Ngày Tháng (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 1

Ngày Tháng (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 1

NGÀY THÁNG
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* An Tiêm xuất bản (Sài Gòn – 1968)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác: Tiểu Thuyết I & II (California 2014)

MỘT

Những tháng mưa làm cho ngày ngắn đi. Buổi chiều tan sở ra đến cửa đã thấy bóng tối chạng vạng lẫn trong sương mù và hơi nước, tôi đi dọc theo các khu phố trở về nhà dưới trời mưa, nghe gió lạnh thổi thấm qua quần áo, hôm nào có Vinh còn đỡ, bữa nào phải về một mình, vừa rét vừa buồn. Xe hơi bật đèn chạy khi còn ánh sáng làm cho buổi chiều hình như mất hết vẻ của nó. Đó là một khoảng thời gian không tên gọi. Như tuổi ba mươi của một người đàn bà, ngày tháng và hy vọng đã bắt đầu thoi thóp. Vinh đối với tôi như ngọn đèn xanh đỏ ở ngã tư đường giam hãm, giữ lại trong giây phút, trước khi tôi vượt qua bên kia. Đó là lúc nghỉ chân nhưng cũng nhiều khi làm mình bực bội.

Anh ở trên cao đó, không liên quan gì đến tôi, nhưng tôi phải nghe theo anh, nếu không, tôi không thể tránh được cảm tưởng mình phạm lầm lỗi. Tôi phải tuân theo hiệu đèn trước khi qua đường. Hẳn rằng ở đây không có ai biên phạt. Nhưng ít ra tôi cũng phải tuân theo một luật lệ nào đó trong khi đi đến tuổi già. Nếu không, tôi chỉ là kẻ trôi xuôi trong dòng ngày tháng. Tôi phải đuợc giữ lại trong cánh tay anh. Phải đuợc sống với anh để nhận ra mình. Không thể ù lì như buổi chiều bị đêm nuốt không còn lại một dấu vết. Dù việc ấy ích lợi hay không tôi không cần biết, nhưng còn có thể ngoi đâu lên khỏi mặt nước để thở, tôi phải ngoi lên để thở. Thở để sống. Và sống nghĩa là sống với một người nào đó. Sống một mình là ngắc ngoải, là chiều không ra chiều, đêm không ra đêm. Tự sờ mó trên thân thể mình là một điều nhục nhã, tự làm ung thối mình. Không có nắng ấm làm cho chín. Phải có một người chết đi trên tay tôi mới biết ra điều ấy. Tôi có yêu anh không có lẽ đây là việc tôi cũng chẳng cần đặt ra với mình nữa, bởi vì anh ấy đã chết.

Còn Vinh? Lần thứ nhất gặp Vinh khi vừa từ một tỉnh xa về Sài Gòn, cái nóng bức của thành phố cũ còn vây hãm lấy tôi làm cho tôi khiếp sợ. Ở đó, đêm không thể ngủ thẳng giấc vì nóng và vì tiếng phi cơ bay lượn, lên xuống, suốt hai mươi bốn giờ một ngày. Gió từ những bãi cát trắng chói mắt ngoài bờ biển và các dẫy núi đá, về mùa hè, thổi tới như hơi nước sôi. Những cây thông trong vùng phi trường cháy đen vì gió nóng. Hoa phượng vĩ trên các hè đường giống như những tia lửa nhìn thấy đằng sau  các chiếc phi cơ phản lực đinh tai nhức óc lên xuống mỗi lúc. Đời sống cũng bàng hoàng như tin tức về cuộc chiến tranh mỗi ngày đè nặng lên đất nước, tiếng bom đạn và động cơ làm rung chuyển nhà cửa, nói  chuyẽn nhiều khi người ta không nghe thấy tiếng nhau. Người lớn ngày tắm hai ba lần vẫn nóng, trẻ con rôm sẩy đầy mình.

