Ngày Tháng (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 3

Ngày Tháng (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 3

NGÀY THÁNG
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* An Tiêm xuất bản (Sài Gòn – 1968)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác: Tiểu Thuyết I & II (California 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

BA

Thang máy có người dùng, chúng tôi đi bằng lối cầu thang xuống phố. Vinh đưa tôi tới chiếc xe hơi nhỏ kiểu thể thao, màu đen, mui vải, mở cửa xe cho tôi vào. Xe của ai vậy? Mượn. Vinh mở máy cho xe chạy. Mưa xối trên mui xe. Mấy chiếc que gạt nước quệt đi quệt lại trên mặt kính cho nhìn thấy mặt đường đàng trước trắng xóa dưới mưa. Hai người cảnh sát trùm áo mưa đứng gác, núp dưới mái hiên một căn nhà góc ngã tư nơi trụ đèn giao thông. Vinh nói, mình ra bờ sông ăn. Tôi nhắm mắt ngả đầu vào thành ghế và vào vai Vinh bảo, em thèm ngủ quá, bờ sông à? Ừ, ra đó ngồi một lúc cho thoáng. Em coi chừng, ăn uống thất thường mất sức khoẻ. Tôi nói, mỗi bữa phải đi ăn ngại quá.

Đứa trẻ vác một cái dù lớn che cho chúng tôi đi vào quán. Trời mưa, quán vắng khách, nhiều bàn bỏ trống. Chúng tôi chọn một chỗ sát lan can, gần mặt sông. Vinh đề nghị uống rượu. Chiếc ly thủy tinh nhỏ trong suốt nước rượu đỏ và viên đá nhỏ thả bên trong. Mưa lấp kín măt sông. Chỗ này chúng tôi đã tới nhiều lần, vào giờ thủy triều lên và rút đi, những buổi chiều trời đẹp nước trong xanh hay lều bều rác rưới, vỏ dừa, những con chuột chết bụng trương phềnh trôi dập dềnh mắc kẹt trong những sợi giây neo của mấy chiếc tầu làm quán ăn nổi, bãi bùn bẩn thỉu đầy những nút chai, vỏ hộp, mảnh vụn, đồ thưa thãi, những thứ người ta không biết là cái gì nữa.

Hớp rượu lúc đói truyền nhanh đi khắp cơ thể như một thứ lửa nuớc, hơi men bừng lên mặt. Tôi vứt một chiếc thìa nhỏ qua khe lan can xuống sông, mưa vùi kín không còn dấu vết. Một sự thổn thức không thành từ lúc nghe câu nói đùa của Vinh vẫn còn lẩn quẩn trong đầu. Vinh giục, em ăn đi. Có muốn uống thêm rượu nữa không? Sợ lát say. Cứ uống đi. Bữa cơm ngon, tôi ăn được nhiều hơn tôi tưởng. Có ngày em chết đói đấy. Buổi chiều em đã ăn mấy chiếc bánh khô rồi mà. Một trận giớ lớn thốc từ dưới mặt sông lên làm bát đĩa rơi vỡ loảng xoảng. Mấy người bồi cuống quýt chạy đi chạy lại lo chặn giữ khăn bàn, chai lọ. Sự thay đổi bất chợt của thời tiết và tiếng rơi vỡ làm tôi thích thú. Tôi muốn hất luôn ly rượu xuống sông, nhưng nghĩ lúc nãy đã vứt chiếc thìa rồi nên không làm nữa. Vinh nói, bão rớt. Có lẽ cơn bão này đã làm mọi người nôn mửa trên chuyến máy bay anh vừa đi lúc chiều. Còn chiếc máy bay đã đâm xuống khu rừng không tên, viên đá tan trong ly rượu lạnh buốt, còn chuyến phi cơ tôi đã ngồi nhìn xuống vùng biển xanh trong suốt, một cây thông đen mọc sững trong đầu. Tôi nói với Vinh, bữa nay em không nghĩ được gì rõ cả.Vinh bảo tôi, em nên xin nghỉ ít lâu  đừng đi làm nữa, độ này em gầy quá.

