Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 26

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 26

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 26
– Z.08
Chính trị và thủ đoạn. Độc lập dân tộc và đấu tranh giai cấp.

Cha em đang chờ anh ở nhà! Một buổi sáng Chủ nhật đầu xuân, Cẩm Khuê cho hay khi chúng tôi vừa giáp mặt. Thay vì tản bộ tới công viên Quốc Học, tôi lưỡng lự mấy giây rồi quay bước, theo cô ta về Vĩ Dạ với cảm giác của một thí sinh đang đến trường thi. Đi được một đoạn, lo lắng lớn dần và cứ lởn vởn trong đầu, tôi có ý định thoái thác. Nhưng nghĩ lại, mình là phận dưới, tùy tiện đổi thay hóa ra thất lễ.

 – Em đã nói gì với thầy? Khi ngang qua Đập Đá, tôi hỏi, bồn chồn nắm lấy tay người yêu.

– Em đã kể hết chuyện chúng mình, xin cha mẹ cho phép và bảo ban. Cẩm Khuê nói.

– Ý thầy thế nào? Tôi lại hỏi.

– Cha im lặng, hình như hơi choáng và không được vui. Cẩm Khuê nói.

– Nghĩa là có vướng mắc? Tôi hỏi.

– Không hẳn. Nhưng cha là người chưa bao giờ lãng phí thời gian. Cẩm Khuê nói.

– Vậy theo em, anh nên thế nào? Tôi thăm dò.

– Tránh va chạm nhưng đảm bảo trung thực. Cô ta nói. Tôi hiểu Cẩm Khuê không hẳn chỉ dẫn mà còn đòi hỏi. Nhưng phải làm thế nào để không va chạm? Không để lộ ý hướng, không để lộ quan điểm, không để lộ cảm tưởng. Đó không phải bản tính của tôi, con người tôi. Và đương nhiên, không trung thực? Nhưng đang sống trong một xã hội nhiễu nhương, nghĩ sao nói vậy, bụng để ngoài da, liệu có nên không? Tôi e cuộc diện kiến chỉ lưu lại ấn tượng không hay.

– Chúng ta tình cờ gặp nhau, tình yêu đến tự nhiên như lộc ngày xuân của đất trời. Mẹ đánh giá rất cao nghĩa cử anh nhường áo cho em, nhưng cha bảo cuộc sống lứa đôi không chỉ có thế! Cô ta nói thêm.

– Được rồi, yên tâm đi, anh hứa sẽ uyển chuyển lựa lời để khỏi phụ lòng em.

 An ủi người yêu, nhưng tôi cảm thấy đoạn đường quen thuộc hôm nay không bằng phẳng như mọi ngày.

Chúng tôi tần ngần trước khi đưa xe qua ngõ. Nắng tràn ngập vườn tược, chấp chới trên đỉnh non bộ, trời trong xanh nhưng không khí se lạnh. Cẩm Khuê đưa tôi vào phòng khách, rót cho tách trà rồi thoắt đi đâu đó. Ngồi một mình, tôi hồi hộp, bồn chồn. Cũng như lần trước, để khỏa lấp khoảng trống, tôi đưa mắt quan sát các thứ bài trí. Chợt nghe tiếng người nói cười rôm rả bên ngoài, tôi nghĩ có lẽ nhà đang có khách, và hy vọng cuộc hẹn sẽ được dời lui một ngày khác. Vừa lúc tôi uống xong tách trà, Cẩm Khuê trở lại trong áo xống mặc ở nhà. Như không còn gì phải trao đổi, vững tin, cô ta đưa tôi đi dọc hành lang, thẳng tới tiền sảnh một gian phòng rộng. Để lại áo mũ và các thứ bên ngoài, tôi theo cô ta bước qua cửa.

– Thưa ba, anh Lê Huy!

Cẩm Khuê cung tay, lên tiếng. Đang trên chiếc ghế đẩu cao áp sát kệ sách, cha Cẩm Khuê ngưng việc tìm kiếm, hấp háy nhìn xuống sau cặp kính trắng gọng vàng. Tôi kính cẩn cúi chào. Cô ta tiến tới rước mấy tập sách từ tay cha đặt lên mặt bàn. Ông chậm rãi rời ghế, rút mu-soa lau mặt rồi đưa tay cho tôi bắt. Lớ ngớ mấy giây, Cẩm Khuê lặng lẽ rút lui.

