Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 30

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 30

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 30
– Z.12
Vận nước điêu linh. Anh hùng và gian hùng. Tiên tri thời đại.

– Con được nghe nói trước đây thầy có tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng?

Cuối cuộc đàm đạo, tôi mạo muội hỏi, hơi đường đột, nhưng đây là điều khắc khoải bấy lâu. Và Hồ giáo sư nhận ra ngay đó là một mũi khai thác có trù tính. Ông khựng lại một lúc. Tôi ngại ông thoái thác, thậm chí có thể bất bình. Nhưng sau biểu tỏ ấy, ông bình thường trở lại.

– Năm mười tám tuổi, tôi được kết nạp vào Quốc Dân Đảng, thuộc một chi bộ nội thành Hà Nội. Sinh hoạt chưa bao lâu và chưa làm được gì, thì bị mật thám Pháp phát hiện, tôi trốn về Huế.

Ông thở dài, đăm chiêu nhìn qua cửa sổ.

– Lúc đó tôi không hiểu hết động thái phiền muộn sơ hở ấy.

– Con nghe nói,về Huế thầy cũng không được yên?

Một lần nữa tôi mạo muội lần mò. Hồ giáo sư nhìn tôi bằng ánh mắt như thầm trách, rồi cũng cho qua.

– Do tôi lén lút thăm viếng cụ Phan Bội Châu bị Pháp quản thúc ở Bến Ngự. Ông nói. – Sau khi tham gia tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh, tôi bị bắt, giam ở nhà lao Thừa Phủ. Nhưng ba tháng sau, trong khi chờ đợi đưa đi Côn Đảo, nhờ một học trò cũ của cha tôi giúp đỡ, tôi trốn thoát cùng một cán bộ Cộng Sản. Lên tới chiến khu Dương Hòa, chúng tôi chia tay, anh ta về đơn vị, tôi tình nguyện vào quân đội. Sau một khóa học ngắn ngày, tôi được điều tới công tác ở huyện đội Phú Vang. Lăn lóc chiến trường ba năm, chưa tham dự một trận lớn nào nhưng lẻ tẻ thì như cơm bữa. Rồi tôi được điều lên tiểu đoàn…

– Thầy đã vào đảng Cộng Sản chưa? Tôi đột ngột ngắt lời Hồ giáo sư.

– Rồi! Ông khẳng định.

– Lý lịch của thầy nặng nề như thế, họ chịu để yên cho a? Tôi lại hỏi.

– Đương nhiên là không và chẳng phải một lần. Nhưng không sao, tôi đã khai rất rõ về bản thân mình, không giấu hành tung nào, cung cấp nhiều hơn những gì tổ chức đòi hỏi.

Ông nói. Ban đầu tôi hồ nghi, nhưng nhớ tới tướng Lâm Bưu ở Trung Quốc (*), tướng Nguyễn Bình ở nước ta, tôi tin những gì Hồ giáo sư nói.

(*) Lâm Bưu (1907–1971): Là một nhà hoạt động chính trị và quân sự Trung Hoa, nguyên soái, phó thủ tướng, kiêm bộ trưởng quốc phòng. Nghe nói trước khi gia nhập đảng Cộng sản, ông có chân trong Quốc Dân Đảng.

– Ấy thế mà đến một ngày tôi phải giã từ Cộng Sản! Hồ giáo sư bỏ lửng, thay vào đó một tiếng thở dài.

 – Thưa, tại sao ạ? Tôi háo hức. Đây là khúc mắc đã được hé mở một phần trong mạn đàm trước, nhưng vì chưa thoả mãn, hôm nay tôi muốn nghe thêm.