Tôi gầy quá, đó là điều tôi cứ  nghe nhắc hoài. Tôi cứ gầy đi mãi sao? Hai con mắt nhìn thấy trong gương buổi chiều bây giờ tôi thử nhớ lại, cái gạt tàn với những mẩu thuốc lạnh ngắt. Tôi nói, sẽ có ngày em nhẩy thử xuống cái sân vũ cầu của anh. Vinh nhìn tôi cười bảo, nhưng coi chừng vỡ đầu không còn cái gì để mà nghĩ bậy. Tôi nhìn sang bên kia sông, những tấm biển quảng cáo lớn giờ trông cũng mờ mờ. Tôi hỏi Vinh, anh đã qua bên ấy chơi lần nào chưa ? Vinh nói, chưa, nếu em muốn hôm nào anh sẽ đưa đi. Ở bên ấy có một viện nữ tu, phải không? Vinh không trả lời. Mưa vẫn chưa ngớt. Một chiếc đèn pha từ căn cứ hải quân chiếu lướt, cho nhìn thấy những mảnh  vườn của các căn nhà phía hải cảng. Một chiếc tầu lớn cập ở bến, thắp đèn sáng, không nhìn thấy bóng người, những lá cờ đuôi nheo nhỏ treo thành chuỗi trên các sợi cáp chằng chịt trên boong, vừa bị gió thổi vừa vì mưa lớn, không phân biệt được mầu sắc, trông như tất cả đều đen.

Xong bữa ăn, trở ra xe, tôi hơi choáng váng. Vinh bảo, coi chùng em say thật đấy. Tôi phải nói khẽ với Vinh, anh dắt em đi.

Ngồi trong xe quay kính như một chiếc hộp, tôi thèm được ngủ quá sức. Vinh vỗ vỗ vai tôi bảo, về nhà ngủ. Tôi bảo Vinh, cho em điếu thuốc. Vinh mở hộp xe kiếm bao thuốc và tôi tự làm lấy việc này. Tôi lấy thuốc, bật quẹt châm hút. Phố chỉ còn lại xe cộ và những quán cóc lác đác người đứng ngồi. Hai mắt nặng chĩu, nhưng tôi biết đêm nay sẽ không ngủ được. Tôi hỏi, anh có hút không? Vinh nói, ừ châm cho anh một điếu. Tôi mồi lửa cho anh, nghĩ tới những buổi chiều một mình trên căn gác.

Chúng tôi trở về phòng. Vinh bảo, đừng bật đèn. Anh bước lại mở cửa sổ và chúng tôi thay bỏ quần áo trong thứ ánh sáng lờ mờ. Vinh nói, cứ để cửa ngủ cho mát. Gió hắt theo những hạt nước nhỏ vào người nhưng cũng đủ làm tôi nổi gai vì lạnh. Tôi nhào xuống giường, cuốn tấm chăn len mỏng lên mình. Vinh vẫn còn ngậm điếu thuốc trên môi, nằm xuống bên cạnh. Khung cửa sổ nhìn ngược, mảng trời bên ngoài hình như lộn ngược. Có lẽ tại tôi say. Gió. Tôi nhìn thấy tấm vải che hốc tủ treo quần áo bay tung hẳn lên. Tôi nói, gió quá. Vinh dụi điếu thuốc, phủ kín người anh lên người tôi. Xương vai em nhô cả ra đây này, Vinh nói.

