Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 13

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 13

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 13
– Z.04
Khắc khoải. Trao đổi. Nhận dịnh. Bóng mát trên đường đào thoát.

Vì sao các bạn cứ chống đối chính quyền như m ba? Bửu Dương hỏi.

– Vì họ là tay sai ngoại bang. Tôi nói ngay. – Thật không? Sợ tôi không nghe rõ, Bửu Dương ngoái lui quan sát. – Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ là ai? Có phải thực dân Pháp đào tạo ra không? Tôi hỏi rồi trả lời luôn. – Thế mà bây giờ các ổng tự nhận đại diện nhân dân, huênh hoang bảo vệ tổ quốc, rao giảng độc lập, dạy chúng ta sống đời tự do! Có tin được không? Tôi chì chiết, khắc ghi bằng những nắm đấm khẽ khàng vào lưng anh ta.

– Thế Hồ Chí Minh và vô số tay chân của ông ta không phải do Staline và Mao Trạch Đông đào tạo a? Cấp lương cho ăn rồi đưa về Việt Nam thừa cơ thả lưới buông câu? Đã tay sai, bất luận chủ Vàng chủ Đỏ cũng là tay sai, sao không tống khứ cho luôn một bè? Bửu Dương mở rộng, khúc khích cười.

– Chuyện đó để cho trí thức và thanh niên miền Bắc xử trí, họ không vừa đâu. Nhà ai dơ nấy dọn, bàn thờ ai dột nấy che! Tôi nói.

Bửu Dương im lặng cho xe qua cầu, đã chậm còn giảm tốc. Ngồi phía sau tôi lo lắng nhưng không hối thúc nữa.

– Phải nhớ rằng, Mỹ lập quốc thoát thai tđấu tranh gii phóng, chưa bao giờ là thực dân và chưa bao giờ có một tấc đất thuộc địa mặc dầu hiện nay là nước giàu mạnh nhất thế giới! Xuống khỏi dốc, Bửu Dương bất ngờ nối chuyện.

– Nhưng đối với Việt Nam ta, Mỹ luôn luôn sai lầm qua nhiều đời tổng thống. 

Được gãi đúng chỗ ngứa, tôi thẳng thừng đốp chát, tự dưng quên mình đang trên đường đào tẩu.

– Thời Minh Mệnh, khổ công Bùi Viện vượt Thái Bình Dương, sứ Mỹ sang đến cửa sông Hàn, quốc thư chưa dâng lên, bệnh chết, cuốn cờ lặng lẽ quay về! Sao không có lấy một chữ báo tang? Chánh sứ chết, còn có phó sứ? Một nước văn minh như Mỹ, lịch sự để đâu, bang giao quốc tế mà thế à?

Nghe đến đó, Bửu Dương khúc khích cười, vô tình kích thúc tôi hơn nữa.

– Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc xin cầu kiến tổng thống Mỹ Woodrow Wilson nhân khi ông ta đến Pháp dự hoà hội Versailles, ký hiệp ước chấm dứt Thế Chiến Thứ Nhất, nhưng bị từ chối do OSS cho hay Nguyễn Ái Quốc là Cộng Sản. Báo cáo láo, tổng thống Mỹ nghe theo, thời điểm đó Nguyễn Ái Quốc chưa Cộng Sản! Mãi đến khi Thế Chiến Thứ Hai sắp kết thúc, tại hội nghị Yalta hay Potsdam gì đó, Roosevelt đề nghị ngay sau khi thế giới vãn hồi hòa bình, những vùng đất thuộc địa sẽ được đặt dưới quyền ủy trị của Liên Hiệp Quốc trong một thời gian có hạn định, quá trình đô hộ, thế lực trực trị, bọn thực dân đương quyền, từng bước thực thi tự do dân chủ, khi đáo hạn, phải trao trả độc lập hoàn toàn cho nhân dân bản địa. Anh và Pháp, hai đế quốc có nhiều thuộc địa không nhất trí nhưng không dám phản bác, Staline và Tưởng Giới Thạch đồng ý. Chẳng bao lâu, ở Việt Nam ta, quân Tưởng sang giải giới quân Nhật từ vĩ  tuyến 17 trở ra, quân Anh, từ vĩ  tuyến 16 trở vào. Nhưng liền sau đó, De Gaule lại móc ngoặc với Churchill cho Pháp thế chân. Và Truman kế nhiệm Roosevelt đột tử, biết ý đồ xấu xa của Pháp nhưng mặc nhiên đồng thuận.