– Đồng sàng dị mộng! Chúng tôi chiến đấu vì độc lập dân tộc, họ chiến đấu vì quả thực giai cấp. Chúng tôi giành chính quyền cho nhân dân, họ giành chính quyền cho cái gọi là Quốc Tế Cộng Sản. Chúng tôi muốn dân chủ, họ muốn đảng chủ. Chúng tôi muốn tự do, họ muốn độc tài. Chúng tôi muốn giải phóng dân tộc thoát khỏi bất kỳ hình thái áp bức nào, họ muốn thay màu sắc nô lệ từ thực dân Pháp sang bá quyền Liên Xô. Chúng tôi coi Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, họ tôn thờ Trung Quốc như quan thầy…

Hồ giáo sư lại bỏ lửng, nhưng tôi vẫn kiên nhẫn chờ. Đến lúc vẻ ngao ngán qua đi, ông nói tiếp.

– Tôi trốn vào Sài Gòn, ẩn nhẫn một thời gian rồi sang Pháp. Ban đầu đến xứ lạ, tôi xin việc ở hàng ăn, khách sạn, phấn đấu làm tốt công việc được chủ giao kể cả gác-dan và công nhân vệ sinh. Khi đã thành thạo phong tục tập quán xứ người, tôi vừa làm vừa đi học…

 – Thế hiện nay? Tôi hỏi thêm.

– Ngay sau khi trở về nước, tôi đề nghị hiện đại hóa Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng không được đa số ủy viên trung ương đồng thuận. Tôi xin rút khỏi đảng và hiện nay tập trung vào học thuật.

Hồ giáo sư ngẩng cao đầu, nhìn lên hàng hàng lớp lớp sách đang im lìm yên nằm trong từng ô kệ.

– Khổng Tử dạy “ngũ thập tri thiên mệnh”, người ta thế nào không rõ, còn tôi, tri thiên mệnh là tri cái nhiên năng và tri cái hạn hữu của mình. Nên chi phần đời còn lại, tôi gấp rút hoàn thành số phận, biết có kịp không?

– Nếu con không nhầm lẫn, cụ Phan Bội Châu là Quang Phục Hội, cụ Phan Châu Trinh là Tam Dân Chủ Nghĩa, còn thầy hồi đó là Quốc Dân Đảng, vì sao lại đến với nhau để chuốc họa? Tôi hỏi.

Ông cười, nhìn xoáy tôi một cách thích thú.

– Khoảng thời gian lưu trú ở Hà Nội, tôi chung gác trọ với một đảng viên Cộng Sản, ngày ai lo việc nấy, tối về ôm nhau ngủ. Vì sao lại hòa hợp và thương nhau đến thế? Lúc đó Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Việt Nam Quang Phục Hội, Cộng Sản hoặc gì gì nữa, tất cả là phương tiện cho một mục đích cao cả: giải phóng dân tộc thoát ách đô hộ thực dân Pháp. Các đảng phái bắt đầu tị hiềm và giết nhau từ 1946. Do sách lược độc quyền lãnh đạo, do ham muốn giai cấp mình chuyên chính, Cộng Sản ra tay trước và quyết liệt. Với cương vị chủ tịch chính phủ liên hiệp, Hồ Chí Minh và các đồng chí tìm cách loại bỏ những ai bất đồng quan điểm bằng cách hăm dọa, khủng bố, ám sát. Chính phủ liên hiệp tạm bợ nhanh chóng rệu rã. Công dân danh dự Vĩnh Thụy, cố vấn tối cao chính phủ, đại biểu quốc hội, muốn sống sót phải lặng lẽ đào thoát. Với chiêu bài Việt gian và cách quy chụp phản động, Cộng Sản không bỏ sót một ai họ không ưa. Học giả Phạm Quỳnh, nhà văn Khái Hưng, nhà văn Lan Khai, tổng đốc Ngô Đình Khôi và biết bao nhân sĩ khác đều bị thủ tiêu.

– Vậy thầy nghĩ thế nào về hai vị anh hùng họ Phan? Ngại ông mở rộng tố Cộng, tôi chuyển hướng.

Ngay tức khắc, ông nhìn tôi với ánh mắt của nhà tướng số, như đã vớ được thóp kẻ ma mãnh.

