Nguyễn Thanh Giang Và Bọn Làm Bạc Giả (Sổ Tay Thường Dân – Tưởng Năng Tiến)

Nguyễn Thanh Giang Và Bọn Làm Bạc Giả (Sổ Tay Thường Dân – Tưởng Năng Tiến)

* Nguồn: Blog Tưởng Năng Tiến (https://tuongnangtien.wordpress.com)

LỜI TÒA SOẠN.– Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một trong những nhà bất đồng chính kiến hàng đầu tại Việt Nam, vừa qua đời lúc 4 giờ sáng Chủ Nhật 28/7/2019, hưởng thọ 84 tuổi. Lễ viếng tang được tổ chức từ 7:30 giờ sáng đến 9:30 giờ sáng ngày 02/8 (tức ngày 2 tháng Bảy năm Kỷ Hợi) tại nhà tang lễ Cầu Giấy, phố Trần Vĩ, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Sinh năm 1936 tại Thanh Hóa, ông Nguyễn Thanh Giang tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Địa Chất – Vật Lý, và là nhà khoa học đầu tiên của Việt Nam được một tổ chức khoa học kỹ thuật của Liên Hiệp Quốc mời trình bày về Cổ Từ Học trong cuộc hội thảo quốc tế ở Kuala Lumpur (Malaysia) năm 1980.

Từ khi về hưu năm 1996, ông Nguyễn Thanh Giang được mọi người biết đến như một nhà bất đồng chính kiến với các hoạt động kêu gọi dân chủ và nhiều bài viết chỉ trích đảng Cộng Sản. Năm 1999 ông bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam gần ba tháng. Sau khi ra tù, ông sống tại Hà Nội và bị canh giữ gắt gao, thậm chí bị công an thường xuyên dùng nhiều thủ đoạn khác nhau để đàn áp tinh thần. Mặc dù vậy ông vẫn kiên quyết theo đuổi phong trào đấu tranh dân chủ với phương pháp bất bạo động, thể hiện qua những bài và thư gửi đến các nhà lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản, dùng văn phong ôn hòa để nêu rõ tình trạng tiêu cực trong bộ máy cầm quyền cùng những thay đổi mà ông cho là cần thiết để dẫn đến nền dân chủ. Cùng với cựu Đại tá Phạm Quế Dương, ông thành lập nguyệt san Tổ Quốc, là nơi đăng tải bài viết của các nhà đấu tranh trong nước nói lên những điều không bao giờ được đăng trên báo chí “lề phải”. Vì tờ tạp chí in “chui” này, hai ông Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương và những cây bút cộng tác bị nhà nước CSVN sách nhiễu và đàn áp nặng nề.

Năm 2013, ông Nguyễn Thanh Giang trải qua một cơn tai biến mạch máu não, từ đó sức khỏe kém dần. Bốn năm sau đó tuy ông có thể tự đi lại đôi chút, nhưng bà Nguyễn Thị Tuyết Mai là vợ ông cho biết ông vẫn trong tình trạng nhớ trước quên sau. Năm 2017, đã có lúc ông gửi đến mọi người “lời chào vĩnh biệt” và nhắc đến đứa con tinh thần là cuốn sách “Đêm Dày Lấp Lánh” viết về những gương mặt dấn thân cho một nền dân chủ và gói ghém tâm huyết của ông suốt những năm tháng đấu tranh. Theo lời Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang: “Mong rằng cuốn sách ấy sẽ đi vào lịch sử. Thế hệ sau sẽ nhớ lại chúng ta đã làm những gì. Chúng ta đã có những người kiên cường chứ không phải những người đê hèn chỉ biết sống cho cá nhân mà không biết hy sinh cho xã hội. Tôi thương yêu mọi người. Tôi yêu quý mọi người. Cho tôi xin được gửi lời chào vĩnh biệt mọi người”.

