Người Vợ Mất Tích (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 7 (Tiếp theo)

Người Vợ Mất Tích (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 7 (Tiếp theo)

NGƯỜI VỢ MẤT TÍCH
* Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy
* Chiêu Dương xuất bản lần thứ nhất tại Sài Gòn (1970)
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 7

(Tiếp theo)

Tôi nhớ lại những lời vắn tắt mà tên gian vừa nói với tôi: “11 giờ đêm mai” − bây giờ đã trở thành “đêm nay” vì trời đã sáng, một ngày mới đã tới trên Trái Đất − “một mình tới Quán Hoành Sơn ở Lăng Tô, dưới bóng cầu Tân Thuận, tay cầm theo tờ báo Ánh Sáng và vào Quán gọi Rhum Marita, hai con cua lột, hai con chim cu”.

Ngay sáng sớm tôi đã gọi điện thoại tới văn phòng của Huy, nhưng không may cho tôi là sáng nay, Huy lại đi vắng vì công việc từ sớm.

Huy đi vắng suốt ngày, hôm sau Huy mới trở về Sài Gòn.

Tôi không thể gặp Huy để nói chuyện cho Huy hay và nghe lời khuyên của Huy. Tôi bắt buộc phải hành động một mình.

“Định mệnh đã an bài” như vậy.

Việc tìm đủ số 250.000 đồng đối với tôi không phải là một chuyện khó. Ngân Hàng của tôi có trụ sở chính ở Sài Gòn, tôi chỉ cần tới đó ký một Ngân Phiếu là xong. Số tiền mà bọn gian đòi không phải là một số tiền quá lớn. Tôi chờ đợi bọn gian đòi cả triệu đồng. Số bạc 250.000 đồng quá ít… Đêm nay tôi sẽ một mình tới nơi hẹn, chờ gặp, giao tiền và… mang Ngọc trở về.

Tôi sẽ tìm được vợ tôi một cách dễ dàng, không tốn kém mà cũng chẳng cần nhờ vả đến Cảnh sát nói chung và hai ông Thiếu tá Trịnh, Thượng sĩ Bái nói riêng.

Tôi sẽ kết liễu vụ này “bằng bất cứ giá nào”.

Buổi sáng tôi tới Ngân Hàng lãnh tiền.

Tôi có tiền gửi ở Ngân Hàng của tôi trên Nam Vang, nhưng nhờ tôi là một nhân viên giữ chức vụ khá trong Ngân Hàng, những người trong Ngân Hàng ở Sài Gòn đều quen biết tôi – chúng tôi là đồng nghiệp, đồng sở − nên họ vẫn cho lãnh tiền không cần chờ hỏi Ngân Hàng trên Nam Vang. Tuy nhiên người ta cũng gọi điện thoại lên hỏi Phúc. Tôi phải chờ mất hai tiếng đồng hồ. May sao Phúc có mặt tại văn phòng của anh và anh trả lời bảo đảm cho tôi ngay.

Buổi trưa, tôi xách cặp tiền về khách sạn. Tôi ăn qua loa cho xong bữa rồi lên phòng nằm nghỉ. Tôi muốn tôi có đầy đủ khả năng và tinh thần để đối phó với những sự việc xẩy ra đêm nay.

Tôi không trở lại Lăng Tô từ nhiều năm nay, đúng ra là từ năm tôi kết hôn với Ngọc. Những năm trước, vì tình hình chiến tranh bất an, người Sài Gòn không có nơi đi ăn chơi xa. Người Sài Gòn chỉ có thể đi chơi Ô Cấp vào cuối tuần. Đường Sài Gòn – Cấp chỉ có “công-voa” của Bình Xuyên mở đường vào sáng thứ Bẩy và chiều Chủ nhật. Đi chơi trong ngày thường, người ta chỉ có thể đi Thủ Đức và sang Lăng Tô hóng gió.

Lâu rồi tôi không sang đây nhưng khung cảnh khu này vẫn như cũ, không có gì thay đổi. Mấy quán ăn nhậu nhà sàn làm trồi ra mặt sông vẫn còn nguyên, không thêm bớt. Những buổi chiều nóng bức, người Sài Gòn muốn được hưởng chút gió sông mát mẻ đều đưa nhau sang đây.

