Ngày Tháng (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 4

Ngày Tháng (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 4

NGÀY THÁNG
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* An Tiêm xuất bản (Sài Gòn – 1968)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác: Tiểu Thuyết I & II (California 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

BỐN

Trưa thứ Bẩy, hết giờ làm việc, tôi xếp dọn hồ sơ cho vào ngăn kéo, khóa lại. Xem nào, hôm nay tôi không mang theo áo mưa, không mang dù, vậy thì không có gì để quên. Câu chuyện nói với người bạn Hoa Kỳ hình như phải đợi tới lúc trầm trầm lắng lắng một mình này tôi mới cảm nhận hết ý nghĩa của nó. Người tùy phái ra về cuối cùng đã xuồng đến lưng cầu thang, tôi nghe rõ tiếng chân bác ta bước lệt xệt trên bực đá, bây giờ đến lượt tôi. Buổi trưa nắng gắt, tiếng xe máy nhiều loại nổ lẫn lộn vang từ nhà để xe phía sau sở chạy qua sân đằng trước, ra đường. Tôi có cảm giác kỳ lạ như đã bị xúc phạm, nhưng không hẳn như thế. Nắng chói mắt, một sự buồn nản nào lại bắt đầu cùng với các khớp xương vai, hai đầu gối và hai khuỷu tay. Tôi thử cử động hai bàn tay như người tê liệt, làm gì đến nỗi thế. Những tàn cây xanh dường không còn làm nổi bóng mát, mặt nhựa bốc khói, vỉa hè chỗ tôi đứng đợi Vinh có những vệt bánh xe hằn trên nhựa chảy. Mặt trời giữa trưa chiếu thẳng trên những đỉnh cây thu gọn bong dưới gốc, gió chỉ là hơi nóng vận chuyển thổi vào mặt rất khó chịu. Nắng đè nặng trên đầu, đeo kính mát còn không thể nhìn mà không phải nheo mắt, đứng chừng năm phút sờ lên tóc thấy nóng hổi, phải kiếm một chỗ nào có mái hiên đứng, nhưng quanh sở chẳng có một nhà nào có hàng hiên, đi xa sợ Vinh tới không gặp, mọi người trong sở đã ra về gần hết, loay hoay một lúc, tôi đứng vào trong cái chòi gỗ của người cảnh sát gác cổng, dẫu sao đứng đó chỉ có hơi nóng chứ không phải đội nắng, hoa cả mắt.

Xe cộ ở các khu phố dồn lại kẹt cứng ngoài đường. Một tai nạn xẩy ra đầu ngã tư càng làm xe kẹt lại nhiều hơn, tiếng còi cảnh sát thổi ré, kèn xe hơi inh ỏi, đi đâu mà vội thế, người ta đang chết ở đầu phố kia kìa. Mấy người đàn ông ngồi trong một chiếc xe ngó tôi cười, chắc họ cười cách trú nắng kỳ cục của tôi. Rồi đoàn xe cũng rút được đi hết. Tôi ngó qua cái lỗ thủng hình quả trám khoét ở vách chòi canh nhìn ra ngã tư nơi vừa xẩy ra tai nạn, không biết nạn nhân đã được mang đi chưa, có thể chẳng có ai chết, chẳng có ai bị thương không chừng.

Vinh tới, bấm còi, tôi chạy ra, anh mở cửa xe cho tôi lên. Xe chạy qua ngã tư, tôi nhìn thấy một vũng máu đã tím đen, vết bánh xe đã dính đi gần hết. Tôi nói, vừa có tại nạn ở đây, còn máu này anh. Vinh chặc lưỡi, hất hàm ra đằng trước, có vẻ anh muốn bảo tôi, nhìn làm gì. Mồ hôi rịn trên trán và trên cổ, tôi phải lấy khăn chùi hai ba lần mặc dầu xe chạy nhanh có gió mát. Trong đầu tôi hằn rõ vũng máu vừa trông thấy cùng những vết nhựa ướt đen nhánh răn reo theo khía lốp xe trên mặt đường chỗ tôi vừa đứng chờ Vinh.