Xin mời quý độc giả Phố Nhỏ Online đọc Sổ Tay Thường Dân năm 2005 của Tưởng Năng Tiến viết về Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, và bài bình luận mới nhất của đài BBC trên trang mạng tiếng Việt ngày 30/7/2019.

Nguyễn Thanh Giang Và Bọn Làm Bạc Giả

Qua bán tuần san Thời Báo Kinh Tế Việt Nam – số ra ngày 3 tháng 4 năm 1999 – phó tiến sĩ Nguyễn Hữu Hải có phát biểu rằng “nghèo đói thường gắn liền với phong tục tập quán lạc hậu, với địa hình nơi cư trú…” Điều ông Hải nói đúng nhưng không đủ. Tuy nhiên, ông ta không nói hết lời, cố tránh đề cập đến nguyên nhân của sự nghèo đói ở Việt Nam một cách rõ ràng hay rốt ráo hơn.

Cũng trong số báo này, khi được hỏi “liệu năm 1999 số hộ đói có giảm so với những năm trước hay không?”, Thứ Trưởng Bộ Thương Binh Xã Hội Đàm Hữu Đắc đã trả lời: “Nếu tình hình thời tiết không có đột biến xấu như hai năm 1997, 1998 thì tình hình nghèo đói ở Việt Nam trong những năm 1999 và những năm tiếp theo sẽ giảm đáng kể”.

Khác với ông Hải, ông Đắc nhấn mạnh đến thiên tai (chứ không phải phong tục tập quán) như là nguyên nhân chính gây ra nghèo đói. Tương tự như ông Hải, ông Đắc cũng (“né”) không muốn nói đến nhiều nguyên nhân khác – và là nguyên chính – đã gây ra sự bần cùng, khốn khó cho xứ sở của mình.

Trước đó hai hôm, báo Nhân Dân – số ra ngày 1 tháng 4 năm 1999, tại Hà Nội – có đăng bài xã luận “Thực Hiện Tốt Tổng Điều Tra Dân Số Và Nhà Ở Trên Cả Nước”. Người viết (không ký tên) đề cập đến tất cả mọi vấn đề liên quan đến việc điều tra dân số thực hiện năm đó, trừ mỗi một chuyện – và chuyện này lại được tiết lộ ở một tờ báo khác (báo Thời Luận, số ra ngày 24 tháng 3 năm 1999, tại Los Angeles, Hoa Kỳ) qua hình thức một mẩu tin ngắn, nguyên văn như sau:

“Ngày 23 tháng 3 năm 1999, ông Erick Palstar, Trưởng Đại Diện Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) tại Việt Nam cho biết vào lúc không giờ ngày 1 tháng 4 năm 1999 Việt Nam sẽ tiến hành cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở. Công việc này lại tiếp tục được đài thọ bởi Liên Hiệp Quốc, và vẫn theo lời ông Erick Palstar, đây là một trường hợp ngoại lệ chưa từng có trong lịch sử. Chưa có quốc gia nào cần phải được Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc giúp tới ba lần liên tiếp với lý do là không có khả năng tài chánh để thực hiện một mình”.

Khác với ông phó tiến sĩ Nguyễn Hữu Hải, ông thứ trưởng Đàm Hữu Đắc, tác giả bài báo vừa dẫn lờ luôn mọi chuyện có liên quan đến sự thiếu thốn và yếu kém của cái xã hội mà mình đang sống.

Tuy nhiên, tựu trung, cả ba nhân vật kể trên đều có điểm này giống hệt nhau: họ ăn nói, viết lách hết sức dè chừng và cẩn thận, cứ y như những kẻ luôn luôn bị rình rập hay đe dọa bởi những bóng ma vô hình lẩn quất quanh mình.

Đây là một trong những nét đặc trưng trong đời sống hàng ngày của cả dân tộc Việt, từ nhiều thập niên qua, chứ không riêng một giới người nào. Tất cả đều ý thức, một cách thường trực, về những điều cấm kỵ của xã hội mà họ đang sống, những sự thực cần được che dấu, hay những nhân vật không thể đụng đến. Đó là một hình thức tabu mới, và là tabu giả, vừa được áp đặt vào xã hội Việt Nam – hơn nửa thế kỷ qua.

