Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 43

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 43

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 43
– Z.15
Phác thảo kế hoạch đánh cầu. Cần một nữ chiến sĩ vào vai gái điếm.

Với chiếc xe đạp cà tàng, tôi cọc cạch qua bờ nam sông Hương, đến ty công chánh. Gặp lúc ở không, Trần Kỳ Hải đưa tôi ra quán cà phê dưới bóng cây phượng già. Sau khi cô hàng rút lui, tôi cho Trần Kỳ Hải hay vừa trinh sát thực địa qua một đêm ngủ đò với gái điếm trên sông Hương. Hơi bất ngờ, Trần Kỳ Hải ngớ ra. Sau đó, anh ta biểu lộ đồng tình, đắc chí, cười cười, gật gật. Tôi miêu tả tường tận ngã ba sông nước Đông Ba – Gia Hội – Đập Đá, chi tiết kích cỡ kết cấu bên dưới cầu, đặc biệt nhấn mạnh sinh hoạt về đêm dọc hai bên bờ, trên mặt nước và chỉ rõ bến bãi thích nghi lên xuống, vận chuyển, neo thuyền. Tôi lưu ý một phát hiện quan trọng là cảnh sát kiểm tục và kiểm tra giang hải rất háu tiền đút lót của chủ thuyền với cái giá bèo. Trần Kỳ Hải nheo mắt nghĩ ngợi rồi gật đầu.

– Vậy kế hoạch? Anh ta hỏi, nhìn vào mắt tôi.

– Là thế này… Một thuyền to hai mui kích cỡ như thuyền hành nghề sông nước, đậu ở bến Thừa Phủ (*), giả bộ rước khách xong thì xuôi về phía hạ lưu.

(*) Bến đò Thừa Phủ ở bờ nam sông Hương, trước mặt Thừa Thiên phủ doãn (sau 1975 là UBND tỉnh), đối diện bờ bắc là bến Phu Văn Lâu ở gần Nghinh Lương Đình.

Dùng ngón trỏ chấm nước cà phê, tôi vẽ một đoạn sông Hương lên mặt khăn nhựa màu trắng, nói tiếp.

 – Và một thuyền nhỏ không mui, loại chuyên dùng bán hàng lưu động trên sông, lòng sạp chứa khối chất nổ đậu ở Cồn Hến hoặc nơi nào đó cự ly không quá xa. Hai chiếc đò ấy sẽ cặp mạn nhau ở vùng ngã ba, tọa độ tôi đã gieo bóng thăm dò điểm phân thủy, giả bộ sinh hoạt bình thường như bán hàng ăn uống hoặc đón đưa gái. Chủ yếu thực hiện hai công đoạn, đấu mối dây dẫn vào bình ắc-quy giấu ở thuyền lớn và đón người của ta bên thuyền con sang cùng đồng đội sau khi dẫn hướng cho nó xuôi đúng dòng chảy nhắm tới mục tiêu. Một quan sát viên được ém ở bến xe buýt Đông Ba, lúc mũi đò nhỏ sắp chạm mép dạ bóng cầu Gia Hội thì bật ám hiệu. Ngay lúc đó, người ở thuyền lớn đóng mạch điện. Sau tiếng nổ, toàn bộ khí cụ thả ngay xuống đáy sông để phi tang, rồi tùy tình huống hiện trường nhập vai cho khéo, chủ đò ra chủ đò, ma cô ra ma cô, gái điếm ra gái điếm, dân chơi ra dân chơi.

– Sao không cài thuyền lớn ở bến Tòa Khâm để rút ngắn cự ly? Trần Kỳ Hải đột ngột ngắt lời tôi.

– Giờ đó bến Thừa Phủ vắng hơn, lại nữa, ta cần một cự ly đủ cho sinh hoạt hòa nhập toàn cảnh nhàn du sông nước và thăm dò đối phương! Tôi giải thích.

– Sao không lợi dụng khoang rộng, có mui che mà cài ổ dây dẫn trong thuyền lớn? Trần Kỳ Hải lại hỏi.

 – Ổ dây đặt ở thuyền nhỏ, nếu gặp bất trắc trước giờ kích hoạt, cho chìm luôn, khả năng phi tang lớn và dễ thực hiện!

– Thế phương án trên bộ, ém chất nổ vào hốc mố cầu không đơn giản hơn sao? Đó là chưa kể đến ít nhân lực, giảm tốn kém, dễ đào thoát? Trần Kỳ Hải đề xuất.

– Nhưng nguy hiểm hơn vì quanh chân mố cầu có rào chắn, là vùng cấm không ai được lai vãng, có ngụy trang cũng không biết vào vai nào, có khả năng lộ diện khi xuất phát… Tôi phản bác. – Đó là chưa kể bọn tuần tra giang hải thường đề phòng đối phó theo cách cổ điển ấy, và bọn nhân dân tự vệ khu phố dựng bốt ngay đầu dốc xuống mố cầu. Ở nơi đô hội, yếu tố bất ngờ sẽ quyết định thắng lợi! Tôi nhấn mạnh.