Ấm ức hẫng hụt mít-tinh, tôi dồn sức vào tranh cãi.

– Thế ngày mồng 6 tháng 3 năm 1946, ai ký hiệp định sơ bộ thừa nhận sự hiện diện của thực dân Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam? Ai long trọng đón rước đại diện Pháp ở Bắc bộ phủ? Có phải Hồ Chí Minh không nào? Bửu Dương liền bổ sung một sự kiện lịch sử nhục nhã mà tôi cố lờ đi.

– Khoan đã! Cho tôi nói hết rồi tới phiên anh.

 Nhằm lấp liếm, tôi ngắt lời Bửu Dương. \

– Năm 1954, Điện Biên Phủ bị Việt Minh bao vây, Pháp cầu cứu, Mỹ có dự định tặng bom nguyên tử cho Pháp để gỡ bí, may mà Anh không nhất trí. Sau ngày ký hiệp định Genève, Mỹ thay Pháp, sao lại dùng Ngô Đình Diệm, một cựu thần lỗi thời triều Nguyễn, một con chiên ngoan đạo trung thành tuyệt đối những giáo điển cổ hủ của Roma, một chính trị gia Công giáo, chỉ chiếm tám phần trăm dân số, nhân tài đất Việt đã cạn kiệt đâu mà phải lý tới một nhân vật thân danh đã trót nhúng chàm! Rõ ràng Mỹ cũng cùng giuộc với Pháp, chỉ tin con chiên và các cố đạo Thiên Chúa giáo trong khi Phật giáo Việt Nam chiếm đại đa số đến tám mươi phần trăm dân số.

– Bạn muốn đề xuất những người như Nhất Linh Nguyễn Tường Tam hoặc Trương Tử Anh… phải không? Bửu Dương ngắt ngang.

– Vâng! Trúng ý nhưng tôi vẫn tranh thủ dai dẳng. – Rồi Kennedy tàn nhẫn loại bỏ Diệm. Dương Văn Minh thay thế nhưng ông ta là Phật tử. Lại vội vàng đổi ngựa. Do nhân dân miền Nam phản đối, Nguyễn Khánh phải ra đi. Nhập nhằng một thời gian từ Phan Huy Quát, Phan Khắc Sửu đến Trần Văn Hương, sau cùng Mỹ chọn Nguyễn Văn Thiệu, rút lại vẫn Thiên Chúa giáo, để có người chịu làm theo ý mình là đưa quân vào lùng và diệt Việt Cộng. Những sử gia thông thái của Mỹ sao không thấy tự ái dân tộc của người Việt Nam! Trật trầy một thời gian, nhân dân Mỹ phản đối, chính quyền Mỹ tìm cách ăn cánh với Trung Quốc, ồ ạt trút bom xuống miền Bắc mà trên bộ chẳng có một lực lượng nào, những chiến lược gia thông thái của Mỹ sao không thấy từ xưa đến nay Không Quân chỉ hủy hoại mà không bao giờ thu tóm được cái gì trên mặt đất. Phải cho Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ chiếm các cảng miền Bắc ngay! Phải cho Lục Quân đánh tràn sang Bến Hải chứ! Buồn cười nhất sau hiệp định Paris 1973, an toàn túc tắc rút quân về nước, Mỹ lại hô hào Việt Nam hoá chiến tranh và cam kết bảo vệ miền Nam Việt Nam đến tấc đất cuối cùng! Nói đến đó, tôi khề khà ngoặt ngoẽo, xe chao nhẹ rồi ổn trở lại.

Bạn cũng đáo để lắm!

Bửu Dương nói không biết khen hay chê.