Quán Hoành Sơn là một cái quán lớn nhất, bàn ghế trông có vẻ sang và món ăn nhiều hơn cả. Tôi tới đó vào lúc 10 giờ tối. Giờ này đã được kể là muộn với những ông công chức đưa vợ con qua đây chơi. Hôm nay cũng là ngày thường nên thực khách thưa thớt. Chỉ còn có hai cặp nhân tình ngồi nhìn nhau trong hai góc quán.

Như lời dặn, tôi mang theo một tờ báo Ánh Sáng và gọi mở đầu một ly Rhum Marita rồi hai món nhậu. Cả rượu lẫn các thức ăn đều không được tôi chạm đến.

Đến gần 11 giờ đêm, thực khách đi về hết.

Trong quán chỉ còn mình tôi và mấy anh bồi dường như chỉ còn chờ tôi ra về nốt là đóng cửa ngủ.

Tôi mang theo chiếc áo mưa và bọc tiền nằm trong một túi áo. Tôi mang theo khẩu súng lục của tôi. Đó là một khẩu Browning. Tôi mang súng từ Nam Vang về. Với công việc của tôi, tôi được phép có súng phòng thân. Nhưng tôi chưa bắn thử súng lần nào và tôi cũng chẳng biết cách sử dụng súng ra làm sao.

Đêm nay trời không mưa nhưng bầu trời vẫn mờ, không trăng, không sao. Vùng bờ sông bên kia tối om. Đúng 11 giờ − tôi nhìn đồng hồ tay mỗi năm phút – tim tôi đập mạnh khi thấy một anh bồi tới gần.

Anh này để tóc dài, ăn bận có vẻ “cao bồi du đãng”, anh ghé sát vào tai tôi và nói bằng cái giọng trại trại của một anh Miên Lai:

− Ông tới đây chờ một người tới… Phải hôn?

Tôi gật đầu.

− Có người nhờ tôi đưa cho ông thư này.

Anh móc túi ra một lá thư mỏng gập tư. Bì thư mầu vàng, rất thường, một loại bì thư người ta có thể mua được dễ dàng ở bất cứ tiệm sách nào.

Tôi hỏi:

− Ai đưa cho chú thư này?

− Một ông khách. Ổng tới đây từ hồi chiều… Ổng dặn tôi hễ thấy ông nào tới đây đêm nay, tay cầm tờ báo Ánh Sáng và gọi rượu Rhum thì đưa… Còn nếu quá 11 giờ đêm mà không thấy có ai như vậy tới thì đốt thư đi.

Tôi chắc kẻ gửi thư có cho anh bồi này tiền. Nhưng sự việc anh ta có quen biết với tên gửi thư hay không, đó là việc tôi chưa cần tìm hiểu lúc này.

Sau khi tôi đã tìm lại được Ngọc rồi, tôi sẽ nói cho Thiếu tá Trịnh biết chuyện anh bồi này nếu ông ta còn muốn biết.

Tôi xé thư ra đọc.

Bên trong phong bì chỉ có một tấm giấy nhỏ.

Trên tấm giấy có những nét vẽ vội, sơ sài, và hàng chữ :

“MƯỜI HAI GIỜ ĐÊM, NHÀ ĐÁNH DẤU X”.

Dưới ánh đèn mờ, những nét vẽ vội họp lại thành một bản đồ, tôi thấy ngay căn nhà mang dấu X, nơi bọn gian hẹn tôi tới đó đêm nay. Nơi đầu bản đồ này là Quán Hoành Sơn tôi đang ngồi và con đường dẫn tới đó. Như vậy là tôi được hẹn tới một nơi khác cũng gần đây. Ngồi đây tôi có thể trông thấy mấy căn nhà đó mờ mờ trong sương đêm. Dường như đó là những căn nhà làm bằng sắt dùng để làm xưởng chữa và chứa những con tầu, thuyền, nhưng hiện lúc này thì bỏ hoang.

Tôi đi trên con đường mòn qua bãi cỏ rộng. Tôi tìm thấy dễ dàng căn nhà ven sông. Khu này vắng vẻ quá. Những căn nhà sắt lớn tối om hoang vắng, rùng rợn. Hai túi áo mưa, một túi đựng gói bạc lớn, một túi đựng khẩu súng, làm cho hai vai tôi xệ xuống. Tôi không sợ, nhưng bây giờ mới là 11 giờ 30, tôi nên đứng chờ bên ngoài hơn là vào trong căn nhà tối ấy.