Mưa gõ tiếng rì rầm đều đều dìm sâu thêm tri giác. Tôi thở hụt từng hơi, đầu óc và chân tay giãn ra sau cơn co rút, mùi tanh hăng ngửi thấy cùng với sự buồn chán bắt đầu, đời sống ứa nhựa hay cái chết tự vắt mình? Phố không còn tiếng động. Vinh ngủ dễ dàng. Tôi lần nhẹ ra khỏi chăn, tìm thuốc hút. Đốm lửa và khói thuốc làm tôi đỡ lạnh. Tôi nhìn xuống da thịt mình trắng rợn trong đêm, ánh sáng thoát ra hay đó chính là cái anh gọi là đời sống? Đời sống có từ chính mình hay là những người ngồi lê la trong mấy cái quán cóc? Tôi mặc lại quần áo, ngồi xuống ghế, hút hết điếu thuốc, rồi trở lại giường nằm. Miệng khô mới nhớ thèm uống nước, nhưng lười không muốn bò dậy nữa. Vinh nuốt nước miếng tóp tép trong giấc ngủ. Tôi bắt chước làm như anh. Không gì buồn bằng lần mò làm những việc nhỏ nhặt trong bóng tối và nghĩ về điều đó, tìm một bao diêm, nhặt một cái áo treo lên móc, quơ tay kiếm một cái tách để uống nước, những cử động đó có khi làm xong rồi, ngồi xuống ghế, lên giường nằm, tôi lại tưởng như còn nhìn thấy chính mình đang mò mẫm làm như thế. Những lúc đó, tôi muốn chết.

Tôi trở dậy đóng cửa sổ hay mở ra, làm một cử chỉ gì đó, lấy một viên thuốc uống, đi lại trong phòng. Ba mươi năm sống của tôi càng ngày càng nhiều ảo tưởng, nhiều đến nỗi tôi không phân biêt đuợc cái nào cũ cái nào mới, cái nào mất đi hay trở lại. Cái chết của chồng tôi và nỗi ám ảnh của tôi về anh cũng chỉ là ảo tưởng, như những ngày anh đã sống với tôi sao? Ảo tưởng là tủ áo của tôi xếp đều sau ô kính, và xếp đều trong trí nhớ. Anh đã sống và đã chết bên cái tủ áo ấy.

Vinh thức giấc. Anh hỏi, em chưa ngủ à? Tôi thấy ngứa ngáy trong cổ họng và ho mấy tiếng. Coi chừng em bị cảm. Trong hơi thở của Vinh còn mùi rượu, có lẽ mùi rượu ở trong mũi tôi không chừng. Tôi hỏi, anh còn say không? Vinh nói, anh đâu có say. Anh đi lần này có gì lạ không? Thì cũng vậy, bom đạn, tầu bay, tầu bò, người chết. Anh không muốn đổi nghề à? Đổi nghề? Làm gì ra tiền nhiều hơn? Tôi nói, cái may đâu có đến với mình mãi. Anh nói, trận nào cũng vẫn có người sống sót. Em đổi sáp môi à? Anh ngửi thấy mùi khác à?  Đêm chẳng còn bao lâu, có lẽ đã ba bốn giờ. Mai thứ mấy anh? Thứ Bẩy. Tốt, chiều được nghỉ, tha hồ ngủ.

Mưa ngớt. Bóng tối ngoài cửa sổ bắt đầu loãng bớt màu đen. Đời sống dễ dàng nhất là lúc người ta chẳng còn gì để giữ. Người ta có thể nhấm nháp, thụ hưởng từng giây phút của đời mình. Vinh lùa tay vào tóc tôi. Anh hôn tôi và dò đón để cùng chung phút cuối cùng. Hai môi tôi lạnh ngắt. Một hơi gió hết sức nhẹ thổi lướt trên mặt nhưng cũng làm tôi rùng hết cả mình, hơi gió như một làn nước mỏng tràn đầy các giác quan và dìm sâu tôi xuống mãi. Giấc ngủ sau đó không còn mộng mị.

Tôi cảm thấy mệt mỏi một cách dễ chịu, buổi sáng, khi thức giấc.

Chúng tôi đánh răng, rửa mặt, pha cà phê uống ở nhà trước khi đi làm. Vinh hẹn sẽ đón tôi buổi trưa, lúc tan sở.