Chúng tôi ăn ở một tiệm cơm Tây bình dân. Vinh uống rượu vang, tôi uống nước ngọt. Bữa cơm chẳng có gì ngon nhưng tôi cũng ăn đủ mấy món đuợc dọn, cá rán, đậu xanh, lưỡi bò sốt cay. Tôi có cảm tưởng bị sa sút thực sự. Nếu chồng tôi không chết, làm sao có thể có bữa ăn như tôi đang ăn với Vinh đây, cũng chẳng bao giờ có bữa ăn như sáng nay, chẳng bao giờ tôi có thể nghe người ta hỏi cưới mình, đề nghị lấy mình một cách thẳng băng như bất cứ một việc nào khác thế. Tôi biết rằng tôi chẳng còn gì ở quanh mình, tôi đã trơ trụi.

Tôi giấu Vinh, không nói lại với anh điều người Mỹ đã nói với tôi lúc buổi sáng. Em ăn tráng miệng bằng đu đủ hay chuối? Đu đủ, kêu cho em thêm một tách trà nữa. Tôi kín đáo nhìn ngó những người khách trong tiệm, không biết họ sống như thế nào, gia đình ra sao, tới bữa phải đến ăn ở tiệm thế này. Chắc cũng có những người chỉ ăn một bữa chơi, nhưng phần đông hẳn cũng như chúng tôi, tiệm, quán là nơi ăn thường trực, không có cái thú vui cũng chẳng có cái bực mình phải tự sửa soạn lấy bữa ăn, lau rửa chén bát, không taọ ra được một kỷ niệm, một sự thân quen nào với những vật dụng thường ngày, điều ấy, nghĩ cho cùng, cũng chẳng sao, nếu không muốn nói chỉ thiếu đi một tí, một tí thôi, cái sức nặng giữ mình dính liền với cuộc sống. Ngày ra khỏi căn cứ của chồng tôi, tôi đã bán, đã cho hết những đồ dùng dùng cũ, chén bát, giường tủ, bàn ghế. Tôi muốn thanh toán với quá khứ? Lúc đầu có lẽ tôi cũng nghĩ như thế, nhưng tôi đã chỉ làm cho mình thêm tiều tụy.

Chúng tôi trở về building, nhìn đồng hồ tay đã hơn một giờ. Tôi vặn quạt số lớn, khóa cửa, cởi bỏ quần áo, ngủ trưa. Mấy ngọn đèn giao thông xanh đỏ cháy lên, tắt đi, vũng máu đen khô, vết nhựa chảy, tất cả những thứ đó nhấp nháy trong đầu, tôi tự nhủ phải cố ngủ đi một chút.

Khói thuốc lá Vinh thở ra làm tôi thèm. Anh lấy cho em một điếu. Chúng tôi hút thuốc. Tôi nằm xây mặt vào tường, Vinh lăn tôi trở lại. Ngủ đi anh, trưa mệt chết. Nhưng tôi biết, Vinh không chịu ngưng lại đâu. Tôi không hưởng ứng nhưng cũng không phản đối. Tôi cũng nghĩ, cái việc ấy thích thú nhất chính là lúc mình tỉnh táo, nếu không chỉ có giây phút cuối cùng, cái giây phút gay gắt sau cùng là đáng kể. Những tiếng động dưới phố nghe như vọng từ một vực thẳm, tôi nhắm mắt tập trung sự bình tĩnh, nhưng vẫn nghe tim đâp nhanh hơn lúc thường, ngọn đèn xanh đã tắt, bây giờ đến lượt ngọn đèn đỏ, đến con phố lướt qua, mặt nhựa trôi tuột dưới những bánh xe, sự vuốt ve nhẹ nhàng nuôi từng chút cảm giác cho lớn dần rồi thoát ra như một mạch nước, tôi giữ cứng thân thể và trong một giây, mặt mũi bỗng tối xầm, chân tay run rẩy.