Tôi có thể nói gì về Vinh trong tình trạng này chăng? Hơi lửa mặt trời còn chạy rần rần trong máu chưa thoát khỏi những lỗ chân lông cùng với cái chết của chồng tôi còn ở bên cạnh những đêm ngủ một mình. Vinh mời tôi uống một tách trà trong ngày đầu tiên ấy và tôi nghĩ anh còn trẻ hơn tôi. Buổi chiều đó cơn mưa thổi bụi và lá vàng bay xao xác trong công viên ở phía bên kia đường. Tôi nghĩ giá được sang ngồi trên chiếc ghế đá ở góc vườn hoa lúc đó cũng thích. Vinh bỏ đuờng, vắt chanh vào tách trà cho tôi. Chén trà sẽ làm phai đi phần nào lựợng mặt trời đang muốn biến tôi thành cây thộng cháy trong phi trường. Khi Vinh hôn tôi cái hôn đầu tiên, tôi nghĩ, cuộc hỏa hoạn đã được rập tắt, tôi bắt đầu phải thở hết thán khí ra khỏi ngực. Mấy ngón tay Vinh thơm mùi vỏ chanh. Mùi thơm ấy báo hiệu rằng tôi phải làm người làm vườn trở lại. Phải trồng trọt lại những tình cảm của mình. Trên mảnh đất tôi không còn nhìn rõ gì nữa. Trên mảnh đất tôi đã chôn một quãng đời của mình.

Chiếc taxi chạy đều, tôi mở mắt nhìn, vầng trán Vinh che kín trước mặt. Trời đã tối. Đèn lộ đã được thắp. Vinh đưa tôi tới một quán ăn. Chúng tôi ngồi trên gác và nhìn xuống phố, phía xa là đường xe lửa. Vinh hỏi, Hà ăn gì? Tôi nói, em không đói. Không đói cũng phải ăn chứ. Đĩa thức ăn bốc khói trước mặt, máy điều hòa không khí chạy ì ì, dao nĩa và những chiếc thìa mạ kền sáng bóng, môi tôi bị bỏng rẫy. Vình nhìn tôi. Tôi biết anh đang làm quen với tôi và làm quen với cuộc tình anh vừa bắt gặp. Bữa ăn chẳng có gì ngon lành vì tôi không để ý đến các món. Tách cà phê cuối cùng cho tôi lấy lại bình tĩnh. Nhưng những giây phút bình tĩnh đối với tôi chỉ là những giây phút buồn bã. Chất nước đen ấm, ngọt, làm tôi nhớ tới những buổi sớm làm lấy bữa ăn sáng của mình trước khi đến sở. Nói là bữa ăn sáng nhưng thường thường tôi chỉ uống một tách cà phê nhỏ mà thôi. Ngồi một mình trong chiếc ghế nhìn căn phòng vắng vẻ, chiếc quạt máy quay đều, tôi tưởng tượng hình dáng của chính mình sáng ngày hôm sau sẽ làm những cử động tương tự ra sao, và ngày tới, có lúc bất chợt thấy mình có những dáng điệu giống như đã làm một lần rồi, tôi hoảng sợ, không biết có phải mình đang bị dẫn dắt bởi tưởng tượng hay thực ra đã có những lần tôi đi lại, cử động như thế.

Khi chồng tôi còn sống, có những sáng thức giấc nhìn thân thể mình trần trên giường, giống như nhiều sáng khác, nhưng chính nó lại cho tôi cảm giác thoải mái, cảm giác nôn nao của thứ hạnh phúc đầm đầm dưới da thịt, ngây ngất như giấc ngủ chưa đi hết, những sự lập lại này cho tôi cho tôi ý nghĩa rõ ràng rằng mình đã sống qua một đêm và mình đang tiếp tục sống. Tôi đang sống, đó là tiếng reo vui thì thầm, thường làm tôi cười trong lúc nửa thức nửa ngủ và giật mình, ngạt thở tỉnh hẳn dậy vi anh hôn tôi. Anh đã mặc đồ bay, sửa soạn ra phi trường. Tôi giữ chặt anh với bộ quần áo của anh, để thấy rõ da thịt mình. Hôm nay anh bay đâu? Những buổi sáng như thế tiếp diễn không biết đuợc bao lâu, rồi có một buổi tôi chờ không thấy anh trở về nữa. Vị chỉ huy trưởng căn cứ đến tận nhà, cho tôi hay là thôi,  chắc anh không còn bao giờ trở về nữa.