– Thế lực lượng bảo vệ cầu? Trần Kỳ Hải hỏi.

– Cầu nằm ở vùng đông dân cư, địch không muốn phơi bày chiến tranh giữa đô thị, tạo ấn tượng xấu với nhân dân và khách nước ngoài. Do đó gần như không có tháp canh, ụ súng. Nhưng vẫn luôn có lực lượng ứng chiến, trên sông ca-nô tuần phòng đi lại suốt đêm và trên bộ khó qua mắt bọn nhân dân tự vệ dàn trải…

Một phu xích lô rong xe lang thang tìm bóng mát ghé vào quán, Trần Kỳ Hải vội lảng qua đề tài khác. Một phụ nữ, có lẽ nhân viên của anh ta, bên kia đường bước sang báo trưởng ty cho gọi anh. Chúng tôi tạm dứt trao đổi. Trước khi chia tay, anh hẹn gặp lại sau giờ làm việc tại Cercle Sportif, một hội quán thể thao có từ thời Pháp thuộc ở bờ nam sông Hương.

Ngay chiều hôm ấy, tôi từ thư viện Đại Học qua đường Lê Lợi. Trần Kỳ Hải chờ tôi ở một bàn nhỏ ngoài cùng trên bao lơn sát mặt nước. Khách chơi đêm mỗi lúc một đông, không gian hội quán vẫn trầm lắng.

– Tôi đã suy nghĩ kỹ, ngoại trừ dùng người nhái mang thủy lôi mà hiện nay ta không có, xem ra phương án của bạn khả thi hơn cả!

Sau khi chọn thực đơn, đợi phục vụ lui bước, Trần Kỳ Hải trở lại công việc bỏ dở ban sáng.

– Nhưng phải chịu tốn kém, nhất là về nhân sự!

Tôi bổ sung, tránh dùng từ chấp nhận hy sinh.

– Không sao! Cần bao nhiêu người? Trần Kỳ Hải hiểu theo hướng tích cực, tỏ rõ cương quyết.

– Có tính đến hậu cần không? Tôi hỏi.

– Chuyện ấy tôi lo! Anh ta nói.

– Vậy thì… Tôi đưa hai bàn tay chìa ra sáu ngón. – Trong đó có một nữ, tuổi không quá ba mươi, không đần độn, không quê mùa, không xấu xí, không vụng về, không hèn nhát, không dao động…

– Để làm gì?

Trần Kỳ Hải bặm môi, nhíu mày. Tôi nhìn anh ta, bạnh miệng giễu cợt một lúc. Phần lớn sinh viên xứ Quảng, nhất là Quảng Ngãi, ra Huế đều chỉn chu khép mình tự tu tự dưỡng, dè sẻn chi tiêu, đôi khi quê mùa cục mịch, chỉ có tôi hơn một năm nay như thứ cải đạo mang tiếng xé lẻ bầy đàn. Tôi biết đồng hương Quảng Nam nhìn mình lệch lạc, nhưng việc gì phải thanh minh. Liệu có ai tin khi mỗi chiều tôi thường cặp kè tiểu thư Cẩm Khuê, con gái Hồ giáo sư, mơ màng ngồi ghế công viên! Nhưng giờ thì không thể không đính chính.

– Anh không đoán ra à? Tôi cần một nữ đồng chí có nhan sắc đóng vai gái điếm! Tôi nói.

– Phải thế ư? Trần Kỳ Hải nhướng mắt dò hỏi, tần ngần tẩn ngẩn một lúc.

– Cô ấy sẽ đi cặp với Cung trên con thuyền nhỏ.

Tôi lạnh lùng nói rõ vai trò của nhân vật nữ.

– Cứ thuê ai đó như vừa rồi?

Khi biết tôi nói năng nghiêm chỉnh và quán triệt tầm quan trọng, anh ta tập trung góp ý.

– Lần thử nghiệm vừa qua, tôi đã nhận rõ một điều… – Chìa một bàn tay ra, tôi xoè đủ năm ngón rồi nắm chặt lại. – Trong phối kết thực hiện nhiệm vụ, tất cả các khâu phải là người của ta, không những khớp khao hành động mà còn thống nhất ý chí. Nếu không, sẽ gặp sơ hở, không đồng bộ và lúc hiểm nguy không chịu hy sinh dập mạch, tác hại sẽ lây lan…

Một nhân viên phục vụ mang đồ nhắm và rượu whisky đến. Trần Kỳ Hải gợi ý dùng luôn bữa tối ở đây và báo cho anh ta hay thực đơn.

– Gay đấy! Khi nhân viên phục vụ quay đi, anh ta than. – Vàng, đô-la, hột xoàn… muốn gì có nấy, nhưng giữa thành phố cổ kính này tìm đâu ra người con gái hội đủ các tính năng chuẩn mực ấy!