Tôi tìm được một chiếc thuyền nằm úp và ngồi lên đó, chờ đợi.

Tôi suy nghĩ: Ngọc, vợ tôi, có ở trong căn nhà này hay là người ta sẽ lại mang tôi đi một nơi nào khác…? Tôi không muốn nghĩ là sẽ còn có nhiều lôi thôi trước khi tôi gặp lại vợ tôi. Tôi muốn mọi việc xong ngay trong đêm nay. Người ta đòi tiền, tôi mang tới cho người ta đủ số. Còn có lý do gì nữa để cho người ta làm khó tôi…?

Có thể nào Paul Văn − chắc chắn phải có Paul Văn lẩn quất ở đâu quanh đây − dụ cho tôi tới đây để làm hại cả tôi nữa chăng ? Tôi không tin như vậy. Hắn thù Ngọc và trong những ngày vừa qua, hắn đã làm cho Ngọc khổ sở nhiều, hắn đã hả giận. Chắc hắn cũng phải nghi là tôi tới đây với võ khí và tôi có thể liều mạng giết hắn. Tôi sẽ không có tội gì nếu tôi bắn hắn. Cảnh sát sẽ còn phải cám ơn tôi nữa là khác. Hắn có thể ngờ là tôi báo Cảnh sát. Nếu cảnh sát vây trọn khu này, hắn chạy đâu cho thoát?

Tôi có thể tin được ở lời nói của tên gian đó được chăng?

Nghĩa là nếu tôi đưa tiền cho y rồi, có gì bảo đảm với tôi là y sẽ trao vợ tôi lại trả tôi như y đã hứa không???

Những câu hỏi đó đến với tôi quá muộn.

Đã tới đây rồi dù có chuyện gì xẩy ra đi nữa, tôi cũng phải liều vào đó.

Thế rồi tôi chợt thấy có ánh đèn le lói từ trong căn nhà chiếu ra. Một ánh đèn dầu. Ánh đèn đó cho tôi biết là trong nhà có người.

Tôi nhìn xuống đồng hồ tay. Mặt đồng hồ của tôi có dạ quang nên trời tối mà tôi vẫn nhìn được thấy rõ giờ: Đôi kim đã chạm vào nhau ở con số 12. Tôi bạo dạn đứng dậy đi vào trong căn nhà.

Vừa đặt chân vào căn nhà tôi thấy rõ ngay sự dại dột của tôi. Vì như chỉ được thắp lên để làm mồi cho tôi vào nhà và thấy tôi đặt chân vào là tắt đi, ngọn đèn được đặt ở một góc nào đó tắt phụt đi trước khi tôi kịp trông thấy trong nhà có những gì.

Lẽ ra tôi phải có một cây đèn bấm.

Tôi móc khẩu súng lục trong túi ra, sẵn sàng nổ cò…

Nhưng tôi chẳng trông thấy gì hết.

Tôi kêu lên:

− Có ai đó không?

Không có ai trả lời nhưng tôi nghe thấy có tiếng người thở ở một nơi không xa tôi lắm.

Tôi liều lĩnh đi về phía phát ra tiếng thở đó, chân tôi vướng phải một cây gỗ, hai đầu gối tôi quỵ xuống…

Tôi kêu lên một tiếng và cùng lúc ấy tôi cảm thấy có một vật gì chùm lên mũi và miệng tôi. Một làn hơi mà tôi biết là “chloroforme” xộc vào phổi tôi và tôi ngất đi…

oOo

Đầu tôi đau nhức như có búa bổ, mọi vật quay cuồng quanh tôi… Tôi có còn là tôi nữa hay không? Tôi còn sống hay tôi đã chết? Tôi không còn biết chắc nữa. Tôi chỉ còn có cảm giác là tôi nằm đó trong một khung cảnh đầy bóng tối và quay cuồng… Chết là như thế này sao? Tôi buồn nôn kinh khủng.