Trời sáng trong nhưng chưa có một tia nắng nào. Những ngọn cây ngoài cửa sổ xanh mướt sau một đêm mưa. Em có muốn lấy thêm đuờng không? Cho em một chút xíu nữa thôi. Những mảnh vụn của hạt cà phê nhìn thấy dưới đáy cốc khi chất nước đen đã đuợc uống gần hết. Có lẽ những hạt bụi nhỏ đó đã làm tôi mất ngủ. Nhưng những viên thuốc đã giúp tôi ngủ khi cần và cả hai thứ đã làm đầu óc tôi có nhiều hôm mù mịt, buổi sáng đi làm cần mang theo áo mưa, xuống đến đuờng tôi mới biết mình đã cầm theo cái hộp đựng giầy, tôi tự hỏi cầm giầy đi làm gì, mất công trở lại.

Tôi hút thuốc để quên các chuyện kỳ quái đó và mỗi ngày phải rửa hai ngón tay bằng chanh cho bớt vàng. Trò chơi? Thì cái gì chẳng là trò chơi?

Vinh đưa tôi đến chỗ làm trước khi đến hãng của mình, nhắc lại lời hẹn sẽ đón tôi giờ tan sở. Người bạn cùng sở hỏi tôi, chồng chị đấy à? Tôi nói, không.

Tôi làm việc cả buổi sáng không nhầm lẫn chi hết.

Lúc mười giờ, một người bạn Mỹ, khách quen của cơ quan tôi làm việc, mời tôi ra phố ăn sáng. Tôi đi với ông. Ở trong quán, tôi mua mấy tờ báo của một đứa nhỏ đem tới bán. Giữa bữa ăn, có lúc ông hỏi tôi, nghĩ sao về cuộc chiến tranh này. Tôi cười bảo, sao ông lại hỏi tôi điều tôi không thể trả lời được ấy? Ông ta cũng cười bảo, dầu sao bà cũng đã chứng kiến từ mấy chục năm nay mà. Tôi nói, cuộc chiến tranh nào thì điều đáng nói hơn cả cũng chỉ là những người chết. Ông ta hỏi, bà có bi quan quá không? Bi quan hay không thì có nghĩa gì? Tôi không hề muốn chồng tôi chết, anh ấy vẫn chết. Vâng tôi có nghe các bạn của bà nói về việc ấy. Ông cũng biết tôi bị góa sao? Ông hỏi thăm về tôi chi vậy? Tôi đã… hỏi dò họ, vì tôi có một điều muốn đề nghị với bà. Giọng nói ngập ngừng của ông ta khiến tôi đã đoán đuợc điều ông muốn nói. Nhưng liệu có phải như vậy không?

Ông nhìn thẳng vào mặt tôi bảo, ông rất có cảm tình với tôi, bố mẹ ông có một trang trại khá lớn ở bên Mỹ, chắc chắn phần gia tài sau này sẽ đuợc trao lại cho ông, vì ông là con một, bản thân ông cũng để dành được chút ít, mặc dầu ông bị bệnh đau dạ dầy, nhưng với số lương kỹ sư ông có thể chữa chạy không sợ thiếu thốn. Sau cùng ông hỏi tôi, nếu tôi nhận lời, ông xin cưới tôi và cả hai sẽ về Mỹ sống.