Hồ giáo sư tiếp tôi ngay bàn viết ở thư phòng, nơi ông đang làm việc với hàng ngàn quyển sách ken kín những dãy kệ sát bốn mặt tường, cao tận trần nhà. Mấy lần chỉ nghe nay mới được diện kiến, quả thực ông hội đủ phong thái một học giả đáng kính, trán cao mày rậm, cử bộ mực thước. Có lẽ thuở thiếu thời Hồ giáo sư là một thanh niên hào hoa tuấn tú.

Mở đầu, ông thăm hỏi cha mẹ tôi và nhờ chuyển lời mời nếu có dịp xin quá bước ghé nhà. Tôi cảm ơn, cho hay cha tôi đã mất lúc tôi còn nhỏ dại. Còn mẹ, người Huế, một tôn nữ thuộc phòng hệ Nguyễn Phúc Thuần (*), đang sống tần tảo ở một vùng đất nghèo nàn tận phía tây Trường Sơn. Ông chia buồn về nỗi tôi mồ côi quá sớm rồi hỏi thăm anh chị em. Tôi cho hay tôi là con một, thời thơ ấu sống ở Huế, lên năm theo mẹ về quê nội ở quận Thường Đức, Quảng Nam. Ông tập trung lắng nghe, bồi hồi nhớ lại thời trai trẻ có ngang qua vùng đất đó một lần nhưng mãi không quên rừng lòn bon rộn rã mùa hái quả và cảnh người đi đãi vàng từng đoàn lam lũ xuôi ngược Bồng Miêu.

(*) Nguyễn Phúc Thuần (1653–1675), con của Nguyễn Phúc Tần – chúa thứ 4, nguyên soái trong trận đánh với quân Trịnh năm 1673, sau đó đi tu pháp danh Minh Thiện. Lăng mộ và nhà thờ hiện tọa lạc tại làng Vân Thê – Hương Thủy – Thừa Thiên Huế. Lưu ý: Về sau vì kỵ húy trùng tên Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (con của Nguyễn Phúc Khoát) chúa thứ 9, cũng là chúa cuối cùng của nhà Nguyễn Phúc, tôn nhân phủ cải tên ông là Nguyễn Phúc Hiệp (hoặc Tôn Thất Hiệp).

Sau cùng, ông hỏi thăm học vấn của tôi và dự liệu mai sau. Không một chút dè dặt, tôi nói rõ tuy theo học luật nhưng không mong tranh thủ một chiếc ghế ở tòa án hoặc cơ quan hành chánh nào, nếu hoàn cảnh cho phép, sẽ mở văn phòng luật sư để mưu sinh và tập trung vào sự nghiệp chính trị. Thổ lộ chân thành nhưng sỗ sàng khiến ông sửng sốt như vấp phải vật lạ. Tôi thầm lo, tự hứa sẽ thận trọng hơn. Hồ giáo sư mời tôi dùng thuốc, tự tay pha trà. Qua từng cử bộ chậm rãi của gia chủ tôi biết ông muốn có thời gian ngắt quãng để kiểm soát mình và nắm bắt tâm ý khách.

– Khoan đề cập tới dự báo tương lai, qua các xu hướng chính trị hiện hành anh có thiện cảm với đảng phái nào?

Đúng như tôi thầm đoán, sau khi chuyên trà sang chén lớn, Hồ giáo sư lên tiếng, nhìn thẳng vào tôi. Đây không phải thăm hỏi tình cờ. Tôi thầm nghĩ. Rút kinh nghiệm vừa rồi hơi hấp tấp, tôi chưa dám lên tiếng.

 – Đại Việt? Quốc Dân Đảng? Cần Lao? Dân Tiến? Cộng Hòa? Dân Chủ? Ông gợi mở, tôi vẫn không dám manh động cho đến lúc Cẩm Bình đặt dĩa mứt bên cạnh khay trà, khẽ chào tôi rồi lặng lẽ ra khỏi phòng.

– Tại sao thầy không lý đến đảng Cộng Sản?

