Ngày Tháng (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 5

Ngày Tháng (Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn) Chương 5

NGÀY THÁNG
* Tiểu Thuyết – Nguyễn Đình Toàn
* An Tiêm xuất bản (Sài Gòn – 1968)
* Người Việt Books tái bản cùng 5 tác phẩm khác: Tiểu Thuyết I & II (California 2014)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

NĂM

Sớm hôm sau, tôi đến sở và được nghe người ta nói về việc dò hỏi của nguời bạn Hoa Kỳ về tôi, đúng như tôi đã phỏng đoán, ông ta không tin rằng tôi có thể chịu đựng dược mãi cảnh sống hiện tại của tôi. Không biết ông ta đã nghe, đã biết, đã tưởng tượng tôi sống như thế nào mà ông cho là tôi không thể sống như thế được. Ông cũng không tin tôi có thể từ chối tất cả những gì ông sẵn sàng đem đến cho tôi. Có thể tôi đã bị trúng phát đạn đầu tiên của ông rồi, tôi đã bị trúng đạn ngay trong lúc tôi còn nghĩ rằng, không khi nào tôi chịu như thế. Vậy thì tôi phải làm thế nào sống được đời tôi, dù cũ kỹ như một người đàn bà.

Tôi viết cho Vinh một lá thư nói về những ngày cuối năm sắp đến, tôi sẽ cố gắng tìm một căn nhà ngoài phố, mua đuợc càng hay, không thì thuê tạm, ra khỏi cái đời sống công cộng ở cái building này, và chúng tôi sẽ ăn một cái tết duới một mái nhà riêng. Nhưng cuối cùng tôi xé bỏ lá thư, tôi không muốn nói trước với Vinh, bởi vì nghĩ cho cùng, anh cũng chẳng phải chồng hay người yêu của tôi. Có lẽ chúng tôi có yêu nhau, hay ít hơn, có lẽ tôi có yêu anh. Nhưng nếu yêu nhau chỉ là cách tập để có thể sống được với nhau, thì cũng chẳng cần hiểu rõ điều đó làm gì. Tôi hãy cứ tìm một căn nhà, dọn đồ đạc tới, bữa nào Vinh về tôi sẽ đưa anh lại. Nếu có thể sống được với nhau chúng tôi sẽ sống với nhau. Nghĩ thế tôi thấy đời sống thật vừa giản dị vừa thảm thiết đến muốn khóc. Nó cũng giản dị và thảm thiết như cái chết của chồng tôi sắp đến ngày giỗ hết.

Dự định thuê một căn nhà tôi cũng bỏ dở như lá thư tôi định gửi cho Vinh. Nghĩ đến lúc phải dọn nhà, mang theo những đồ đạc lủng củng tôi cũng ngại, hơn thế nữa, thấy sợ, chỗ ở nào rồi cũng vậy thôi, ngày đi làm, đêm về ngủ, những bữa ăn một mình, những ngày nghỉ quanh quẩn trong phòng không biết đi đâu hay la cà ngoài đường cho đến lúc mệt nhoài mới trở về, nằm xuống giường như nằm xuống để chết, mùi thơm xà bông quen thuộc trên tấm vải trải giường làm thức dậy nỗi mong nhớ bải hoải.

Tết Vinh không về. Những ngày ướt át vì mưa lại bắt đầu. Không có lẽ đó chỉ là những trận mưa trái mùa. Buổi chiều bỗng rét. Đêm, trong bóng tối của căn phòng, tôi pha những ấm trà nóng rót ủ trong tay, những chiếc tách như những hòn than không lửa, thân thể ủ ê, trời đất hiu quạnh.

Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Đây đó người ta vẫn tiếp tục sống và xây dựng. Đường phố được đào xới để đặt lại cống rãnh và ống dẫn nước, mưa xuống lầy lội, bẩn thỉu. Quán nước cũ đã được sửa lại, lắp máy lạnh, ráp kính ngăn tiếng động [những tấm kính thường bị hơi nước che mờ] không còn cho thấy rõ mấy tổ chim én dưới mái dẫy lầu bên kia đường nữa, trở lại ngồi bên những chiếc bàn mới thấy xa lạ.