– Ngưỡng mộ cả hai nhưng tôi thích Phan Châu Trinh hơn dù chưa bao giờ được diện kiến! Hồ giáo sư nói. – Quá nửa đời, nếm đủ vinh nhục, tôi mới thấy hết chiều sâu của chủ nghĩa Tam Dân: Khai dân trí – Chấn dân khí – Hậu dân sinh. (*) Thực dân Pháp là kẻ thù nhưng văn minh, lại được hai đế quốc Anh, Mỹ yểm trợ, hai đỉnh cao trí tuệ của nhân loại, mình nghèo mà ngu có chống nổi không? Vua bù nhìn như Đồng Khánh, hèn nhát như Khải Định, ham chơi như Bảo Đại, học thuật chưa thoát khỏi cặn bã tam giáo lạc hậu, trí thức nửa mùa, dân tình phân hóa, sức đâu mà đương nổi với súng đạn đồng? Đó là chưa kể khó nghèo triền miên, năm 1945, đồng bào ta chết đói cả triệu người. Cha ông mình đã dạy “có thực mới vực được đạo”, tôi coi đó như  kim chỉ nam hành động. Trong quá trình nghiền ngẫm, nếu gặp được cụ Phan, tôi chỉ xin kiến nghị chỉnh lại trật tự, phải lấy dân sinh làm chủ đạo. Đến lúc dân sinh đã hậu, ta đủ tầm hiệp thương với kẻ thù như cách mà Phạm Quỳnh từng nói thẳng với thực dân Pháp, phân giải phải trái, không nghe thì đánh cũng chưa muộn.

(*) Khai dân trí. Chấn dân khí. Hậu dân sinh: Nâng cao hiểu biết của nhân dân. Chấn chỉnh phong hóa trong nhân dân. Nâng cao đời sống nhân dân.

Hồ giáo sư lớn giọng, sắc mặt như sáng hực lên.

– Thầy ơi! Ngày ấy, cái ngày “hậu dân sinh”, có đủ cơm gạo, vũ khí, sách lược, nhưng nhân dân đều tạp chủng lai căng, biết lấy ai đánh ai? Bất chợt tôi kêu lên.

 – Một ngàn năm ta không hóa Tàu, một trăm năm không hóa Tây, chỉ mươi lăm năm canh tân, sao mà nóng ruột thế! Hồ giáo sư cũng gào to. – Hãy xem, Li-Băng… có Pháp hóa không? Ấn Độ, Pakistan, Tích Lan, Mã Lai… có Anh hóa không? Philippines… có Mỹ hóa không? Indonesia… có hóa thành Hòa Lan không? Ta có hơn một nghìn năm thử thách, vẫn con Lạc cháu Hồng, lo gì!

Ông cười, đứng bật dậy. Tôi nhìn theo. Chỉ vài bước, ông cúi đẩy tấm kính nhỏ mặt cửa tủ búp-phê, vói tay lấy chai Whisky và hai cái ly nhỏ cao chân. Hiểu ý, tôi rời ghế đón lấy khay tách đặt xuống mặt bàn.

 – Nhấp một tí cho ấm bụng! Ông nói, rót đầy vào hai ly. Tôi quyết chắc Hồ giáo sư đang phấn khích. – Nào! chúc thế giới hòa bình, mừng cho tổ quốc chưa đến nỗi diệt vong, hy vọng tuổi trẻ Việt Nam không vong thân tha hóa! Ông nói.

 Nên chăng lúc này bạo dạn cởi mở lòng dạ mình, xin được yêu thương dưới ánh mắt ấm áp của hai đấng sinh thành? Phân vân, tôi đứng lên, nâng lấy ly rượu màu cánh gián bằng cả hai tay, uống cạn. Lạ! Đúng là rượu ngon nhưng không gây cho tôi chút hưng phấn nào, trái lại, cảm giác rưng rưng như chung bầu huyết thệ. Lần gặp trước, tôi có ấn tượng Hồ giáo sư là con người ưu thời mẫn thế, khép kín, bi quan, giờ tôi thấy mình sai lầm, hời hợt. Ngoài phong cách nhà nghiên cứu, ông còn lưu lại ở đối tác dấu ấn một mẫu người ái quốc chân chính, tâm huyết, giàu tình cảm và bén nhạy thời thế. Nhưng xấu hổ làm sao, huyết thệ mà tâm tôi chưa thành, trí tôi mù mờ!