Tôi bổ sung nhưng rõ ràng là khiếu nại, ông khẽ giật mình. Tôi cảm thấy phải mạnh dạn hơn nữa.

– Có phải họ là một đảng lớn đang phát triển và dần dần hoàn thành nhiệm vụ lịch sử dân tộc không?

Đang dim mắt đắm chìm theo dòng suy nghĩ, chợt ông nhíu mày như chịu một cơn đau đột xuất. Có lẽ tôi vô tình chạm phải một cái gì rất dễ thương tổn trong người ông? Đã thận trọng, vẫn vấp phải đá ngầm! Tôi than thầm. Lẽ ra nên tìm hiểu chính kiến người nghe để tránh né, tôi lại trờ tới với thuốc đắng trên môi và cả gai nhọn trên tay.

– Dẫu bất đồng cũng không thể chối cãi được, khởi đầu họ có chính thống và chính nghĩa… Ông nói sau một lúc im lặng. – … Dù là ông vua kém cỏi nhất so với các tiên đế triều Nguyễn Phúc, và về sau còn ân hận, Bảo Đại đã đích thân trao ấn kiếm cho đại diện của Hồ Chí Minh, ban chiếu thoái vị, chấm dứt ba trăm năm thể chế quân chủ. Muốn hay không, phải thừa nhận là truyền chính thống. Còn chính nghĩa, họ tiếp nối cuộc chiến đấu của Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi, Phan Đình Phùng, Duy Tân, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu… Chín năm gian khổ, họ lãnh đạo nhân dân đẩy được thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi và làm chủ được nửa đất nước. Đáng bái phục! Nhưng họ phải biết vì sao non yếu hơn đối phương về mọi mặt mà vẫn chiến thắng. Dân tộc ta khát khao độc lập tự do nên sẵn sàng đổ xương máu sống mái với quân xâm lăng chứ không phải mơ màng thứ chủ nghĩa lấy căm thù giai cấp làm chủ đạo, lấy độc tài áp bức làm phương châm hành động, thờ Nga thờ Tàu như một chư hầu thời phong kiến. Thứ chủ nghĩa ngáo ộp ấy thiếu cơ sở nhân bản, đầy dẫy nghịch lý và hoang tưởng, chỉ giỏi tập trung khai thác tự ti mặc cảm trong con người, kích động dục vọng thấp hèn, hình thành đội ngũ, trang bị vũ khí, hướng dẫn đi cướp phá giành giật miếng ăn, đã bị các triết gia Châu Âu phê phán và chối bỏ từ trứng nước. Hơn ai hết, Cộng Sản Việt Nam quá biết điều đó nên trong kháng chiến chỉ phất cao cờ đỏ sao vàng, cờ dân tộc. Khi cướp được chính quyền, họ mới ló ngọn cờ búa liềm, cờ đảng. Do nhân dân không hưởng ứng, họ gia tăng khủng bố và bất chấp tội ác như Staline và Mao Trạch Đông đã làm…

Tôi ngồi lắng nghe và thật sự xốn xang qua từng dẫn chứng khách quan. Với tập tính của một người hoạt động nội thành, tôi kiên nhẫn chịu đựng, chờ xem ông sẽ đưa mình đến đâu. Hồ giáo sư nói tiếp:

 – Đó có phải nhiệm vụ nhân dân ký thác hay công tác quốc tế vô sản ủy nhiệm? Đó có phải chính nghĩa vệ quốc hay âm mưu áp đặt một chủ nghĩa côn đồ lên một dân tộc ngàn năm văn hiến?

Qua cửa sổ, tôi thấy Cẩm Khuê đầu trần len lách đi lại trong vườn. Rút một điếu thuốc nhưng tôi không vội hút, gác vào gạt tàn:

 – Thưa thầy, đó là điều tệ hại cần thiết, làm chính trị mà ngại tay bẩn đến lúc nào mới có chính quyền, bởi vì tha nhân là địa ngục. Chợt nhớ tới tác phẩm Les Mains Sales của Jean Paul Sartre, tôi nói.

– Có thể như thế! Nhưng máu nào kia chứ? Khoé môi Hồ giáo sư khẽ giật, toàn thân như run lên.

 – Thưa thầy, máu quân thù, máu Việt gian!

Tôi nói.