Vinh ngủ thiếp ngay trên người tôi. Tôi phải dùng sức đẩy anh xuống bên cạnh. Sự mệt nhọc, cáu kỉnh làm tôi làm tôi muốn la lên thành tiếng. Nhưng tôi đã nằm im, nằm như con vật chịu thua, cả người bải hoải, đầu óc sáng suốt, một sự sáng suốt rỗng không. Vinh ngủ như chết. Hai thái dương nổi gân máu, tôi có cảm tưởng sự trống rỗng đang reo hơi trong đầu. Vinh vẫn ngủ. Tôi hé mắt nhìn anh. Căn phòng sáng thứ ánh sáng của nắng hắt qua các khe cửa. Mặt Vinh xanh nhợt. Chiếc quạt máy quay vù vù.  Hình như tôi đã sống như kẻ lập lại đời sống của mình. Người ta có thể chết sau cuộc giao tình thứ nhất mà không mất gì hết. Hoặc người ta đã được tất cả, hoặc đã mất tất cả, sau giây phút đó. Máu chạy rần rần trong hai động mach thái dương, tôi chặn hai ngón tay lên cổ tay tự nghe mạch của mình. Tôi chẳng hiểu đuợc gì dù nó có chạy nhanh gấp đôi hay gấp ba. Người ta bảo, đàn bà không có con thì không phải đàn bà. Tôi không có con [có làm gì?] tôi không phải đàn bà. Vậy tôi là cái giống gì đây? Thành phố im ắng. Chỉ còn tiếng Vinh thở, tiếng sơn tróc trên các cánh cửa sổ vì nắng, tiếng một chiếc xe hơi chạy qua bên dưới building. Rồi tất cả những hình ảnh nhìn thấy, tiếng động nghe thấy, đều rớt chìm trong một đám khói đen.

oOo

Vinh lại bỏ đi với các công việc của anh. Tôi tiếp tục sống những ngày một mình., buổi sáng đi làm, trưa ăm tiệm, trở về nhà ngủ, có bữa vào rạp chiếu bóng xem xuất trưa, ngủ vài phút, gọi là giấc ngủ trưa trong máy lạnh, hết xuất hát vừa đúng giờ làm việc buổi chiều, tan sở đi lang thang hay mua đồ khô về nhà ăn, uống cà phê và hút thuốc lá mỗi ngày thêm mãi.

Một buổi trưa cả building ồn lên vì có người tự tử, xác đã xình thối mọi ngưòi mới biết. Anh ta là giáo sư triết [không biết có phần nào giống người bạn thân mến thời con gái của tôi?]. Anh chết như một con chuột cống, chết trên giường, nhưng trương phình như người chết đuối, da mặt, bụng và cổ nứt nở, nước vàng chảy thành vũng, cũng chẳng có người thân nào đến nhận xác. Cảnh sát được báo tin, đến lập biên bản, điều tra [người chết để lại thư xác định tự mình tìm cái chết] thi thể được mang đi.

Suốt mấy hôm sau đó, tôi sợ không ngủ được, đêm phải để đèn. Lúc nào tôi cũng tưởng như sắp có người gõ cửa phòng, hồi hộp chờ đợi. Dĩ nhiên chẳng có ma nào hết. Hộp thuốc ngủ lại được dùng đến. Tôi uống thuốc để ngủ và lúc thức dậy uống cà phê để chống lại thuốc ngủ. Trong một lúc trí óc mù mù vì giấc ngủ chưa đi hết và cà phê kích thích như thế, tôi nghe tiếng động ngoài cửa thật. Tôi không nhớ mình có còn chờ tiếng  đó không, nhưng khi tôi vừa hé cửa thì một cái xác mặt mũi nhăn nheo đổ xầm vào người tôi. Tôi chỉ còn kịp la lên một tiếng. Tiếng la làm mấy người ở trong các phòng kế bên mở cửa chạy ra. Và cái thây ma vừa đổ vào tôi, hình như cũng bị tiếng la làm cho tỉnh hồn, lắp bắp xin lỗi, run lẩy bẩy đi lùi trở ra. Lúc ấy tôi mơí nhận ra đó là người đàn bà Pháp già, ở tầng dưới, bà ta ở cùng vị trí phòng với tôi, chỉ khác tầng, vì say rượu nên đã đi nhầm lên đây và định mở cửa phòng để vào. Sự ồn ào của mọi người vừa chạy tới làm bà ta thêm hoảng, lùi lũi bỏ đi như chạy xuống tầng dưới. Chi vậy, chi vậy? Vài tiếng lao xao hỏi. Tôi chỉ theo người đàn bà nói, chắc bà ta say rượu nhầm phòng và làm tôi sợ. Mọi người được một mẻ cười.