Nhưng trong tôi còn có một tình cảm, một ý nghĩ thì đúng hơn, vẫn còn sống: ý nghĩ của tôi về Ngọc. Ngọc đang ở đâu? Dần dần, ý nghĩ này đưa tôi trở về với cuộc đời. Đúng ra là đưa tôi về với những cảm giác của cuộc sống: tôi cảm thấy lạnh. Đúng rồi, tôi lạnh, tôi tê buốt tứ chi và cùng với cảm giác lạnh đó, tôi biết là tôi chưa chết. Tôi chắc những người chết không còn cảm giác lạnh lẽo, người chết không còn biết lạnh.

Và tôi đau đớn nhiều.

Tôi không còn chỉ thấy nhức đầu như phút đầu tiên tôi tỉnh lại nữa. Tôi đau rần khắp thân thể. Tay chân tôi cũng đau đến tê dại. Tôi cố cựa quậy nhưng không nổi…

Thính giác trở lại với tôi. Tôi nghe thấy có tiếng động. Phải một lúc sau nữa tôi mới nhận ra là có tiếng nước chẩy.

Và một lúc sau nữa tôi mới nhìn ra vừng sáng mờ vuông kia là khung cửa và ánh sao đêm lấp lánh bên ngoài. Tôi nhớ lại là tôi đang nằm trong căn nhà hoang mà bọn gian đã dụ tôi vào để chụp thuốc mê tôi.

Tôi cố gắng ngồi dậy.

Vừa ngồi được lên, tôi vội nằm xuống ngay vì quanh tôi, mọi vật quay cuồng, đảo lộn một cách khủng khiếp, nhưng tôi chắc chắn một điều: tôi hãy còn sống và dường như tôi chỉ bị đau đớn chứ tứ chi không bị hư hại gì.

Nhức đầu, đói lạnh và ướt nước là những cảm giác trở thành không thể chịu nổi đối với tôi. Tôi đang nằm trên mặt đất lạnh. Tôi phải cố hết sức ra khỏi nơi này.

Tôi cố gắng bò dậy… Tôi loạng choạng đi ra khỏi căn nhà tối và thấy mình đứng ở bên bờ sông. Trí nhớ trở lại với tôi: Ngọc, 12 giờ đêm, số bạc 250.000 đồng… Tôi thò tay vào túi.

Đúng như tôi nghĩ: gói bạc trong túi tôi đã mất.

Cả cái ví da của tôi cũng mất.

Tôi mừng khi thấy rằng tôi còn để cuốn sổ Thông Hành của tôi ở khách sạn. Tôi mất nhiều giấy má nhưng tôi chưa đến nỗi mất hết giấy má.

Nhưng còn Ngọc? Chúng đã làm gì vợ tôi?

Việc làm trước hết của tôi là đi báo ngay vụ này với Cảnh sát.

Dấn thân một mình vào cuộc mạo hiểm này, tôi quả là dại dột. Tôi đã làm một việc liều lĩnh vô ích.

Có lẽ trong lúc tôi ngất đi, trời đổ mưa lớn. Căn nhà bọn cướp dụ tôi vào để nấp chờ sẵn và chụp thuốc mê cho tôi ngạt đi bị dột, tôi bị chúng bỏ nằm trên một vũng nước. Giờ đây gió lạnh từ sông rộng về đêm thổi lên làm cho tôi run lên cầm cập. Tôi cần phải về một nơi nào ấm áp, thay quần áo, uống chút rượu mạnh nếu không chắc chắn tôi sẽ bị cảm lạnh, bị đau phổi.

Tôi lần bước đi ra đường cái.

Tôi gắng nhìn đồng hồ. 1 giờ 30 sáng. Tôi đã nằm đó hơn một tiếng đồng hồ.

Vào giờ này, khu Lăng Tô hoàn toàn vắng vẻ. Những quán ăn sáng đèn hồi tối giờ này tối om. Không có một bóng người.

Tuy đau nhừ người, tôi cố gắng lần bước về Khánh Hội.

Tôi vẫn còn một đôi chút may mắn. Từ phía cầu Tân Thuận có ánh đèn pha xe hơi chiếu xuống, rồi vài giây sau, một chiếc xe hơi chạy tới sau lưng tôi. Tôi dừng lại dơ tay, xe cũng dừng lại. Có tiếng người đàn ông hỏi tôi:

− Ông đi đâu mà giờ này còn đứng ở đây?