Tình cờ đọc thấy trên báo bài thơ của một người nào đó đề tặng chồng tôi. Người ta còn tìm ra được những kỷ niệm với anh, trong khi tôi đã mất hết. Mưa đem đến những buổi chiều mau tối, nhìn qua những chiếc song sắt và mấy tấm kính mờ hơi nước, tôi không còn thể phân biệt được lũ chim én và bầy giơi, chúng bay lượn chập chờn trong bóng đêm rớt xuống đột ngột. Quán lắp máy lạnh, quá lạnh trong những buổi chiều mưa như thế này. Tôi nhớ Vinh và hình như cả nỗi nhớ ấy cũng trở nên lạnh lẽo. Những tờ báo mua buổi chiều nhiều bữa đọc hết tôi chẳng nhớ được một tin tức nào. Tôi sợ cả chỗ ngồi trong quán nước, nhưng vẫn trở lại mỗi ngày vì không biết đi đâu, làm gì, và khi ngồi vào đó tôi càng thấy mình không biết làm gì [cho hết đời mình?]. Tôi uống những tách trà trong quán rồi trở về phòng tiếp tục uống những tách khác. Nhiều đêm ruột gan cồn cào làm tăng thêm chứng mất ngủ. Tôi bắt đầu sợ những hộp thuốc ngủ cứ vơi dần, luợng thuốc dùng đã phải tăng mới thấy hiệu nghiệm. Sợ, nhưng tôi vẫn phải tiếp tục uống để ngủ, bởi nếu không ngủ được còn đáng sợ hơn nữa.

Nằm trong giường nhìn ra mảnh trời nhợt nhạt ngoài cửa sổ, lúc nào cũng như đang rạng sáng, và đúng vào những hôm trời rạng sáng thật, tôi thấy giá lạnh khắp người vì khiếp hãi, bản năng kêu gọi phải ngủ đi chứ, ngủ đi không thì chết mất. Tôi trở dậy đóng cửa sổ, kéo màn che cho tối để cố ngủ. Lúc ấy tôi mới cảm thấy người ngầy ngật, đi mà muốn ngã. Đứng bên cửa sổ nhìn xuống cái sân đánh vũ cầu trắng nhờ nhờ bên dưới, cả cái sân bỗng nổi dềnh lên, vệt sơn trắng đập thẳng vào trán tôi như một thanh sắt, khiến tôi tối tăm mặt mũi, chừng đó tôi mới nhận ra, không phải chỉ mệt, còn muốn xỉu nữa. Tôi lảo đảo trở lại giường, ngã xuống.

Tôi không chịu nổi những đêm thức trắng, những đêm như thế, sáng hôm sau đến sở thật là khổ, tôi thèm ngủ đến cay sè cả mắt, nhưng tôi biết, giá có được nằm xuống cũng vẫn phải nhờ đến những viên thuốc mới hy vọng ngủ được, và cứ như vậy, tôi bần thần suốt cả buổi làm.

Mấy người bạn ở sở khuyên tôi nên đi khám bác sĩ. Họ nghĩ tôi có thai. Tôi nói, không đâu. [Một chứng bệnh ngày còn con gái đã khiến tôi không còn sinh nở được nữa, dĩ nhiên điều này chỉ mình tôi biết]. Thật tình mà nói, tôi cũng không muốn có con. Nhưng mỗi lần nghĩ tới điều đó, tôi lại thấy vang lên trong tiềm thức lời nhắc nhở, không có con thì không phải đàn bà. Tôi là một người đàn bà không phải đàn bà. Một người bạn gái trong sở cũng nói với tôi, chị muốn sống độc thân, và chị tin cần có một sự thay đổi về cả tâm lẫn sinh lý, việc đó giúp cho người đàn bà có thể sống độc thân. Tôi không hiểu rõ chị muốn nói gì. Dù thế nào tôi vẫn nghĩ, giá chị đừng có đứa con chị đã có thì vẫn hơn, ít nhất đời sống đối với chị cũng dễ dàng hơn. Một người mẹ không chồng và một đứa con không bố lại không có vấn đề gì sao?