Cũng nhân dịp này, tôi đã làm quen được với vài người ở chung quanh. Tôi đã nhìn thấy người ta đánh bạc sau một cánh vừa được khép lại. Tôi đã gặp một cô gái bỏ nhà đến sống với tình nhân trong căn phòng đối diện với phòng tôi. Cô ta còn có vẻ sợ sệt hết cả mọi người, sợ sệt ngay cả cuộc liều thân của mình. Những ngày sau hôm xẩy ra vụ lầm lẫn tức cười đó, cô thỉnh thoảng sang chơi với tôi và thú thật những điều đó. Cô nói, không biết ba má em tìm kiếm em ra sao? Chắc ông bà lo lắm.

Cô còn trẻ, chỉ độ ngoài hai mươi, đẹp và khá khoẻ mạnh, tóc hớt ngắn kiểu con trai, nhưng có dáng hiền lành của con nhà tử tế. Tôi mời cô uống trà, buổi tối, những hôm chồng cô không về. Chồng cô, cái tên gọi ấy cũng là một điều phiền nhiễu, vì thực ra có phải thế không chứ? Dầu sao, đó cũng là việc của cô ta. Chị ở một mình sao? Tôi cười với cô và gật đầu. Tôi cũng nói tôi vừa bị góa. Cô cho biết cô đang học năm thứ hai Sư Phạm thì có thai và phải bỏ học, tới đây thuê nhà ở, nhưng cái thai sau đó bị hư. Chồng cô đang học y khoa, còn hai năm nữa mới ra trường. Để có tiên tiêu dùng, buổi tối, anh phải đi dạy học. Cô sợ uống cà phê nhưng pha cà phê rất khéo, bởi khi còn ở nhà thường pha cho bố. Sự quấn quýt của cô nhiều khi làm tôi bực mình. Nhưng cũng có những lúc được nói chuyện ba láp với cô cũng đỡ buồn. Cô cũng mang người chồng sang giới thiệu với tôi. Họ mời tôi đi ăn một bữa, tôi cũng mời lại họ một bữa. Nhưng tôi không thế nào làm thân được với họ. Cách chọn lựa sống của họ làm tôi cứ rờn rợn sợ.

Nhiều đêm trở về nhà khuya, nhìn suốt cái hành lang vắng vẻ mờ mờ trong ánh sáng của ngọn đèn vàng ở đầu cầu thang cuối hành lang, đi qua phòng cô bé, tôi muốn gõ cửa vào chơi nhưng không làm việc này, và tôi trở về phòng với sự thích thú ngấm ngầm được thảnh thơi một mình. Thật là buồn, khi nghĩ chẳng bao giờ được giơ tay gõ lên một cánh cửa nào dù vừa gõ vừa khóc, hay dửng dưng chờ đợi, nhưng cũng thật nhẹ thân khi có thể đi qua những cánh cửa mà không buộc lòng phải gõ lên.

Người ta quét vôi, sơn phết lại căn phòng của người giáo sư tự tử, và đã có người đến thuê ở. Nghĩ đến ngày nào đó, có người đến kiếm anh ta, gõ cửa, thấy người lạ ra mở, cho biết anh đã chết, người đến tìm anh là mẹ, là em, là người tình của anh, có lẽ đều sẽ khóc, sẽ đi xuống cầu thang và rồi cũng sẽ biến mất như anh. Lý do nào đã khiến anh tự tìm đến cái chết? Lý do nào đủ để cho những người khác sống?

Nhưng không có một người nào đến kiếm anh ta hết.

Có thể nào lại có kẻ không có đến một người thân thích?