Tôi thều thào:

− Ông làm ơn cho tôi đi nhờ xe về Sài Gòn. Tôi ở đường Catinat…

Người chủ xe với tay mở cửa sau và nói:

− Ông lên… tôi đưa ông về.

Tôi leo vào xe và thấy một thiếu phụ − chắc là bà vợ của ông chủ xe − ngồi ở băng trên. Chúng tôi không nói gì với nhau suốt từ đó về tới đường Tự Do. Tới cửa khách sạn, tôi bảo ông dừng xe và cám ơn, tôi xuống xe đi vào khách sạn.

Lên đến phòng, tôi thay y phục − bộ quần áo tôi mặc ướt dầm − tôi uống ly Cognac rót từ chai rượu để sẵn trong phòng và đi tắm nước nóng.

Giờ đây, tôi ngồi trong phòng tôi, ấm áp, suy nghĩ.

Đêm đã khuya lắm – 3 giờ 30 sáng rồi – nhưng tôi không buồn ngủ và tôi cũng không muốn ngủ. Ly rượu mạnh và bồn tắm nước nóng làm cho tôi thấy dễ chịu nhiều.

Thân thể tôi và đầu tôi vẫn còn đau nhức nhưng cảm giác đó đã bớt đi nhiều. Tôi cảm thấy dễ chịu là vì tôi so sánh với sự đau đớn của tôi hồi nãy. Bây giờ tôi nghĩ là tôi lại có đủ sức để làm một cuộc phiêu lưu như cuộc mạo hiểm vừa qua đêm nay nữa, nếu cần.

Tôi vừa gọi điện thoại lại nhà riêng của Huy nhưng không có ai trả lời cả. Tôi đoán là Huy đi vắng và vì bận công việc nên đêm nay Huy không về nhà.

Tôi ngồi đọc lại bản viết của tôi về vụ Ngọc mất tích – hồi trưa nay, trước khi tôi đi Lăng Tô, tôi đã viết một phần lớn bản viết mà Huy đọc hôm nay.

Tôi đọc lại tất cả những sự việc đã xẩy ra từ ngày đầu, từ giây phút Ngọc nhận được điện tín từ Sài Gòn gửi lên, báo tin Bà Ngà, mẹ nàng đau nặng, cho đến chiều nay. Tôi thêm vào đó những gì đã xẩy ra từ 12 giờ đêm nay, trong căn nhà vắng ở bờ sông. Tôi đọc đi, đọc lại, tôi suy nghĩ… và dần dần, tôi bắt đầu hiểu.

Một sự việc nhỏ, thật nhỏ, đã làm cho tôi chú ý…

Trong những vụ rắc rối lớn, giữa những khó hiểu lớn, những sự việc nhỏ nhiều khi rất quan trọng, những sự việc nhỏ, tầm thường nhiều khi có thể giúp ta giải đáp, tìm ra manh mối những vụ rắc rối lớn.

Trong buổi tôi theo Thượng sĩ Bái tới tìm Ngọc trong khách sạn Mỹ Ngọc Cung trong Chợ Lớn, khi coi cuốn sổ ghi tên khách trọ của khách sạn, tôi để ý thấy dòng chữ NGUYỄN THỊ VÂN − tên giả của bà khách trọ mà tôi biết đích xác là vợ tôi − được viết bằng mực tím, một thứ mực tím đặc biệt.

Tại sao tôi lại chú ý đến chi tiết nhỏ nhặt ấy? Tôi không thể trả lời, tôi không biết tại sao.

Tôi chỉ nhận biết rằng bức họa sơ sài và dòng chữ “MƯỜI HAI GIỜ ĐÊM, NHÀ ĐÁNH DẤU X.” do anh bồi Quán Hoành Sơn trao lại cho tôi hồi 11 giờ đêm nay … cũng được viết và vẽ bằng mực tím. Một thứ mực tím giống hệt mầu mực ghi tên Nguyễn Thị Vân tôi nhìn thấy trên trang giấy cuốn sổ nhầu nát của khách sạn Mỹ Ngọc Cung.

Giờ đây, tôi tin chắc đó là cùng một thứ mực.