– Ba và anh Lê Huy nói chuyện gì mà vui vậy?

Vừa lúc ấy, Cẩm Bình bước vào, trên tay một dĩa bánh rán màu vàng rơm.

– Muốn biết thì xin mời!

Thấy Hồ giáo sư không quan tâm đến con gái, tôi nói, đẩy về phía cô ta chiếc ghế.

– Con ngồi được chứ?

Cẩm Bình ý tứ đặt dĩa bánh vào bàn, hỏi xin ý cha, Hồ giáo sư khẽ gật đầu. Cô ta nói riêng với tôi.

 – Lê Huy cứ tự nhiên, mấy khi được thế này, tôi chỉ nghe thôi.

– Chúng ta đã tới đâu nhỉ? Hồ giáo sư quay hỏi tôi, gõ ống vố vào gạt tàn.

– Hy vọng tuổi trẻ Việt Nam không vong thân tha hóa! Tôi lặp lại rồi tiếp. – Thưa thầy, thế Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm?

Đang lắng nghe, ông chỉ tay về phía tủ búp-phê, ra hiệu cho Cẩm Bình lấy thêm ly và nĩa.

– Rượu Mỹ chẳng thua gì rượu Tây, con có muốn nhắp một tí cho vui không?

Hỏi mời con gái nhưng ông vẫn không quên tôi.

– Sau ngày đất nước chia đôi, đó là một cặp lãnh tụ đối xứng. Với phong thái một giáo sư đang trên bục giảng, ông nhấn mạnh. – Tôi nói đối xứng không có nghĩa họ hoàn toàn dị biệt.

Để người nghe có đủ thời gian ôn cố, Hồ giáo sư vói lấy chai rượu, chậm rãi xoay từng vòng nút điển.

– Con có thể thay ba cùng anh ấy làm một phép đối chiếu được không? Ông nói với con gái khi rót rượu vào ly cô ta.

Cẩm Bình nhận lệnh quay về phía tôi.

 – Cả hai đều con quan nhà Nguyễn, sinh ra ở dải đất eo hẹp khó nghèo Trung Bộ, ảnh hưởng sâu đậm Nho giáo, có cha bị triều đình ghét bỏ, học hành không đến nơi đến chốn, lưu vong nước ngoài khá lâu, thông thạo chữ Hán, nói giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp, rất thích Mỹ và bị Mỹ bạc đãi, tình duyên trắc trở, không muốn lấy vợ, giai cấp tiểu tư sản nhưng bản thân vô sản, sống đời cô độc, ăn uống giản đơn, chí hiếu thầm kín, yêu nước theo cách của mình, may mắn thoát hiểm nhiều lần, chấp chính từ ủy thác của Bảo Đại và trắng trợn phản bội Bảo Đại, ước mơ làm thánh sống. Nhân danh dân chủ, tự do chống đối nhau, nhưng cả hai rất thích độc tài đảng trị…

Chúng tôi tùy tiện nhớ đâu kể đó cho tới khi Hồ giáo sư bảo ngưng. Ông rời tới dãy kệ ngay sau lưng.

– Thời gian không cho phép, anh có thể kiểm chứng những nhận xét ấy trong mấy cuốn này.

Ông nói, rút chừng ba bốn tập, vừa sách vừa báo.

– Thưa thầy, về đồng đối con đã rõ nhưng xung đối của hai nhân vật này thì sao ạ?

Để chứng tỏ mình không ngừng tập trung theo dõi, tôi vươn tới. Ông cười, gật gật đầu, ngồi vào ghế nhưng vẫn im lặng. Hiểu ý, tôi quay lại Cẩm Bình.