Người bạn Hoa Kỳ một sáng tới sở, gặp tôi, kêu lên, trời ơi, sao bà xanh quá thế? Tôi nói, tôi bị mất ngủ, do đó hơi mệt. Ông nhắc tôi những tên thuốc tôi có thể dùng để bồi bổ sức khoẻ. Tôi nói cám ơn ông và bảo, lâu nay tôi bị vậy hoài. Nhưng rồi tự nó sẽ khỏi, không cần phải chữa. Ông ta nhìn tôi bảo, nếu bà cứ ẩu như vậy, có ngày thần chết sẽ đến thay vì khỏi bệnh. Tôi cũng cười bảo ông, chết không phải sống nữa cũng được chứ sao? Ông nhìn tôi không nói gì. Nhưng trong mắt ông, tôi biết, ông thấy tôi có vẻ không còn là một người bình thường nữa.

Tôi cũng hỏi ông, có để ý đến việc nhiều khu phố một số cây đã bị chặt đi không? Ông ta lắc đầu nói, tiếc quá, nếu các phố ở Việt Nam mà đem chặt  cây đi thì chẳng còn gì là thành phố Việt Nam nữa. Tôi nói đùa với ông, tôi cam đoan với ông là dù người ta có làm như thế chăng nữa, Việt Nam vẫn là Việt Nam, không có gì thay đổi cả. Ông cười bảo, bà lạc quan khiếp nhỉ. Tôi nói, chứ không phải ông bị huyễn hoặc bởi chứng lãng mạn của mình hả, có gì đáng gọi là lạc quan trong những điều tôi vừa nói với ông. Ông kể lại cho tôi nghe về những ngày còn ở trại của ông bên Hoa Kỳ, có những buổi sáng ông cưỡi ngựa chạy băng qua các cánh đồng cỏ, và cứ chạy như thế cho đến lúc cả người và ngựa đều mệt nhoài, ông rất thích màu xanh của cỏ. Tôi nói, không lẽ mới sáng dậy ông đã uống rượu rồi à? Ông nói, ở Hoa Kỳ có rất nhiều thứ whisky tuyệt hảo, nhưng với cái bệnh đau dạ dầy của ông, uống rượu vào lúc đó, chỉ có nước tìm một gốc cây nào mà ngồi thôi.

Những câu chuyện không đầu đuôi như thế, nhiều khi đang nói với ông, tôi thừ người, ông ra về lúc nào tôi cũng chẳng hay, mặc dù, hình như chúng tôi có chào nhau. Tôi còn nhớ hai con mắt xanh trong của ông mở lớn nhìn tôi có một chút lo lắng và âu yếm. Nhưng cái màu xanh của những cánh đồng cỏ mà ngựa của ông chạy qua, ông kể, tôi có thể hình dung ra, hiểu được, màu xanh của mắt ông thì không. Cái nhìn ấy, đẩy tôi tới vị trí tận cùng của mình, tôi vươn vai thở mạnh một hơi, tưởng như mình sắp thở ra khói ở hai lỗ mũi.