Chúng tôi đã qua bờ nam sông An Cựu, xa hẳn vùng náo động. Anh ta cho xe vào một khu vườn rộng, tôi không kịp đọc tên phủ đệ trên biển đề ở cổng. Vượt qua khoảnh sân lát gạch có nhiều chậu kiểng, ra tận vườn sau, anh ta đẩy tôi vào một phòng nhỏ nối liền với nhà chính bằng một hành lang lợp ngói, rồi lẩn đi đâu đó. Trong khung cảnh tĩnh lặng, tự dưng tôi bừng tỉnh. Nơi đây là đâu? Và anh ta là ai? Chút quen biết qua quýt ở thư viện chẳng giải đáp được điều gì và không đủ cơ sở cho tôi tin tưởng, ký thác sinh mệnh mình. Tôi tiếc đã bỏ mất cơ hội không tách khỏi anh ta lúc xe qua cầu, rất dễ thoát về cư xá Nam Giao.

– Các bạn hành động như thế, ai có lợi?

Chừng mươi phút sau, Bửu Dương trở lại với bình trà và khay chén trên tay, hăm hở tiếp nối câu chuyện bỏ dở dọc đường.

– Tổ quốc Việt Nam…  Tôi nói, đón lấy tách trà.

 – Tổ quốc ta đẫm máu lửa hơn trăm năm qua, nhưng không thể tựa vào những cống hiến non gan nhẹ dạ như thế mà dứt được gánh tang thương! Anh ta nói.

Đó là mạ lị hơn là phê phán. Thoáng nghe, tôi rất căm nhưng không để lộ cảm xúc, đặt vội tách trà xuống mặt chiếc bàn tròn khảm cừ. Anh ta nói tiếp:

– Tổ quốc Việt Nam không thể đui mù mua lấy Độc Lập bằng máu của Tự Do, vì Tự Do không những là cội nguồn của Dân Chủ mà còn là cốt tinh của Nhân Bản, của Nhân Quyền.

Anh ta nhìn sâu vào mắt tôi:

– Bạn có biết Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh khác nhau thế nào không? Bạn có bao giờ để mắt tới tiến trình từ thực dân Pháp đến Cộng Sản trên đất nước chúng ta không? Bạn có bao giờ phân biệt hai cuộc chiến tranh liền kề nhưng hoàn toàn khác nhau không? Bạn có thấy Staline giải phóng các quốc gia Đông Âu rồi làm gì không? Bạn có thấy Mao Trạch Đông giành lấy đất nước Trung Hoa từ tay Tưởng Giới Thạch để làm gì không?

Hơi sốc, nhưng tôi im lặng đề phòng. Anh ta vẫn chưa chịu thôi thuyết giáo:

– Trừ phi là Cộng Sản giả trang, các bạn là một lũ trí thức chưa kịp thức trí đã giẫm phải bùa mê thuốc lú của triết học Hiện Sinh cực đoan!

Anh ta cười kháy:

– Đã đọc Lũ Người Quỷ Ám của Dostoievski chưa? Đã đọc Tầng  Đầu Địa Ngục của Solzenitsin chưa?

Nghe đến đó, tôi đứng bật dậy lao ngay ra cửa.

Tôi xuống chưa khỏi bậc thềm, Bửu Dương đuổi kịp và níu cứng lấy vai tôi.

– Xin lỗi, mình chỉ cốt thấu lý mà quên các mặt khác. Nhưng đây là nơi an toàn nhất cho bạn lúc này.

 Anh ta đưa mắt nhìn quanh:

– Rồi bạn sẽ thấy, nhà tôi nghèo nhưng mẹ tôi rộng lượng và nhân ái thế nào.

Bửu Dương đẩy tôi trở lại phòng.

– Anh là ai? Tôi gắt, bực dọc thả mình xuống ghế.

– Là ai? Anh ta đang châm dở một điếu thuốc, vội dập tắt que diêm cho vào gạt tàn. – Từ từ sẽ biết. Anh ta dim mắt, tần ngần. – Đành phải… thiếu sót, hơi khiếm nhã, không tiện nêu rõ chức danh vì tôi không mấy yêu thích truyện phim, cả đạo diễn, cả vai diễn mình đang đảm trách và đang ăn lương. Nhưng bây giờ vì an toàn tính mạng, bạn phải nghe tôi!