Từ “tabu” (taboo – tapu) có nguồn gốc từ quần đảo Polynesia. Nó có nghĩa là “sự nghiêm cấm hoặc sự giới hạn chặt chẽ mọi đụng chạm, hiểu theo nghĩa đen, với một số đồ vật hay nhân vật đặc biệt, trong những hoàn cảnh đặc thù nào đó” (Gollier Multimedia Encyclopedia, 1997).

Sự cấm kỵ (tabu) hiện diện ở mọi nơi, nhưng thường chỉ có vai trò rõ nét ở những xã hội sơ khai – nơi mà “luật” chưa hình thành nên phải có “lệ” để duy trì trật tự tối thiểu và cần thiết cho những sinh hoạt của cộng đồng. Có những điều cấm kỵ rất phổ biến, được chia sẻ bởi hầu hết mọi nơi, như sự loạn luân hay ăn thịt đồng loại. Cũng có những điều cấm kỵ rất đặc thù, chỉ hiện diện ở một số dân tộc hay bộ tộc. Có nơi, mọi sự đụng chạm đến thầy mo hoặc tù trưởng của bộ lạc đều bị nghiêm cấm. Cá nhân nào vi phạm đến sự cấm kỵ này đều có thể bị tai họa vào thân (Compton’s Encyclopedia On Line V3.01, 1998).

Theo truyền thống, tabu thường có tính tự phát và được sự đồng thuận (có thể là một cách vô thức) bởi mọi thành viên, vì lợi ích chung của cộng đồng. Chúng ta sống trong một thời đại mà tabu có thể được “sáng tạo” bởi một cá nhân hay một tập thể lãnh đạo, và được mang áp đặt vào xã hội – bằng mọi cách – cho phù hợp với đường lối cai trị hay quyền lợi của giai cấp thống trị. Tương tự như tiền giả, tabu giả vẫn có thể được xã hội chấp nhận cho đến khi… bị phát hiện!

Ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam có thể được coi là những thí dụ tiêu biểu, minh thị cho chuyện những tabu giả ở đất nước này. Ngay sau khi nắm được quyền bính, họ tự tạo ra một số những tabu và áp đặt trên quần chúng. Họ nghiễm nhiên đều trở thành những nhân vật bất khả xâm phạm – “the untouchables”, nếu nói theo ngôn ngữ Mafia của thời đại chúng ta. Mọi va chạm đến họ đều bị ngăn cấm, và nghiêm trị. Sự nghiêm trị có thể kéo dài nhiều thế hệ, dựa theo lý lịch. Đấy là điều mà những vị tù trưởng bộ lạc (và những trùm Mafia tân thời) đều không thể tưởng tượng nổi, chứ đừng nói chi đến chuyện thi hành.

Để đối phó với sự đụng chạm thường xuyên của quần chúng với những tabu (giả), ngày 20 tháng 6 năm 1961, nhà nước ban hành nghị quyết số 49NQ/TVHQ. Nghị quyết này, do Trường Chinh ký, cho phép ủy ban nhân dân thành phố và các tỉnh bắt giam vào trại tập trung tất cả những thành phần bất mãn với chế độ, hoặc khó thích ứng với xã hội chủ nghĩa. Thời gian tập trung được qui định trên văn bản là 3 năm nhưng thường kéo dài từ 9, 12, 15 năm hay lâu hơn nữa.

Một trong những nạn nhân tiêu biểu của Nghị quyết 49 là nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.

Ông Nguyễn Chí Thiện bị ở tù (dài dài) vì đã không ngần ngại “đụng” đến những tabu của thời đại mình, dù đụng rất nhẹ nhàng, bằng những câu thơ mộc mạc:

Miếng thịt lợn chao ơi là vĩ đại.
Miếng thịt bò vĩ đại gấp hai.
Gạo muối, chanh đường, lạc bắp, ngô khoai…
Đảng rớ tới bỗng nhiên thành vĩ đại!