– Về lý lịch, một bên tùy tiện đổi thay danh tính và cho thuộc hạ khoe mẽ phát tán, một bên kiên định trong mọi hoàn cảnh và gần như muốn ém nhẹm thân danh. Về tư tưởng, một bên bị Staline cải tạo ở Moskva từ 1935 đến 1938 đã từ bỏ hoàn toàn ý thức dân tộc, một bên bị hồng y Spellman nhồi nhét ở các tu viện Lakewood, New Jersey và Ossining, New York từ 1950 đến 1953 và đã nghiêng hẳn về lợi quyền Thiên Chúa giáo. Về tín ngưỡng, một bên ngụy tín vô thần, một bên cuồng tín hữu thần. Về đàn bà, một bên ham mê sắc dục đến vô luân, một bên khắc kỷ thủy chung đến tuyệt tự!

Chi tiết này khiến Cẩm Bình e thẹn, nhưng Hồ giáo sư  ra hiệu mạnh dạn tiếp tục.

 – Về ý thức hệ, một bên Marxisme, một bên Personnalisme. (*) Về đảng phái, một bên Cộng Sản, một bên Cần Lao. Về ngoại thuộc, một bên ăn lương và vâng lệnh Kremlin, một bên toàn tòng và vọng tưởng Vatican. Bản mệnh, một bên chết già, một bên chết trẻ. Chung cuộc, một bên hoàn thành sứ mệnh quốc tế vô sản, nhưng là tội đồ của dân tộc, một bên dở dang sự nghiệp, bất đắc kỳ tử, nhưng giữ tròn khí tiết.

(*) Personnalisme – Thuyết Nhân Vị, do Ngô Đình Nhu khởi xướng, căn cứ vào xu hướng triết học của hai triết gia Công Giáo – Emmanuel Mounier và Jacques Maritain, để làm ý thức hệ cho đảng Cần Lao. Thuyết này là trung dung giữa Tập thể chủ nghĩa của cộng sảnCá nhân chủ nghĩa của tư bản. Mục đích của Chủ Nghĩa Nhân Vị là đạt đến “Tam Nhân”. 1– Tương quan cá nhân và nội tại. 2– Tương quan cá nhân và cộng đồng. 3– Tương quan cá nhân và siêu nhiên. Nội tại là đào tạo bề sâu của con người bao gồm tự do và trách nhiệm. Cộng đồng là phát triển bề rộng của con người bao gồm gia đình, xã hội, quốc gia, nhân loại và thiên nhiên. Siêu nhiên là củng cố bề cao của con người về tín ngưỡng hướng tới Chân Thiện Mỹ. Để đạt “Tam Nhân” phải cần đến “Tam Giác”. 1– Cảnh giác về sức khỏe. 2– Cảnh giác về đạo đức, tác phong. 3– Cảnh giác về trí tuệ. Để đạt “Tam Giác” phải cần đến “Tam Túc”. 1– Tự túc về tư tưởng để suy luận tìm chính nghĩa. 2– Tự túc về kỹ thuật để khai thác khả năng. 3– Tự túc về tổ chức để phát huy sáng kiến. Có chính nghĩa, mới thu dụng được khả năng. Có khả năng, mới đóng góp được sáng kiến để xây dựng và tổ chức. “Tam giác” là nền tảng. “Tam Túc” là phương tiện. “Tam Nhân” là cứu cánh. Vì lấy con người làm gốc nên chủ nghĩa này có tên là “Nhân Vị”.

Khác với so sánh trước, lần này toàn bộ dữ liệu đều do Cầm Bình liệt kê. Thấy tôi mãi tần ngần, một lần nữa, Hồ giáo sư lại rời bàn, tiến đến kệ sách.

– Anh cần đọc thêm mấy cuốn này nữa! Ông nói và rút ra hai tập khá dầy. Cẩm Bình rời ghế giúp cha mang sách đặt lên bàn, ngay trước mặt tôi.