– Xin lãnh đạo hỗ trợ?

Bắt đầu bữa ăn, tôi kiến nghị.

 – Có thể! Trần Kỳ Hải miễn cưỡng. – Nhưng là gái quê, gái chợ, gái núi, gái đồng?

Anh ta nói đến đâu, tôi lắc đầu tới đó. Người phục vụ trở lại, đặt xuống mặt bàn hai thố cơm thập cẩm gói lá sen, một dĩa gà rô-ti và mấy thứ gia vị kèm theo.

– Dùng một nam giả vai nữ được không?

Sau một lúc suy nghĩ, Trần Kỳ Hải đề nghị, tôi vẫn lắc đầu. Chúng tôi ngừng bàn bạc, ăn uống tự nhiên. Thoáng thấy một bồi bàn lấp ló, tôi gọi mang hoa quả tráng miệng. Đêm xuống tự lúc nào, gió mơn man sóng nước lăn tăn, những con đò bắt đầu đi lại trên sông, bờ bắc bóng hoàng thành chưa khuất hẳn, sừng sững âm u, đèn đường thưa thớt đưa toàn cảnh thành đô vào một thời xa vắng. Nếu không có những tiếng nổ rền từ rừng núi phía tây vọng về, không có tiếng đạn pháo bay qua bầu trời, chúng tôi sẽ thích thú đắm chìm trong yến ẩm an vui thái bình vương giả.

Trước khi chia tay, tôi lưu ý Trần Kỳ Hải lệnh cho Nguyễn Đình Phổ về Ngã Ba Sình (*) mua thuyền cũ, Lê Văn Cung ngay từ bây giờ phải tập chèo chống, còn vai nữ cần có sớm để làm quen với sông nước. Nhiệt tình chưa đủ, tôi ngại Cung thiếu kỹ năng và vai nữ không đủ kỹ xảo của gái mãi dâm.

(*) Hợp lưu sông Hương sông Bồ trước khi ra biển thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang

– Có cần diễn tập không? Trần Kỳ Hải hỏi.

– Không phải một lần! Tôi nói.

– Trước đó phải lập sa-bàn!  Anh ta nhắc nhở.

– Tôi sẽ dựng bằng giấy các-tông, thông qua anh em xong thì đốt ngay! Tôi nói.

Trần Kỳ Hải cúi mặt suy nghĩ, tôi chắc anh ta khốn quẫn về vai nữ tôi vừa đòi hỏi.

Tuần sau, tôi đang ôn thi ở thư viện, Trần Kỳ Hải tới cho hay lệnh trên yêu cầu rút ngắn thời gian chuẩn bị, đánh cầu trước khi nhóm dân biểu đối lập Hạ Viện Mỹ đến thăm miền Nam.

– Ngắn hơn là ngắn bao nhiêu? Tôi hỏi.

– Khoảng một tuần!

Trần Kỳ Hải nói, mặt lạnh như tiền.

– Vậy chúng ta chỉ còn đúng mười ngày nữa?

Tôi cảm thấy bị dồn nén đến dợn họng.

– Không! Theo cấp ủy nhận định, trước và sau đó năm ba ngày bao giờ địch cũng gia tăng phòng bị.

 Trần Kỳ Hải nói.

– Thế cô gái đã có cho tôi chưa?

Tôi hỏi, thở hắt bực dọc nghẹn thắt. Đúng ra, tôi ngầm gây khó để anh ta phản ánh lại và trên chiều theo lịch tiến độ của mình.

– Sẽ chi cho một khoản khá lớn và tự lo lấy.

 Trần Kỳ Hải nói rồi vuốt mặt giấu một cái ngáp.

 Vàng bạc không tạo được lòng trung thành. Vàng bạc chỉ giúp bọn bịp bợm mua rẻ sinh mạng của kẻ dại khờ. Nghĩ thế nhưng tôi không thể đay nghiến Trần Kỳ Hải, thành ủy viên dự khuyết chỉ đạo tôi nhưng là cấp thừa hành. Thói thường, đem con bỏ chợ, bán cái là lối thoát của lãnh đạo mỗi khi bí.

– Như vậy là không có diễn tập?

Tôi hỏi, Trần Kỳ Hải khẽ gật đầu.

 – Hôm nay không tính, nếu chọn thứ bảy tới, chúng ta chỉ còn bốn ngày?

Tôi đồ thêm cho chắc.

Trần Kỳ Hải im lặng gật đầu. Tôi thật sự bối rối.

– Không diễn tập nhưng phải họp xét duyệt kế hoạch lần cuối.  Trần Kỳ Hải nói.

– Bao giờ? Ở đâu? Tôi hỏi.

– 17 giờ chiều mai, ở quán Bạch Đằng.

Trần Kỳ Hải thông báo.

– Vị trí đó giúp ta vừa ăn uống vừa quan sát trận địa.

(Hết Chương 43)

Share this post