Gom bao Salem và liếp diêm đặt xuống mé bàn ngay trước mặt tôi, anh ta vụt đi ra ngoài. Có nên tin một người như thế trong hoàn cảnh này? Nhìn theo, tôi tự hỏi. Nếu muốn hại, anh ta đã ra tay khi mang tôi chạy rong ngoài phố, chẳng hạn tấp vào một đồn bót nào đó. Nhưng những gì vừa biểu hiện, rõ ràng anh ta không tán thành cách thức hành động của chúng tôi. Vậy do đâu anh ta có nghĩa cử này? Dồn dập thắc mắc, đầu tôi căng cứng muốn vỡ tung. Quá trình quan hệ, tôi chỉ là thứ sơ giao của Bửu Dương, tình cờ tao ngộ. Còn quan điểm chính trị, hình như chúng tôi cách biệt nhau như hai bờ của một dòng sông.

Tôi đứng dậy, vươn vai chống mỏi, lẩn thẩn quanh phòng, nhân tiện quan sát mọi thứ. Diện tích sinh hoạt chật hẹp, đã thế hai kệ sách lớn áp sát mặt tường hai bên còn lấn chiếm thêm không gian. Trên tường ngay bên cửa sổ, một cây Violon cũ kỹ chứng tỏ chủ nhân đã một thời khổ công tập luyện, và chẳng còn dây nào lành lặn chứng tỏ chủ nhân đã lâu không mó tới. Nhưng bên dưới, chiếc giường sắt trải nệm mút với những đồ ngủ để lại chứng tỏ thường xuyên có người xử dụng. Một cửa sổ song bằng gỗ thông ra vườn sau, qua đó tôi thấy màu xanh của cây cỏ và một giếng nước rêu phong. Bờ rào cuối vườn khá xa, cây dại lấp xấp che khuất nhà hàng xóm.

Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về. Gọi hồn liễu rũ lê thê. Gọi bờ cát trắng đêm khuya

Ai hát nhạc của Trịnh Công Sơn, mỗi lúc một rõ dần.

Ngày mai em đi biển nhớ em quay về nguồn. Gọi trùng dương gió ngập hồn. Bàn tay chắn gió mưa sang. Ngày mai em đi thành phố mắt đêm đèn vàng…

Tôi quay lại và ngỡ ngàng bắt gặp một người con gái hai tay khệ nệ các thứ.

– Em là Diễm Thúy, em gái Bửu Dương.

Cô gái khẽ cúi chào, tự giới thiệu, lướt qua mặt tôi vào thẳng bên trong.

 – Mẹ em bảo hỏi anh cần gì thì mang thêm, chẳng hạn khăn bông, bàn chải răng, nhật báo, truyện cổ… Cô đặt khay mứt xuống mặt chiếc bàn tròn, đùa cái radio Philippes vào một ô kệ, thả tập truyện Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung rơi xuống chiếc gối ở đầu giường. Tự dưng tôi lúng túng do sự săn đón ân cần tinh tế ấy. Nhiều thắc mắc rộn lên trong đầu nhưng tôi không dám khơi mào. Xong việc, Diễm Thúy khẽ chào lui vào nhà.

 – “Hôm nao em về bàn tay buông lối ngỏ. Đàn lên cung phím chờ, sầu lên đây hoang vu…”

Diễm Thúy lại cất tiếng hát, mỗi lúc một xa dần. Tới khi thanh âm mất hút, tôi nhìn xuống các thứ cô ta vừa để lại. Năm kia, bỏ dở Anh Hùng Xạ Điêu, tập trung vào Tư Bản Luận, nay tôi đọc tiếp. Nhờ sức hấp dẫn của cuốn truyện, chỉ vài ba trang, tôi đã tạm quên mọi chuyện. Có lúc tôi tưởng đang ở nhà mình tít tận vùng cao Thường Đức, Quảng Nam.

(Hết Chương 13)

Share this post