– Mất nhiều năm tìm hiểu, tôi nóng lòng chờ đợi ở hai nhân vật này một hướng đột khởi vượt thoát về phía dân tộc. Vẫn đứng bên kệ sách, ông tiếp. – Nhưng sau 1954, tôi vô cùng ngỡ ngàng khi biết hai con người từng đi khắp năm châu bốn biển, từng đau xót sống đời nô lê, khát khao tự do, ý thức dân chủ, tới khi nắm được quyền hành lại quàng lên đầu dân tộc một chủ nghĩa độc tài, phi nhân bản, phản nhân quyền. Nói chung, hai nhân vật này một thời thống trị hai nửa Việt Nam ta với vô vàn tung hô của bọn đầu sai từ quốc nội tới quốc tế, nhưng tôi không phục. Đặc biệt về Hồ Chí Minh, tôi vô cùng thất vọng, lịch sử chọn ông ta, nhưng ông ta tự nguyện cho ác quỷ thay máu và đánh tráo hồn mình! Còn Ngô Đình Diệm, đi sau một bước, sao không rút được bài học của Hồ Chí Minh – rời xa dân tộc và trào lưu tiến bộ của thế giới…

– Có phải vì vậy mà hai lần Tổng thống Ngô Đình Diệm mời giữ chức bộ trưởng ba đều từ chối? Bất ngờ, Cẩm Bình lên tiếng.

Tôi vô cùng kinh ngạc và thích thú đón bắt bí mật vừa được tiết lộ.

 – Mười năm trước, ông ấy đã biết nhân danh độc lập tự do dân tộc, từ chối lời mời ngồi vào ghế bộ trưởng nội vụ trong chính phủ liên hiệp giả hiệu của nhà độc tài Hồ Chí Minh, tại sao mười năm sau, ông ta lại nhẫn tâm chà đạp lên nguyện vọng thiết tha dân chủ của toàn dân? Tôi đã đến nỗi nào mà phải nhắm mắt hùa theo, tại sao không nhỉ?

Cực chẳng đã, Hồ giáo sư phải lên tiếng với phong thái khách khí gần như cao ngạo. Rồi quay sang Cẩm Bình, ông đanh giọng.

 – Chị bảo chỉ ngồi nghe thôi mà!

Quở trách con gái xong, ông cau mặt như ngậm phải đắng. Cẩm Bình đưa mắt cầu cứu nhưng tôi không dám manh động.

– Con xin lỗi ba vì đã vượt quá!

Cuối cùng cô ta tự xử lấy, nhẹ nhàng ra khỏi phòng. Hồ giáo sư tháo mắt kính, nhìn theo con gái, ngằn ngặt một lúc như hối hận đã nặng lời.

– Thưa thầy, tiện thể cũng nên so sánh hai nhân vật được coi là kế tục, Lê Duẩn và Nguyễn Văn Thiệu?

 Tôi hỏi, muốn cất đi nỗi bực dọc chợt đến và khỏa lấp khoảng trống Cẩm Bình vừa để lại.

– Có người cho rằng Lê Duẩn đang tiếp tục những gì Hồ Chí Minh chưa làm được với sự đồng tình của Liên Xô và Trung Quốc, còn Nguyễn Văn Thiệu, cũng đang làm những gì Ngô Đình Diệm chưa làm được, nhưng với sự chối bỏ của Mỹ và Vatican. Riêng tôi, không thể đưa ra nhận định và đánh giá về hai vị này vì họ đang sống, đang hành động, chưa thi thố hết sách lược, lại nữa, tôi cũng không có nhiều tư liệu về họ từ mọi phía. Tốt nhất, hãy chờ xem!

Hồ giáo sư trở lại bàn. Đó là thái độ thận trọng, nhưng tôi nghĩ ông không thật lòng, có lẽ do Cẩm Bình vô tình khiến ông mất hứng thú, cũng có thể muốn tôi dừng lại ở đây. Nhưng đang trên đà lao tới, tôi cảm thấy khó mà cưỡng nổi.

– Thưa thầy, cuộc chiến này rồi sẽ về đâu? Biết thì giờ còn lại eo hẹp, tôi chọn một câu hỏi bức thiết nhất trong mớ hỗn độn vừa rộ lên trong đầu.