Đề nghị của ông làm tôi vừa buồn cười vừa muốn chẩy nước mắt. Tôi nói, tôi không ngờ có một đề nghị như thế giữa tôi và ông. Hình ảnh Vinh rồ máy cho xe chạy buổi sáng, sau khi anh đã mở cửa cho tôi xuống trước sở, hiện ra rõ ràng trong óc. Tôi không chuẩn bị một tình cảm nào để có thể đền đáp lòng tốt của ông. Có lẽ tôi dùng chữ lòng tốt không đúng đâu, nhưng tôi không tìm được chữ nào khác. Ông hãy khoan cho tôi vụ “viện trợ” này. Tôi có ý nói đùa với ông về hai từ “viện trợ” và cười với ông. Tôi cũng hỏi, ông có nghĩ điều ông nói với tôi giá xẩy ra ở một nơi nào khác hơn là nước Việt Nam của chúng tôi hiện nay, thì ý nghĩa của nó có thể cũng khác không? Ông nói, ông hiểu nỗi khó khăn của một người đàn bà Việt Nam, một người đàn bà Á Châu nói chung, khi kết hôn với một người da trắng, nhưng ông hứa ông sẽ tìm cách đền bù. Ông tin rằng có tiền, người ta cũng dễ có một đời sống dễ dàng hơn. Tôi nói, không chừng ông chưa hiểu rõ chúng tôi lắm đâu. Ông ta cười bảo, bà có thể tin tôi xin hỏi cưới bà một phần cũng chính vì cái vẻ bí mật tôi không thể nào hiểu đuợc đó. Ông khen tôi đẹp, thành phố Viêt Nam đẹp, các con đường Sài Gòn với những hàng cổ thụ hai bên lề là một điều thú vị đối với ông. Ở bên Mỹ, tại các thành phố lớn, thường, người ta chỉ nhìn thấy xi măng, mặt nhựa. Muốn nhìn thấy cây cỏ người ta phải ra ngoại ô. Nói tới ngoại ô, ông nói luôn tới những buổi đi ăn ngoài trời, các chỗ câu cá, trượt tuyết, leo núi, ông cũng nói, nếu có tôi bên cạnh để cùng sống những cảnh ấy thì thật là tuyệt. Tôi cười bảo, ông mơ mộng chi dữ vậy? Ông ta nói, hình như người ta nghi ngờ người Mỹ chúng tôi chỉ thiếu có điều ấy. Tôi nói, ông đã ở đây, đã nhìn thấy chúng tôi sống và chết ra sao rồi, nếu không có cái chút gọi là “mơ mộng” ấy, chúng tôi còn cái gì đây?

Ông ta có vẻ hoảng sợ khi nghe tôi nói một hơi dài như thế, có lẽ ông không nghe kịp lời tôi [vì chúng tôi đã dùng ngôn ngữ thứ ba là tiếng Pháp để nói chuyện], ông không thấy điều ấy khôi hài sao? Có thể tôi đã nói sai tất cả những gì tôi muốn nói với ông từ nãy, vậy mà chúng ta lại nói đến một việc có ý nghĩa kết hợp đời đời. Ông ta nói đại ý, nếu tôi không muốn về Mỹ, ông có thể ở lại Việt Nam và chúng tôi sẽ lập nghiệp ở đây. Tôi nói, làm thế nào tôi thay thế quê hương cho ông được? Vả lại, lập nghiệp hay những tiếng gì có nghĩa lâu bền tương tự đều làm chúng tôi sợ. Người ta không thể sống mà không nghĩ trước đến tương lai. Nhưng tương lai lại chính là điều chúng tôi sợ nhất. Bà nói cho bà hay nói cho ai thế? Tôi không biết, tôi nói điều tôi cảm thấy, có lẽ tôi cũng nói ít nhất cho một người đã chết. Có lẽ tôi không hiểu được bà thật. Điều ấy cũng chỉ có nghĩa ngang hàng như tôi nói có lẽ tôi hiểu ông. Ông ta lộ vẻ buồn rầu bảo, như thế tôi không còn hy vọng gì sao? Ông nhầm đó, ông không hy vọng gì cả, nếu ông muốn lấy một người đàn bà Việt Nam, bây giờ, ông biết không có gì khó khăn mà. Sự khó khăn của tôi là bà chứ không phải người khác. Tôi cảm thấy có hơi nóng ở trong đầu, giấc ngủ thiếu đêm qua làm tôi bắt đầu khó chịu. Tôi nói, vậy thì sự khó khăn có sẵn ở trong tôi và ở trong ông, không phải ở bên ngoài, làm thế nào có thể dàn xếp được? Ông nói, nếu bà có thiện chí, nghĩa là, tôi muốn nói bà không thờ ơ lắm với đề nghị của tôi, chúng ta có thể giải quyết được chứ. Tôi nói, giả thử bây giờ tôi chết đi, ông còn ở lại đất này không? Ông ta trả lời không cần suy nghĩ, dĩ nhiên không, tôi không thể làm cái việc vô lý là đổi tất cả để chẳng lấy gì hết. Vậy thì cả ông, cả tôi, chúng ta đều có thể thay đổi, nhưng có một cái không thể thay đổi là quê hương của ông và quê hương của tôi, làm thế nào chúng ta gắn liền hai sự khác biệt đó? Tôi cho rằng bà đã nghĩ xa quá, dẫu thế nào chúng ta chỉ có một đời này để sống. Ông nói đúng đó, vậy tìm cách thay đổi làm gì? Tóm lại, bà không cho điều tôi muốn nói với bà là quan trọng?