– Chỉ có một ít, còn lại là máu đồng bào vô tội bị vu vạ, quy chụp phản động. Ông vẫn xoáy vào chủ đề.

 Ngày còn ở ghế trung học quận Thường Đức những năm 59-60, tôi có xem phim Chúng Tôi Muốn Sống do nhà nước miền Nam đặt hàng và bộ thông tin quảng bá khắp hang cùng ngõ hẻm. Sau mỗi buổi chiếu lộ thiên, đàn ông phẫn nộ la hét, còn cánh đàn bà cúi mặt khóc thút thít, bọn nhóc chúng tôi ngỡ ngàng. Về nhà, hỏi mẹ, bà bảo thế hệ nào cũng có nỗi đau riêng. Con không hiểu được đâu, hôm xem phim mẹ cũng giọt ngắn giọt dài. Vài năm sau, tôi có dịp đọc tác phẩm của Nhân Văn Giai Phẩm do nhà nước miền Nam thu gom rồi phát tán, kêu đòi tự do tư tưởng, chống báng sự kềm kẹp thống trị văn học nghệ thuật của đảng Cộng Sản ở miền Bắc. Lần này tôi tin Phan Khôi, Lê Đạt, Văn Cao, Trần Dần, Hữu Loan, Hoàng Cầm,Phùng Quán… Nhưng những gợn sóng nhỏ không làm tôi dao động. Tôi tự hóa giải, cho là chống đối phát xuất từ bất mãn cá nhân và chính quyền Sài Gòn xuyên tạc để tranh thủ nhân tâm. Từ phản cảm, cộng với thân phận học sinh huyện lẻ, tôi nghiêng về phía những ai đã có công đánh đuổi ngoại xâm, những ai có tham vọng đổi thay xã hội.

– Thưa thầy, cứu cánh sẽ biện minh phương tiện!

Với niềm tin đó, tôi không ngại bày tỏ suy nghĩ.

Ông cười, như đã thấy trước điều mình vừa nghe.

– Không rõ câu nói ấy của ai, trích dẫn từ đâu, nhưng người Cộng Sản lấy nó làm kim chỉ nam để biện minh cho mọi hành động, bản thân tôi cũng từng bị nhồi nhét và mê muội.

Ông nói. Giờ thì tôi biết nụ cười vừa rồi có thêm phong vị tự trào.

 – Khi nuốt phải, cảm giác ban đầu như một biệt dược an thần giảm ngay đau nhức do lương tâm cắn rứt, nhưng về sau, khi con thú bội thực máu đồng loại, tôi không khỏi giật mình. Ai cũng biết cứu cánh là cái đích cuối cùng, là tầng bậc lý tưởng đạt tới. Nhưng lý tưởng là cái lý do tưởng mà có, là cái tiêu do mình phóng lên với khoảng cáchđộ cao va tm ngm, vì thế có bao giờ nắm bắt được đâu vì bản chất lý tưởng là hoang ảo, do đó phạm trù của cứu cánh rất mung lung dịch chuyển không ngừng. Nói cách khác, lý tưởng vừa là nhân tố vừa là động lực của cứu cánh, nó tùy nghi dật dờ chấp chới giữa cận và viễn cảnh. Trong hiện thực nhân sinh, con người chỉ có thể với tới cận cảnh và mọi ý nghĩa đều tựu thành ở cái đích hữu hạn ấy thông qua từng phương tiện hành động.

Ông lại cười, lần này không hẳn tự trào, hàng ria mép cắt ngắn chỉ nhếch một tí, vết nhăn ở hai đuôi mắt hằn sâu như vết cắt khắc ghi nhọc nhằn.