Như vậy có nghĩa là kẻ viết thư đó ở trong khách sạn Mỹ Ngọc Cung, hoặc ít nhất kẻ đó cũng đã dùng thứ mực tím của khách sạn đó để viết.

Có thể kẻ viết chính là gã chủ khách sạn mặt bóng nhẫy mà tôi có ác cảm và nghi ngờ là gian manh ngay từ phút đầu, hoặc kẻ viết phải là một người trọ trong khách sạn đó.

Chắc chắn phải như vậy.

Tôi thấy rằng Cảnh sát dường như không chú ý nhiều đến chủ nhân khách sạn Mỹ Ngọc Cung. Thượng sĩ Bái đã bỏ qua không còn theo rõi dấu vết đó nữa.

Ngay hôm tới Mỹ Ngọc Cung gặp tên Tầu Lai, Thượng sĩ Bái và tôi chỉ muốn có một chuyện: tìm dấu vết để lại của người mất tích. Không còn gì khác, chúng tôi hài lòng với hộp đồ trang điểm Ngọc bỏ quên lại. Chúng tôi đều tin chắc là tên chủ nhân đã nói sự thật: tên què đi chân gỗ đã tới mang Ngọc đi.

Biết đâu… tên Tầu Lai chủ khách sạn với tên què đi chân gỗ lại chẳng là một?

Nếu quả sự thật như vậy, mọi sự rắc rối, bí mật đều không còn rắc rối, bí mật nữa… Vụ này trở thành sáng tỏ như ban ngày.

Gã Tầu Lai tới phi trường gặp vợ tôi. Y đe dọa nàng, bắt nàng phải tới ngụ tại khách sạn Mỹ Ngọc Cung của y để y dễ bề kiểm soát nàng. Y giam hãm Ngọc tại đó chờ tôi tới. Nếu cần, y có thể lại gửi một điện tín khác lên Nam Vang báo cho tôi biết vợ tôi lâm nguy và thúc dục tôi về Sài Gòn.

Khi tôi về Sài Gòn, y biết ngay, vì các báo có đăng hình vợ tôi, và màn ảnh ti-vi chiếu hình vợ tôi, và Thông Cáo của Tổng Nha Cảnh Sát yêu cầu những ai hay tin, trông thấy bà Như Ngọc ở đâu liên lạc cho cảnh sát biết. Y chờ đợi thêm vài ngày nữa, vì y thấy không nên liên lạc ngay với tôi khi tôi vừa mới nhờ Cảnh sát điều tra.

Cuộc tới thăm khách sạn – do Thượng sĩ Bái và tôi cùng đi – không làm cho y lo lắng nhiều. Y đã ước đoán được trước là việc ấy thể nào cũng xẩy ra. Y tin là y có thể đánh lạc hướng được chúng tôi, và đúng như y nghĩ, y đã thành công.

Y bày ra chuyện có tên què đi chân gỗ tới khách sạn mang Ngọc đi. Khi Bái ngỏ ý muốn đi khám xét khách sạn, y lo sợ một chút. Nhưng nhờ gian xảo, y nẩy ngay ra sáng kiến trao lại cho chúng tôi hộp đồ trang điểm của Ngọc. Thượng sĩ Bái và tôi tới khách sạn với ý nghĩ là sẽ không còn thấy người mất tích ở đó và chỉ có thể tìm được một vài dấu vết gì đó của nàng để lại, khi lấy được hộp trang điểm, Bái và tôi cùng hài lòng, ra về. Chúng tôi quên ngay vai trò của tên Tầu Lai đó.

Thượng sĩ Bái chỉ đi xem qua khách sạn, anh không thể nào tìm ra được nơi vợ tôi bị giam giữ, cất dấu.

Tôi tin chắc rằng Ngọc vẫn còn ở trong khách sạn Mỹ Ngọc Cung, ít nhất nàng cũng còn có mặt trong đó khi tôi − chồng nàng, người đi tìm nàng − và Thượng sĩ Bái, nhân viên Cảnh sát thuộc Tổng Nha Cảnh Sát, tới nơi.

Tên Tầu Lai chờ thêm hai ngày nữa, rồi y chờ đêm khuya, tới một phòng điện thoại công cộng, gọi điện thoại đến khách sạn tôi, hẹn nơi gặp tôi cùng số bạc.