Sau Đảng, tới Bác:

Không có gì quí hơn độc lập tự do
Tôi biết thằng nói ra câu đó.
Tôi biết nó, cả nước này biết nó.
Việc nó làm, tội ác nó ra sao?

Sau khi ông Hồ chết (hay còn gọi là “đi chơi xa”, nếu muốn nói một cách cẩn tắc theo tinh thần tabu của thời đại mới) những người kế tục không ai tạo được một uy thế như kẻ tiền nhiệm nên những tabu liên quan đến vị chủ tịch Đảng – với thời gian – mất dần hiệu lực.

Bác Hồ mất nhưng Đảng còn. Những tabu liên quan đến Đảng không hề mất theo hay thay đổi, nếu chưa muốn nói là còn trở nên “khắt khe” hơn – ít nhất thì cũng là trong thời gian Bác Thọ và Bác Duẩn “chưa khuất núi”. Bởi vậy nhiều vụ đụng chạm vào tabu cũng như trừng phạt vẫn tiếp tục xẩy ra, và với thời gian người ta ghi nhận là có sự gia tốc về vấn đề này – nhất là kể từ khi đảng Cộng Sản không còn dấu được rằng đối với nó không có gì quý hơn là quyền lợi của chính mình.

Nạn nhân mới nhất, vì đã đụng chạm những tabu của đảng Cộng Sản Việt Nam, là ông Nguyễn Thanh Giang. Vụ việc này, theo tường trình của đài BBC, nghe được hôm 19 tháng 4 năm 2005, như sau:

Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang, một nhân vật bất đồng chính kiến có tiếng ở trong nước, cho đài BBC biết ông đang lo lắng về an ninh của bản thân sau khi nhận được những lời đe dọa của một số người được coi là cựu chiến binh… Phản ứng giận dữ của những cựu chiến binh này, theo ông Giang, xảy ra vì họ phẫn nộ rằng ông đã gọi cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam là phi nghĩa“.

Sau Thế Chiến Thứ Hai, khi phong trào giải thực lan rộng trên toàn cầu (và việc trao trả độc lập cho những quốc gia bị trị trở thành một xu hướng không thể đảo ngược ở khắp mọi nơi) đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn cố tạo ra một cuộc chiến “đánh đuổi thực dân để dành độc lập”. Sau đó, họ tiến hành một cuộc chiến tranh chống xâm lược (giả) khác bằng cách bắt ép nửa phần dân tộc Việt đi chém giết nửa phần còn lại.

Trong cả hai cuộc chiến (rất) “thần thánh” và (hoàn toàn) không cần thiết đó, họ đều thắng lợi một cách vẻ vang. Chỉ có những kẻ bị bắt ép hay bị lừa gạt phải lao vào lửa đạn (và thân nhân của họ) là đại bại. Tuy thế, họ không cho phép bất cứ ai được nói ra điều này. Khi lên tiếng rằng “Cuộc chiến chống Mỹ vừa qua thực sự là vô nghĩa đối với cả Việt Nam và Hoa Kỳ” là ông Nguyễn Thanh Giang đã phạm vào điều cấm kỵ, đã đụng chạm tới tabu của thời đại mình – một thứ tabu giả.

Sống trong một đất nước mà những kẻ tổ chức làm bạc giả đang ở địa vị cầm quyền, khi khám phá ra những đồng tiền giả – lẽ ra – ông Nguyễn Thanh Giang không nên tri hô (ầm ĩ) lên như vậy. Có ai lại thiếu tế nhị đến thế, hả Giời?

Tưởng Năng Tiến (tháng 52005)

PHỤ ĐÍNH:
Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang Là Trí Thức Đòi Thay Đổi Đường Lối
(Trang mạng BBC Tiếng Việt ngày 30/7/2019)

Tin cho hay Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhà bất đồng chính kiến ở Hà Nội, qua đời hôm 28/7, hưởng thọ 84 tuổi.