– Người Cộng Sản bức bí hiện thực, lỡ bộ quá đà khai thác mặc cảm bần cùng, sẵn bệnh tưởng, họ huênh hoang hứa sẽ dựng thiên đường trên trái đất. Nhưng mãi loanh quanh, họ lụn bại hơn nữa trong bần cùng. Sợ lộ tẩy, họ đổ vạ trì trệ ấy cho những ai không hưởng ứng theo mình, thế là phóng tay trấn áp, gân cổ hô hào giết lầm còn hơn bỏ sót. Từ đó, máu Việt gian, loại máu hiến tế ác thần tà thuyết, nhuộm đỏ xóm làng. Ban ngày chi ủy họp kín ở xó nào đó, nghe ngóng vu vơ lời ong tiếng ve mà lên danh sách, ban đêm du kích lần mò lùng sục, hạ sát những người tay không bằng các vũ khí thô sơ như mã tấu, rìu rựa, cuốc xẻng, cách thức họ thích nht là chôn sng – xóa s nhanh mà rt kín tiếng. Việt gian là loại tình báo cấp thấp nhưng không phải ai cũng được thuê và được giao nhiệm vụ. Phòng Nhì Pháp [Deuxième Bureau, cơ quan tình báo Pháp] không phải một lũ ngu ngơ, thực dân Pháp ăn xin Mỹ từng bữa, không thừa tiền để phung phí. Một ngàn năm nô lệ phong kiến phương Bắc, một trăm năm thực dân phương Tây đô hộ, nhân dân ta khao khát độc lập tự do từng ngày, không mấy kẻ mại quốc cầu vinh, vậy Việt gian đâu mà nhiều như rơm rạ! Lạ, hễ đảng muốn bao nhiêu, sẽ có bấy nhiêu Việt gian. Sau này tôi mới hay đó là trò ảo thuật máu của Borodine (*) mà Hồ Chí Minh học hồi tháp tùng phái bộ Nga và làm thông dịch cho ông ta ở Trung Hoa. Với cái tâm nung nấu căm thù đấu tranh giai cấp, cán bộ Cộng Sản lấy thước tấc mạt hạng vô sản mà đo, kẻ nào không rập khuôn hoặc nhỉnh hơn một tí là hớt phăng đi. Dáng dấp nho phong, mặt mày sáng sủa, thi thư lễ nghĩa, Việt gian! Ngủ có mùng màn, ăn có đũa bát, ỉa đái có nơi, Việt gian! Biết tính biết lo, biết ăn biết làm, biết tích biết phòng, Việt gian! Họ tộc công thần, dòng dõi danh giá, thân thích khoa bảng, Việt gian! Đi nắng có nón, đi mưa có dù, mùa nào áo nấy, Việt gian! Chuộng hàng ngoại hóa, thích văn chương Âu Mỹ, đề cao lối sống văn minh, Việt gian! Biết giá trị của bạc Đông Dương, biết sức mạnh đồng đô la Mỹ, chê bạc tín phiếu Cụ Hồ, Việt gian! Thiếu gạo nuôi quân, thuế thân chưa kịp đóng, chậm trễ dân công, Việt gian! Thờ cúng tổ tiên, sóc vọng lên chùa, cuối tuần đi lễ, Việt gian! Phân biệt thị phi, không chịu cúi lòn, không hô khẩu hiệu, Việt gian! Vọt vẹt tiếng Tây, bỏm bẻm chữ Hán, thấp thoáng tiếng Anh, Việt gian!… Rút lại, để được yên ổn, mỗi người phải tự thui chột trí tuệ, tồi bại hóa bản thân, hủy diệt tố chất, lui về cuộc sống bần hàn hủ lậu. Một xã hội mà ban ngày cán bộ rao giảng căm thù, ban đêm du kích thi đua sát thủ, nhân dân tranh nhau nghèo đói, không nói ai cũng biết đó là hoạt cảnh dương gian tàng địa ngục, âm phủ hiện trần ai. Cộng Sản dàn dựng như thế để làm gì? Hạ hồi, họ có hai cái lợi. Một là, biến người thành ngựa, biến ngựa thành công cụ vô tri vô giác. Quần chúng khiếp hãi tuân phục, làm theo, hót theo, mù theo. Kẻ trót nhúng chàm, tập tính dần dà thành quán tính, sau đó hồ đồ, ngụy biện rồi ngu trung. Hai là, từ thắng lợi do thủ đoạn chuyển hóa khuyển mã, Cộng Sản tha hồ khai thác, xử dụng sức người sức của vô tội vạ cho mưu đồ bành trướng. Khi nhận ra tướng tinh ma qủy, đang là một chính ủy tiểu đoàn, tôi đành bỏ hàng ngũ vì không thể đồng lõa với tội ác.