– Hòa hội Paris hiện đang nhóm, Mỹ và đồng minh dọn đường rút quân, lưỡng viện quốc hội Mỹ sẽ cắt bỏ viện trợ cho Nam Việt Nam. Đây là sự phản bội trắng trợn của nền dân chủ Mỹ đối với đồng minh. Chính quyền miền Nam sẽ tự thân hoảng loạn rồi sụp đổ mà chẳng cần đánh đấm bao nhiêu, mở ra thắng lợi bất ngờ cho miền Bắc nhưng đại họa lâu dài cho Việt Nam. Ông nói, giọng rất buồn.

– Vì sao ạ? Nghe lạ, tôi hỏi.

– Từ năm 1923, Hồ Chí Minh đã được Moskva nuôi và huấn luyện. Từ năm 1924, Hồ Chí Minh đến Trung Hoa, sau đó còn nhiều lần qua lại… Suốt hai cuộc chiến tranh, hai đế quốc đỏ này không ngừng chỉ đạo, gởi cố vấn chính trị và quân sự sang cùng với vũ khí và lương thực cho Hồ Chí Minh là để chờ cơ hội này đây. Nhất định sau chiến thắng, Lê Duẩn sẽ ngoan ngoãn đưa toàn bộ đất nước vào quỹ đạo Cộng Sản. Do bấy lâu gối đầu lên chân cả Liên Xô lẫn Trung Hoa nên Việt Nam không thoát khỏi một cổ đôi tròng. Hai đế quốc này đang mâu thuẫn nhau về ý thức hệ chính thống và quyền lực lãnh đạo chư hầu, Việt Nam không thể phân thân, phận lẽ mọn ắt hẳn phải chịu cảnh ghét bỏ của một phía. Thói thường không lấy thì khuấy cho hôi, hung hăng vì hụt mồi, chẳng mấy chốc ân nhân hóa thành cừu nhân! Nói đến đó, Hồ giáo sư tư lự như đang đối mặt với thảm họa.

– Nhưng thưa thầy, dù sao đất nước được thống nhất, nhân dân thoát khỏi chiến tranh, tự do dân chủ sẽ mở ra, ấm no hạnh phục chẳng còn bao xa. Tôi nói.

 – Không bao giờ! Ông khẳng định. – Trái lại, đất nước sẽ bất ổn hơn, xã hội sẽ phân hóa hơn, nhân dân ta sẽ lầm than hơn… Nửa thế kỷ dưới gầm trời sắt máu Cộng Sản, Liên Xô và các nước Đông Âu đã vật vã chứng minh điều đó. Và một phần tư thế kỷ, hơn một tỷ người Trung Hoa khép mình theo đuôi bạo chúa Mao Trạch Đông chỉ có đi vào cùng khổ. Còn Việt Nam, với gọng kìm của hai quan thầy, với mê muội quán tính kinh điển bấy lâu, không có con đường nào khác, ngày ấy hận thù đấu tranh giai cấp sẽ khoét sâu hơn nữa vào lòng dân tộc, vô sản chuyên chính sẽ đăng quang an vị giữa hai hàng súng, và nhân đó, tham ô sẽ đục ruỗng đất nước đến tận hang cùng ngõ hẻm!

Tôi không tin tiên đoán của Hồ giáo sư, nhưng không biết vì sao lại cảm thấy buồn thấm thía.

Cuộc mạn đàm hôm nay khá tập trung, xoáy vào trọng điểm nhưng tràn ngập xót xa. Khi ra khỏi ngõ, lần này không có Cẩm Khuê theo tiễn, tôi chợt giật thót. Y như ma đưa lối quỷ dẫn đường, chuyện đôi lứa của chúng tôi vẫn bị thế sự cuốn hút. Cả Hồ giáo sư và tôi như những người khách xuống nhầm đò và mãi nghiêng ngả bềnh bồng theo dòng lịch sử. Không rõ ông thế nào, còn tôi, ngờm ngợp, nhưng chưa biết níu vào đâu?

(Hết Chương 30)

Share this post