Tôi phải đắn đo hơn đối với ông ta từ lúc này. Ông thấy rõ những lời chúng ta nói với nhau nãy tới giờ đủ chứng tỏ tôi không hề nghĩ như thế. Tôi tìm một câu nói đùa với ông cho không khí bớt trầm trọng đi, ông có khi nào nghĩ rằng, bất cứ  một người đàn bà nào lấy chồng, điều ấy, tự nó đã có nghĩa như là cho nhập cảnh một người ngoại quốc không? Ông ta có vẻ không bằng lòng câu nói đùa này của tôi. Nhưng tôi thấy ông vẫn mỉm cười với tôi và nói, hay bà cho là tôi đã nói ra điều đó quá sớm, nghĩa là, quá đột ngột?

Tôi lấy thuốc lá trong sắc châm hút bảo, ông thấy tôi hút thuốc lá trước mắt mọi người thế này, đó cũng là điều vẫn còn được coi là lạ đối với một người đàn bà Việt Nam, song, vì tôi thích, tôi cứ hút. Tôi làm những viêc tôi thích. Tôi cũng đã gặp và phải chịu nhiều sự bất ngờ. Cái chết của chồng tôi có phải cũng là một sự bất ngờ? Bữa ăn sáng ông mời tôi đây không bất ngờ sao? Tôi có cho thế là ông thiếu chuẩn bị đâu?

Giọng ông ta dịu dàng, vậy bà chỉ có hai cách trả lời, và tôi mong được trả lời một cách dứt khoát, tôi là một người Mỹ. Tôi cũng cười với ông và không phải là tôi không cảm động bảo, còn cách thứ ba nữa là tôi không trả lời câu hỏi của ông. Ông khen tôi thông minh. Ông cũng nói ông mong tôi sẽ đổi ý và cho đến khi nào ông còn ở lại Việt Nam tôi có thể báo tin mừng cho ông. Ông nói thêm rằng, dù sao thì câu trả lời của tôi cũng đã khá rõ ràng, vậy sau này ông về Mỹ, nếu có dịp hãn hữu nào tôi qua bên ấy đừng quên ghé thăm trang trại của ông. Về điều này, tôi nói một cách vui vẻ, nếu có cơ hội như thế, thế nào tôi cũng tới thăm ông. Tôi cũng nói về những trại chăn nuôi và những đồng cỏ đã được xem trong các phim ảnh và vẫn thường ao ước đuợc nhìn thấy tận mắt một lần, khi đó, ông sẽ dạy tôi cưỡi ngựa chứ? Tôi sẽ tặng bà con ngựa đẹp nhất của trại tôi. Chỉ sợ khi sang đến đấy cả ông lẫn tôi đều không nhận ra nhau nữa vì tóc đã trắng cả rồi. Người Mỹ đã lên tới mặt trăng thì quãng đuờng từ đây về nông trại của tôi chỉ bằng một giấc ngủ  thôi.Thế ông không nghĩ là lúc thức dậy tôi đã xế chiều rồi à?

Chúng tôi cùng cười với nhau và sau đó ông đưa tôi trở lại sở.

(Hết Chương 3)

Share this post