(*) Mikhail Markovich Borodine (1884-1951): nhà báo, nhà chính trị Nga, nhiều thủ đoạn gian manh, rất có tài sách động, chủ trương dùng bạo lực đàn áp, khủng bố buộc nhân dân phải khuất phục.

– Nhưng thưa thầy, nói chung những hiện thực đó đều là thủ đoạn. Làm chính trị, con nghĩ không thể không thủ đoạn!

Không đủ dữ liệu phản bác những gì ông vừa dẫn chứng, tôi vẫn cố bảo vệ nếp gấp suy nghĩ của mình.

 – Vậy theo anh, chính trị là gì?

Có lẽ do tôi hướng tới giáo điều, buộc Hồ giáo sư phải kinh điển hóa. Chính trị là một vấn nạn cũ rích và mãi bất cập của nhân loại nhưng là đề tài rực lửa, hết sức nhạy cảm vào thời đại chúng tôi. Ở miền Nam ngọn lửa ấy bùng lên từ 1963. Mở đầu, thượng tọa Thích Trí Quang kêu gọi Phật tử chống lại lệnh nhà nước cấm treo cờ Phật giáo vào kỳ lễ Phật đản tại cố đô Huế. Nghe nói vì cả nể bào huynh Ngô Đình Thục, tổng giám mục địa phận Huế, Tổng thống Ngô Đình Diệm dùng dằng, không giải quyết dứt điểm. Phong trào lan tới Sài Gòn rồi nhanh chóng phát tán toàn miền Nam. Nhân đó, giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mở rộng mục tiêu đấu tranh, đòi hỏi bình đẳng tôn giáo. Tổng thống Diệm ra lệnh đàn áp, dẹp mít-tinh, bắt giam những kẻ cầm đầu, bao vây chùa chiền. Hòa thượng Thích Quảng Đức và hàng chục tăng ni tự thiêu bảo vệ đạo pháp. Tướng Dương Văn Minh lãnh đạo quân đội đảo chính, giết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Mấy tháng sau tướng Nguyễn Khánh làm cuộc chỉnh lý, lật đổ Dương Văn Minh. Nhưng ông ta cầm quyền chẳng bao lâu. Lợi dụng tình thế bất ổn ấy, Cộng Sản Việt Nam ào ạt đưa quân chủ lực miền Bắc theo đường Trường Sơn tràn xuống đồng bằng mở rộng lãnh thổ dưới danh nghĩa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Những cuộc biểu tình chống đối của học sinh sinh viên và quần chúng khắp các thành thị miền Nam vẫn tiếp tục và lan rộng về tới nông thôn. Một số chính trị gia xuất hiện như Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát… những mong cứu vãn tình thế, nhưng nhanh chóng rút lui vì đồng minh Mỹ bất tín nhiệm và Công giáo chống đối. Miền Nam rơi vào tình thế khủng hoảng lãnh đạo. Nhân cơ hội đó, tướng Nguyễn Văn Thiệu, một con chiên tân tòng, nắm lấy chính quyền rồi lên làm tổng thống. Với chiến lược lùng và diệt Việt Cộng, Mỹ và đồng minh Thế Giới Tự Do như Australia, Nam Hàn, Philippines, Canada, Thái Lan… dồn dập đổ quân vào miền Nam. Chiến tranh leo thang, vượt ranh giới Bến Hải ra Bắc. Phong trào phản chiến từ trong và ngoài nước dấy lên. Hòa hội bốn bên tham chiến tại Việt Nam gồm Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Mỹ vừa nhóm ở Paris… Tất cả hình thành động lực thôi thúc từ già đến trẻ, từ phố đến quê phải suy ngẫm về chính trị và một số vấn đề liên quan đến thời sự cả quốc nội lẫn quốc tế. Nhưng đi đến nhất thống một định nghĩa, đang còn tít tận nơi đâu. Thay vì trả lời chung chung, chẳng hạn, chính trị là thi hành chủ quyền và hoạch định chính thể một nước về hai mặt đối nội và đối ngoại, nhưng vào thời điểm Việt Nam đang trong chảo lửa, người ta muốn có lấy một khái quát rút từ hiện thực của nước mắt, của máu và của xác chết.