Các báo ở Việt Nam không đưa tin này.

Người ta chỉ biết tin ông qua đời khi đọc tin trên trang cá nhân của gia đình và một số bạn hữu của ông.

Ông Nguyễn Thanh Giang được coi là một trong những người dấn thân trong phong trào đấu tranh dân chủ cho Việt Nam hồi thập niên 1990.

Năm 1999, ông bị bắt giam gần ba tháng.

Trước đó, ông là một nhà khoa học chuyên ngành Địa chất–Vật lý, từng được một tổ chức khoa học kỹ thuật của Liên Hiệp Quốc mời trình bày về Cổ Từ Học trong hội thảo quốc tế ở Kuala Lumpur, Malaysia, năm 1980.

Hôm 30/7, nhà thơ Hoàng Hưng nói với BBC:

“Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang là một trong những nhà đấu tranh dân chủ nổi tiếng đầu tiên ở Việt Nam, cùng với tướng Trần Độ, đại tá an ninh Lê Hồng Hà, nhà lý luận Mác–xít Hoàng Minh Chính.

“Ông tiêu biểu cho những trí thức khoa học thành đạt nhưng sẵn sàng bỏ hết thuận lợi của bản thân để lên tiếng đòi đảng Cộng Sản, nhà nước Việt Nam thay đổi triệt để đường lối để đưa đất nước thoát bế tắc và nguy cơ mất chủ quyền.

“Cho nên ông tạo được tiếng vang cả trong nước lẫn trên trường quốc tế. Ông cũng là người sáng lập một trong những tờ báo phản biện “undergound” đầu tiên là tờ tập san Tổ Quốc.

“Gần đây ông còn tham gia Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam với tư cách nhà thơ. Ông có những bài thơ hay và mới mẻ từ khi còn rất trẻ. Cũng cần nhắc lại, ông là con rể của nhà thơ Thôi Hữu nổi tiéng thời kháng chiến chống Pháp”.

Nhà hoạt động Phạm Thanh Nghiên, cựu tù nhân lương tâm, viết trên trang Facebook cá nhân:

“Khi còn khỏe, ông Nguyễn Thanh Giang là một trong những cây bút sắc sảo và viết rất “khoẻ” với nhiều bài phân tích có giá trị. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách “dân chủ” như Suy Tư Và Ước Vọng, Đêm Dày Lấp Lánh, và là chủ biên tờ tập san Tổ Quốc – một ấn phẩm in và phát hành bí mật trong nước nhiều năm.

“Tôi có nhiều kỷ niệm với nhà hoạt động gạo cội này và may mắn được ông yêu thương, chỉ bảo ngay từ những bước chân đầu tiên chập chững bước vào con đường chông gai này.

“Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang là người cuối cùng qua đời trong bộ tứ – cùng với giáo sư Hoàng Minh Chính, cựu đại tá công an Lê Hồng Hà và nhà văn Hoàng Tiến. Số người còn sống cùng thế hệ dấn thân với ông, bây giờ chỉ còn lại mấy người”.

Hồi năm 2008, trả lời BBC về một lần bị khám nhà, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang nói:

“Tôi làm tạp chí theo kiểu thiện nguyện, không kinh doanh, không in ấn, ai cần đọc bài thì photo copy gởi tới cho đọc.

“Bài viết của những người này góp phần đưa ra cái nhìn và sự phân tích để giúp Việt Nam dân chủ hóa, tìm ra đường lối cai trị dân tộc tốt hơn.

“Tôi muốn [tạp chí] Tổ Quốc thành một kênh trao đổi và đóng góp của những người Việt Nam tâm huyết, và có thể hiến kế cho đảng Cộng Sản cách đối nhân xử thế, hay chuyện điều hành đất nước…”

Share this post