Người đến building tìm người quen lại là người bạn Hoa Kỳ đến tìm tôi. Cái này thì tệ quá đi mất. Một người Mỹ đến tìm một người đàn bà ở một mình trong building là chuyện không có gì lạ. Nhưng chính cái sự không lạ đó, tự nó, đã có đủ ý nghĩa rồi. Ông ta đến thăm tôi, mang theo môt gói quà lớn, một chiếc máy truyền hình, nói là để tôi xem cho đỡ buồn, vì ông nghe nói, Việt Nam vừa thiết lập được một đài truyền hình. Sự việc ông ta đến tìm tôi ở đây, khiến tôi choáng váng, trong mấy phút đầu tiên gặp ông, gần như tôi không nói được một tiếng nào. Dần dần tôi lấy lại được bình tĩnh, và tôi nghĩ, tôi phải nói thẳng với ông để ông hiểu rằng, việc ông hỏi cưới tôi, bữa ông mời tôi đi ăn sáng, tôi đã trả lời như thế là đã rõ ràng, tôi không thể nào nhận lời ông được. Nhưng có lẽ ông không muốn tin như thế, ông không tin người ta có thể từ chối tiền bạc, từ chối một đời sống an nhàn, sung sướng, ông còn theo đuổi tức là ông muốn được giải thích, có lẽ ông cũng nghĩ rằng, nếu ông biến được tôi thành cái bia, thế nào cũng có lúc ông bắn trúng. Chắc tôi phải nói cho ông ta hiểu rõ một lần, tôi rất cảm ơn tình cảm ông đã dành cho tôi, nhưng cư xử thế này, ông đã đặt tôi vào sự khó khăn, tôi không thể đi qua tường được. Mặt ông ta thoáng một vẻ bất bình. Ông nói, có thật bà thấy giữa bà và cái màu da trắng của tôi có một sự cách biệt đến thế không? Điều tôi vừa nói với ông không có nghĩa đơn giản như thế, sự xa lạ chỉ xẩy ra khi tôi phải nhìn ông qua vai trò ông muốn tôi sắm thôi. Tôi nói và những tiếng nói thoát khỏi tôi như một cơn bàng hoàng, và thốt nhiên tôi cũng nhận ra được một điều, nếu phải nói và tự nghe lấy tiếng nói của mình, người ta không thể không cảm thấy cái chết ẩn trong đó, cái chết vận chuyển trong ruột gan, trong trí não bằng phẳng của tôi và đang thoát ra khỏi cửa miệng. Dường như ông ta cũng nhận ra sự bối rối, tê điếng của tôi, nên tôi thấy ông ta lắp bắp xin lỗi. Tôi cũng thấy có một chút gì quá đáng trong thái độ của mình, nhưng biết làm sao?

Sau khi ông ta ra về, tôi gần như rơi vào tình trạng vô thức, tôi tự cảm thấy yếu đuối đến độ hoảng hốt, tôi đóng chặt cửa và leo lên ngồi thu mình trong một góc giường. Một lát, tôi nghe lưng áo cọ trên vách tường khô khốc, tôi thở như thở cái thoi thóp của buổi chiều đang rút đi ngoài cửa sổ. Cho đến mãi lúc ấy tôi mới nghe tiếng những người chơi vũ cầu ở dưới sân building, tiếng những trái cầu bị quất dội trên những sợi dây căng của mặt vợt, và tôi cũng biết ra sự xúc động thái quá của mình. Nhưng có một phần nào đó trong cái phần dễ dãi của đời sống tôi đã bị mất đi, tựa tôi đã bị rút đi một ít không khí trong cái bầu không khí mình đang thở. Thật ra, có phải vậy không chứ? Tôi nhìn chiếc máy còn để nguyên trong hộp trên bàn.Tôi sẽ nói với Vinh thế nào về chuyện này? Có thể tôi chẳng cần nói gì với anh. Nhưng tôi phải nói thế nào với chính tôi, đó mới là sự khó khăn.

Tôi vẽ lại trong trí cái sân vũ cầu sâu hút bên dưới, tưởng lại những đường sơn trắng của nó. Ông ta đã bắt tôi phải tự trả lời cho mình một vài điều gì đó mới có thể sống yên được. Tôi chợt thấy các bắp thịt dưới  bụng chân giật giật từng hồi như bị chuột rút. Tôi co chân, kéo ống quần, bóp chỗ đau và nhìn xuống chân mình, nhìn rõ từng vết chân lông trên mặt da trắng nhẵn của mình. Thấy khô cổ, tôi nuốt nước miếng và muốn đứng dậy thay quần áo xuống phố. Nhưng tôi biết là tôi sẽ không làm việc đó vì tôi không biết  xuống phố làm gì. Tôi tới tủ lạnh lấy nước uống, trở lại giường, ra ghế ngồi, và cứ quanh quẩn như thế hết buổi chiều.

(Hết Chương 4)

Share this post