Tự nhiên là còn có nhiều điểm tôi chưa thể giải thích rõ ràng được… Như… tên Tầu Lai giả làm người què chân và đi chân gỗ bằng cách nào? Tại sao y vẫn còn dám dấu vợ tôi trong nhà y khi y thấy rõ là cảnh sát có thể đến đó mở cuộc điều tra kỹ lưỡng? Ngọc bỏ bức thư cầu cứu nhỏ của nàng vào hộp đồ trang điểm lúc nào? Tại sao nàng lại nhắc đến tên Công Tử Bốp và dặn tôi tới tìm Công Tử Bốp để hỏi thăm về nàng trong lúc anh chàng này đã bị điên từ lâu và không thể hay biết gì những chuyện ngoài đời?

Tuy nhiên, tôi có thể nói chắc rằng bức thư vài dòng và bản họa đồ sơ sài trao cho tôi ở Nhà Hàng Hoành Sơn bên Lăng Tô đã được viết bằng một thứ mực tím mà tôi đã trông thấy viết trên trang sổ ghi tên khách trọ của khách sạn Mỹ Ngọc Cung.

Bây giờ tôi không thể trưng ra bằng cớ ấy, vì bức thư ấy, cùng tất cả giấy tờ tôi mang theo trong người và gói bạc 250.000 đồng, đã bị lấy mất.

Còn một điều bí ẩn nữa mà tôi không giải thích ngay lúc này được: Tại sao gã Tầu Lai – tôi tin chắc kẻ dùng thuốc mê chụp cho tôi mê đi trong căn nhà hoang bên sông đó là gã Tầu Lai chủ nhân khách sạn Mỹ Ngọc Cung – sau khi làm cho tôi mê đi là lấy hết tiền bạc của tôi, lại không đẩy tôi xuống sông? Nếu tôi chết dưới sông, Huy và Thiếu tá Trịnh, cũng như tất cả mọi người có thể nghĩ rằng tôi vì quá thất vọng, tôi… trong một phút chán đời, yếu đuối, đã nhẩy xuống sông tự vận…

Hoặc nếu Huy và Thiếu tá Trịnh có nghi là tôi bị giết người cũng không tìm đến tên Tầu Lai đó, không ai nghi cho tên Tầu Lai đó là thủ phạm…

Tại sao “nó” lại để cho tôi sống?

“Nó” còn muốn đòi lấy thêm tiền của tôi nữa hay sao ?

Nhưng tất cả… tôi thấy có một câu hỏi này quan trọng hơn tất cả: Tại sao vợ tôi lại sợ hãi tên Tầu Lai đó đến thế?

Y đã dùng những lời đe dọa gì để bắt vợ tôi phải ngoan ngoãn nghe theo y?

Có hai điều rõ rệt là, một: Ngọc đã nghe theo lời gọi của y để trở về Sài Gòn, hai: nàng nghe lời y ở yên nơi y dấu nàng.

Không thể trả lời được câu hỏi này, tôi nghĩ thêm được một điều khác: tên Tầu Lai chủ khách sạn Mỹ Ngọc Cung là thủ hạ của Paul Văn, hoặc chính y là Paul Văn. Có thể lắm.

Tôi hồi tưởng lại tất cả và đi tới một quyết định: Vợ tôi hiện đang bị giam giữ trong khách sạn Mỹ Ngọc Cung… Và…

…Tôi phải tới đó giải cứu nàng.

Tôi nên tới đó ngay lúc này. Vì tên Tầu Lai, hoặc tên Paul Văn bất lương lúc này còn tưởng rằng tôi vẫn còn nằm bên bờ sông vắng hoặc tôi vẫn còn bất tỉnh nằm trong một bệnh viện công nào đó của thủ đô, bây giờ tôi tới ngay đó, y sẽ bị bất ngờ…

Tôi nên tới đó một mình không cần chờ báo cho Thiếu tá Trịnh biết.

Tôi có linh cảm là vụ này sắp kết liễu, tôi muốn tránh sự có mặt của Cảnh sát khi tôi gặp lại vợ tôi.

(Hết Chương 7)

Share this post