Cũng có bữa tôi ngồi nói chuyện khá lâu với ông dưới câu lạc bộ của sở, tôi nói để bớt thấy mình gay gắt với chính mình và đối với ông, một sự gay gắt ngấm ngầm như cơn sốt dưới da, nói về chuyện sinh hoạt đắt đỏ, về đạo Quaker bên nước ông, về giọng hát của những người da đen, có cái gì đó trong giọng hát của họ khiến ai nghe cũng có thể biết ngay đó là một người da đen. Ông cười bảo, có lẽ tại cách phát âm của họ. Tôi nói, đã hẳn như vậy, nhưng cũng còn có một một cái gì khác nữa. Ông ta nói, bên Hoa Kỳ có những người da đen giữ những địa vị quan trọng trong xã hội, có những ca sĩ da đen nổi tiếng chắc bà cũng biết và có những người da đen mà trí khôn của họ ở cả hai bàn chân. Tôi hỏi, ông định nói gì mà khó hiểu quá vậy. Thực ra, ông tiếp, nhiều lúc tôi cũng có cảm tưởng hệt như bà, trong giọng hát của họ có một cái gì khác lạ thật, nên khi họ hát Thánh Ca, tôi tưởng như chỉ có họ mới nói được tới tai Thượng Đế, tuy nhiên màu da của họ quả thật là một điều đáng nghi ngờ. Sao thế? Có lẽ vì sự bất công đó mà trong giọng hát của họ có cái khác lạ người ta thường nói đến đó chăng,  có lẽ cũng vì thế, họ cần nói với một Đấng cao hơn là cái nhân loại trên mặt đất không mấy bằng phẳng này. Ông ta làm tôi buồn cười, tôi nói, hình như ông thuộc số những người da trắng không bị cái màu da của mình làm cho chói mắt. Ông cũng cười bảo, tôi là một người Hoa Kỳ, tôi có thể bảo đảm với bà điều đó, một người Hoa Kỳ chính cống, chỉ có thế thôi. Tôi pha trò với ông, một người Hoa Kỳ đau dạ dầy nữa chứ. Ông lắc đầu và vẫn cười bảo, không, đau dạ dầy không phải chứng bệnh của Hiệp Chúng Quốc, cả điều này nữa, tôi cũng xin bảo đảm với bà, đó chỉ là tài sản riêng của tôi cũng như cái trại chăn nuôi của tôi thôi. Tôi nói, khiếp thật, lúc nào nói chuyện tôi cũng thấy ông nhắc tới cái trại của ông, thế mà đã có lúc tôi nghe người ta bảo, người Hoa Kỳ chỉ có nhà, không có quê. Ông ta nhìn tôi bảo, còn đi được tại sao không đi lại ngồi chờ mọc rêu với quá khứ? Nếu cắt bỏ được quá khi để rong chơi như ông kể cũng thích thật, tôi nói. Chúng tôi cùng cười với nhau và tôi chợt nghe xót xa trong lòng. Ông ta nói, tôi tự hỏi, không biết bà bà muốn gì đây, quá khứ hay tương lai, bà không muốn thay đổi gì, trong khi hình như mọi sự đã thay đổi mất rồi. Tôi cười hỏi, theo ông thì tôi có thể ao ước điều gì trong những điều ông nói đó? Tôi thấy ông ta có vẻ lắng nghe câu nói của tôi, rồi sau một phút yên lặng, ông bảo, gặp bà là tôi gặp sự thất vọng của mình rồi. Tôi nói, không đâu, nếu có thì tôi chính là sự thất vọng của tôi không phải của ông đâu. Tôi cũng nói, chẳng biết hy vọng gì mà vẫn phải tiếp tục sống quả là một việc khó. Ông uống cạn tách cà phê của mình và bảo, tôi sợ những điều bà vừa nói đều do chứng mất ngủ làm ra cả. Tôi cười bảo, như thế tôi lại càng phải uống thêm thuốc ngủ để khỏi nói bậy.

Ông ta ra về và tôi biết ông nghĩ tôi là một con bệnh. Chắc tôi là một con bệnh thật. Những lần nói năng lăng nhăng tương tự rồi thế nào cũng đem tới cho tôi những giây phút ân hận, đáng lẽ tôi không nên nói gì cả, không nói gì thì hơn.

(Hết Chương 5)

Share this post