 – Thưa thầy…  Sau khi ôn lại một số sự kiện lịch sử nổi cộm, tôi mạnh dạn lên tiếng. –… theo con, chính trị là cách cai trị bằng thủ đoạn lôi kéo quần chúng, tạo ra sức mạnh để tranh thủ quyền lợi cho giai cấp mình, cho đảng phái mình và cho bản thân mình.

Nói xong, tôi nhận ra hơi hám mình thoáng mùi nghị quyết – rất machiavélique, rất bolchévique, và cũng rất fasciste! (*)

(*) Machiavélique (tiếng Pháp): nguồn gốc từ Machiavelli tức Nicolo di Bernardo dei Machiavelli (1469–1527), nhà thơ, nhà soạn nhạc kịch, nhà ngoại giao, triết gia, chính trị gia Ý, chủ trương cai trị bằng thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt, thâm độc

Bolchevique (tiếng Pháp) do từ Bolchevik: cánh đa số trong đảng Xã Hội Nga, tán thành quan điểm Lénine dùng bạo lực tiến hành cách mạng.

Fasciste (tiếng Pháp): nguồn gốc từ Fascisme – chế độ chuyên chế ở Ý có từ thời Mussolini 1922 đến 1943-1945, chủ trương độc tài trị.

Ngay tức khắc, ông lớn giọng, nhưng rồi gượng cười như để lấy lại hòa khí. Lợi dụng lúc thư giãn ấy, tôi uống cạn tách trà đã nguội, và mồi điếu thuốc rút khỏi bao từ lâu. Hồ giáo sư chuyển cách nói năng như thể tâm sự.

– Những năm đầu kháng Pháp, tôi đã được bồi dưỡng như thế qua các đợt rèn cán chỉnh quân.

Ông mở rộng lòng bàn tay, lần từng đốt.

– Dựng chiêu bài Cộng Hòa, Dân Chủ, Tự Do là thủ đoạn. Chấp nhận Chính Phủ Liên Hiệp, phong cho Bảo Đại chức cố vấn tối cao là thủ đoạn. Bày trò bầu cử, dàn dựng Quốc Hội bù nhìn, thành lập Mặt Trận Tổ Quốc là thủ đoạn. Lập lờ Độc Lập Dân Tộc với Quốc Tế Cộng Sản là thủ đoạn. Đồng hóa Việt Gian với Bất Đồng Chính Kiến là thủ đoạn. Luồn Chiến Tranh Ý Thức Hệ vào Chiến Tranh Vệ Quốc là thủ đoạn… Độc Quyền Lãnh Đạo, Chuyên Chính Vô Sản, Đảng Tập Sản Hóa là tranh thủ – Đấu Tố Cải Cách Ruộng Đất, Phân Chia Quả Thực, Tham Ô Có Hệ Thống là tranh thủ. Tiêu Diệt Trí Thức, Phát Tán Văn Hóa Giả, Sản Xuất Bồi Bút, đánh Tráo Lịch Sử, Lường Láo Khoa Học là tranh thủ…

Dừng lại mấy giây như dành cho người nghe biểu lộ phản ứng, nhưng tôi vẫn im lặng, ông nói tiếp:

 – Cục bộ như thế, hẹp hòi như thế, ti tiện như thế, gian manh như thế, phản tiến hóa như thế mà cũng gọi là lãnh đạo, là cách mạng, là giải phóng hử? Độc lập dân tộc nằm ở đâu? Tự do dân chủ nằm ở đâu? Nhân bản, nhân quyền nằm ở đâu? Những gì mà Cộng Sản đề ra và thực hiện không ngoài việc tranh ăn giành uống theo bản năng bầy đàn của loài cầm thú, cho nên bọn hạ đẳng ngu đần, lười biếng, đốn mạt… hăm hở đón nhận với cái vẻ háo hức đắc thời hãnh tiến. Dẫn dắt một dân tộc có truyền thống sĩ trị nhưng không may phải ngàn năm nô lệ giặc Tàu, trăm năm đô hộ giặc Tây, khổ lụy từng ngày vì mất chủ quyền đi về cái vũng lầy cổ hủ ấy sao? Dẫn dắt một dân tộc nghèo nàn lạc hậu ước mơ theo kịp văn minh tiến bộ của nhân loại mà thế a?

Nói đến đó, ông dứng dậy rời khỏi ghế.

(Hết Chương 26)

Share this post