Buổi sáng đó là buổi sáng tôi tinh một lần giấc ngủ của mình, chứ không tỉnh làm hai ba lần như trước nữa. Tôi rửa mặt, soi bóng mình trong gương, nhìn chân tay, người ngợm, chỗ nào cũng làm tôi muốn khóc. Tôi khóc cả giờ trong buồng tắm, khóc cả giờ khi trở ra nằm lại xuống giường. Lúc đi, anh không đánh thức tôi dậy. Thành thử tôi đã không nhớ được mặt anh trong ngày cuối cùng. Sự im lặng trong một góc phòng, dưới gầm giường, trên trần nhà, trong bồn nước, đè cứng chân tay. Tôi ăn uống và sống bằng một ý thức trong suốt, nói và nghe lấy tiếng nói của mình, không thể nào nín khóc. Anh đã bị rơi máy bay đâu đó trong một khu rừng, tất cả chỉ còn lại một chút tro than. Người ta đã phủ cho anh một lá cờ, thổi hiệu kèn vĩnh biệt, bồng súng chào người chết vì Tổ Quốc.

Tôi trả lại căn nhà cho đơn vị của anh, ra phố thuê nhà ở, kiếm việc làm. Những sáng thức dậy quen dần với sự vắng mặt của anh, tự làm bữa ăn lót dạ, và những cử chỉ lập lại, từ đó, cho tôi ý nghĩa của cái chết chứ không phải sự sống nữa. Khi anh còn sống, tôi sống với anh và hưởng những giây phút êm đềm hay gay gắt cùng với anh. Sự hiện diện của anh lẫn lộn với những xúc động đó trong tôi, và tôi đã không một lần để ý phân biệt. Bây giờ anh không còn nữa, tôi không ngờ sự trống trải anh để lại rộng lớn đến thế, tôi đã bơi đến muốn kiệt sức mà không ra khỏi, tôi đã ngụp lặn, ngoi ngóp, thở những hơi tanh nồng. Buổi sáng trở dậy đánh răng, rửa mặt, tôi tưởng như ngửi thấy mùi rỉ sắt trong nước. Buổi tối nằm ngủ trên chiếc giường mênh mông chỉ chỗ người chạm xuống mặt nệm mới đủ để tôi tin mình không ngã, đôi lúc trở mình tôi hốt hoảng tưởng như mất đà và đang lao đầu xuống vực. Choàng thức dậy, tôi muốn gọi anh, muốn gọi tôi, nhưng không cất được thành tiếng. Hai mắt khô cứng, cay xót, vì thiếu ngủ và vì mở hoài trong bóng tối. Mọi sự đối với tôi bỗng trở nên bưng bít, hơi thở đau trong ngực, tim đập từng hồi thôi thúc, lúc thoi thóp như không còn theo đươc nhịp máu,  tôi mê thiếp trong giấc ngủ một nửa, phải dùng tay bóp dưới ngực giúp cho máu chạy đều, sau khi vùng thoát đuợc cơn hoảng loạn, núm vú căng dưới bàn tay sâm sấp mồ hôi, có những sự chuyển động như các gân máu chằng kéo bên trong và đang xiết lại.

Những trận thức dậy không giờ giấc nhất định như thế, đã tập cho tôi thói quen hút thuốc lá. Buổi tối trước khi đi ngủ, việc đầu tiên của tôi là phải kiếm bao thuốc và chiếc hộp qụẹt để sẵn trên mặt bàn ngủ, để lúc cần lấy hút. Ngồi một mình trong màn, lưng tựa thành giường, đốt thuốc, nhìn ngó căn phòng với ánh sáng mờ của ngọn đèn ngủ, ngó nhìn những ngón tay, ngửi mùi thuốc đã bắt đầu ám khét trên đó, ngó nhìn chiếc tủ áo nơi góc phòng, khung cửa sổ đóng kín, nghe ngóng tiếng những con chuột lục lọi phía sau nhà.

