cần biết bên kia là cái gì.

– Nhưng cũng hy vọng mong manh bên kia là đại lộ?

– Người ta thường nuôi chút hy vọng để mà sống.

Bà Cúc dựa vào chiếc gối bông, tiếng bà mệt mỏi:

– Thật ra thì tôi với anh đều đang đứng trước ngã tư, chẳng biết chọn con đường nào là đúng. Hay là chẳng có con đường nào đúng?

Ông Huy gật gù:

– Con đường đúng nhất là con đường tôi sang đây thăm bà.

– Và tôi cũng sẽ sang thăm anh.

Nhận thấy vẻ mỏi mệt trên khuôn mặt xanh xao của bà Cúc, ông Huy đứng lên từ giã. Hai người bạn già cầm nhẹ tay nhau như cùng muốn nói một điều gì đó, song chẳng câu nói nào diễn tả nổi tâm trạng họ lúc này. Ông Huy xoay người bước đi. Bà Cúc lặng lẽ nhìn theo, nghe rõ từng tiếng chân ông bước xuống những bậc thang. Bà chợt mỉm cười nghĩ thầm: Tại sao lại không hôn nhau một lần cuối nhỉ?

Ông Huy bước ra lề đường. Trong khi ông chờ dòng xe cộ đi qua, ông nghe tiếng gọi từ phía sau:

– Chào bố. Bố khỏe không?

Ông Huy quay lại, nhận ra Nghĩa Pê Cu. Người bạn tù trẻ của ông đang vòng cái lốp xe đạp qua vai, chiếc áo màu nâu nhạt đầy dầu mỡ, chiếc quần xanh bạc phếch cũng nhem nhuốc không kém, mái tóc dài như muốn phủ kín cả tai, duy có khuôn mặt anh ta vẫn trẻ trung tươi tỉnh. Ông Huy thân mật nắm vai Nghĩa:

– Làm gì đi ngang đây?

– Con về sửa xe ở ngã tư này rồi, trên chợ hồi này có ba bốn thằng sửa xe có ống bơm điện, có đủ đồ nghề nên nó cạnh tranh, con văng về đây.

– Nhà tôi trước mặt, lúc nào rảnh ghé chơi.

Nghĩa nheo mắt:

– Nhà bố ba bốn tầng, cao và sang thấy mẹ, leo mỏi chân.

– Cậu mỉa tôi đấy, phải không. Dù sao mình cũng từng là bạn tù, đồng cam cộng khổ với nhau.

– Đồng cam cộng khổ cái kiểu cơm bố bố ăn, đồ thăm nuôi của bố bố đớp hì hà hì hục. Còn cơm con con ăn, phải thế không? Cái kiểu đồng cam cộng khổ của bố con xin thua.

Ông Huy cười. Nghĩa hỏi luôn:

– Bố vào nhà anh cán bộ hạng nặng này làm gì thế?

– Tôi vào thăm… bà con.

– Bố lại “thỏa hiệp” với chúng nó rồi. Con thì không bao giờ nhé. Có chết con cũng chẳng cần chúng nó. Đ… bao giờ chơi được với anh tư sản đỏ.

– Tôi không nghĩ đến chuyện thỏa hiệp hay không mà chỉ nghĩ đến con người với nhau.

– Nó có “con người” với mình đâu. Nó chỉ nói láo chứ tình nghĩa gì. Nó vẫn “khện” mình tối mặt.

Ông Huy hiểu rằng Nghĩa vẫn là con người cố chấp, con người trên cả sự quá khích thành một thứ “bản tính” khó chữa. Ông lắc nhẹ vai Nghĩa như đùa cợt:

– Cậu vẫn là Nghĩa Phục Quốc!

– Phục Quốc với Phục kích gì! Có anh nào “phục” với mình đâu, chúng nó biến hết ráo rồi. Con phục cái bánh xe đạp kiếm cơm đây nè. Bố sắp đi Mẽo chưa?

– Vài tháng nữa. Còn cậu thế nào?

– Dân Phục Quốc không có tiêu chuẩn HO. Nghĩa là thằng Mỹ nó đếch nhận dân Phục Quốc là bạn, con cũng đếch cần. Con có theo Mỹ bao giờ đâu. Chúc bố đi mạnh giỏi. Nhớ đớp nhiều bơ sữa vào cho mập.

Nói rồi Nghĩa Pê Cu cười hì hì bỏ đi và có vẻ khoái chí vì câu móc họng ấy. Ông Huy nhìn theo dáng đi ngất ngưởng của Nghĩa bỗng thấy xót thương gã con trai ấy. Gã cũng chẳng định hướng được cuộc đời mình, trong lòng gã còn mang đầy thương tích của cái mộng làm nhà ái quốc phút chốc bị bẻ gãy, chưa đứng vững đã bị đốn ngã để rồi tự mình phải bò dậy, chẳng còn biết mình đứng ở đâu giữa không gian bao la. Có lẽ là gã hận thù tất cả, không trừ một ai. Ông Huy lại trở nên buồn bã, băng sang đường trở về nhà, leo chậm từng bậc thang lên lầu đến phòng con gái. Ông dừng lại bởi một tiếng rên nho nhỏ từ  phòng Vân lọt ra. Ông đẩy nhẹ cửa nhìn vào. Vân đang nằm thiêm thiếp trên giường, chiếc quạt máy chạy vù vù trên mặt bàn phấn. Ông lại nhẹ nhàng đóng cửa, lòng nặng trĩu. Ông hiểu mấy hôm nay Vân đau ốm bệnh gì. Có lẽ Vân cũng qua khỏi thôi, chỉ tại cô y tá vụng về, con bé bị băng huyết, sáng nay đã đỡ nhiều. Ông bước tiếp lên cầu thang, người ông như muốn gãy gập xuống. Ông ân hận vì đã cầm tiền của con tiêu mà không cần biết nó lấy ở đâu ra, hay ông cũng biết đấy song nhắm mắt bỏ qua. Quả là điều sỉ nhục lớn lao của một người cha, nhưng túi cạn rồi, ông không thể không nhận số tiền ấy. Nỗi đau vò xé, ông nằm trên giường như lịm chết.

Ông nằm mãi cho đến khi ánh nắng tắt. Mở cửa bước ra ngoài balcon, ông đứng trầm ngâm nhìn về phía ngã tư. Bốn con đường xe cộ qua lại như đan vào nhau, dòng người hối hả từ ngã tư tỏa ra rồi lại dồn về ngã tư. Ông tưởng như đó là trái tim Sài Gòn đang thổn thức đập, khi thì ứ nghẹn, khi thì trôi nhanh. Tất cả như những con rối làm những việc như ngớ ngẩn vô ích. Hoàng hôn đang rọi vệt nắng cuối cùng thoi thóp trải lên mặt ngã tư một màu vàng nhạt. Ông Huy nhớ đến câu nói của bà Cúc và ông nhận ra là quá đúng:

– Chúng ta đang đứng trước một ngã tư.

Ngã tư Sài Gòn trong buổi hoàng hôn!

(Hết)

Văn Quang (Sài Gòn, 2001)

Share this post