Có lần tôi ngủ quên để điếu thuốc rơi xuống nệm, xuýt cháy nhà, tỉnh dậy thấy khói bay mù mịt, ho sặc sụa, phải chạy xuống bếp lấy nước dội bừa dập tắt, sau đó giường ướt sũng phải ngủ dưới đất nơi tấm cói trải sàn chỗ bàn khách, sáng dậy phải lau chùi nhà cửa, gói chiếc khăn trải giường và chiếc chăn mỏng bị cháy vào một bọc giấy bỏ thùng rác, trước khi đi làm, thầm nghĩ, giá đừng thức dậy đêm qua. Mùi cháy khét làm cho căn phòng thêm mờ ám, buổi trưa về, thay quần áo, tôi tự ngửi trên vai và trên hai cánh tay mình. Chỉ là những mùi vị ảo tưởng, nhưng vẫn cảm thấy dường có một chút gì đó nơi mình đã bị thiêu rụi.

Người bạn thời còn con gái đến chơi sáng Chủ nhật, cho một bức tượng phù thủy đựng trong chiếc hộp gỗ sơn, dưới chân hộp có chiếc ngăn kéo nhỏ, mở sẽ nghe từ trong phát một điệu nhạc, giống như tiếng dương cầm đồ chơi của trẻ con, hay chuông đồng hồ.

Anh dạy học, có vợ và đã có một con trai. Tôi chưa bao giờ găp mặt vợ anh. Đêm nghe điệu nhạc trong chiếc hộp, nghe đi nghe lại trong vô thức, tưởng nhớ lại lúc còn nhỏ, một tỉnh lỵ nào buổi sáng có sương mù, có ga xe lửa, có chiếc cầu bắc qua một con sông nhỏ giữa hai triền núi, trong vườn có những cây đào trái chín đỏ cắn ngập răng, mùa đông co ro trong những tấm áo dày, hình dáng người bạn nói cười sâu trong ký ức không rõ nét. Anh uống rượu và hút thuốc lá ngay từ khi còn là sinh viên. Anh mời tôi dự một buổi khiêu vũ gia đình do một người bạn tổ chức nhân dịp đính hôn. Đêm đó sáng trăng, khách rất đông. Người ta nhẩy từ trong nhà ra ngoài thềm, từ ngoài thềm xuống sân, rồi từ sân ra các lối đi lát xi măng xuống vườn. Những điều anh nói cho tôi cười, bây giờ cũng chỉ còn như thứ ánh sáng xanh biếc lọt qua các kẽ lá xuống khu vườn. Tôi hỏi anh, bản nhạc trong chiếc hộp là bản gì thế? Cần gì biết. Chị cứ nghe cho đỡ buồn là đuợc rồi. Tôi bảo, có lẽ tôi không ở đây nữa đâu. Anh nói, chị gầy quá. Tôi bảo, tôi mất bình tĩnh. Tôi cũng hỏi anh, tại sao bức tượng trong chiếc hộp lại là một mụ phù thủy? Anh cười bảo chắc người làm ra cho thế là đẹp. Cũng có thể nó đã đuợc giải nghĩa bằng bản nhạc mà cả tôi lẫn chị đều không hiểu. Tôi nói, anh dậy triết mà trả lời như một sinh viên vậy. Anh vẫn cười bảo, giáo sư làm sao giỏi bằng phù thủy đuợc. Chị muốn vào Sài Gòn à? Vâng. Cứ kể chị đổi chỗ ở đi cũng phải. Tôi nói, làm gì cũng được nhưng tôi không muốn ở đây nữa. Anh tỉ mẩn ngồi cho chạy lại bản đàn. Tiếng linh tinh bỗng làm tôi buốt óc. Chịu đựng một cái chết trong đời mình quả là một việc khó khăn. Anh bảo, “Chị làm thế nào thì làm, miễn bỏ đuợc những sự ám ảnh cũ. Vì cũng chẳng cách nào hơn”. Tôi nói vâng, và cũng không biết nói gì thêm cho quãng đời tội sẽ phải bắt đầu lại, có lẽ tôi đã bắt đầu rồi, từ hôm anh ấy bay đi, từ ngay cái phút anh bước ra khỏi cửa, vâng, và từ phút này, dù muốn hay không, tôi cũng bắt buộc phải để lại tất cả những gì thuộc nửa quãng đời về trước, để tiếp tục phần còn lại, dầu với ý nghĩa như thế nào. Tiếng phản lực cơ xé trời giúp tôi khỏi phải nói với người bạn những điều tôi không nghĩ ra đuợc.

(Hết Chương 1)

Share this post