Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 47

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 47

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 47
– Z.19
Trốn vào bệnh viện, vào nhà xác, lập lờ âm cảnh.

Cồn Hến là một vùng quê lọt thỏm nhưng lạc lõng giữa đô thị, giờ này mọi sinh hoạt như đã chìm hẳn vào đêm, không nhà nào còn ánh đèn, không bóng người đi lại. Nhờ đã rong chơi sông nước, nắm vững địa hình, tôi bước đi không mấy khó khăn. Cảnh sát chỉ giỏi hống hách giữa ban ngày ở phố xá, Địa phương quân thường khi đêm xuống chốt chặt đồn bót thủ thân, chỉ ngại bọn dân vệ nhẩn nha, tôi len lách băng ngang cồn theo một tiểu lộ ngắn ngoằn ngoèo.

 Tiếng chó sủa nhăng nhẳng. Mùi tanh lạnh thoang thoáng qua mũi. Vượt con cầu sắt dã chiến, qua tới hữu ngạn sông Hương, vào được vùng dân cư ngoại ô, tôi cảm thấy vẫn chưa hết hiểm nguy. Làm sao bây giờ? Tôi tự hỏi. Đa phần nhà hai bên đường khuất sâu trong vườn tược. Đất nước chiến tranh triền miên, hai bên đụng nhau như cơm bữa, có lẽ biến cố trên sông nước vừa rồi chưa lan tới vùng dân cư cận kề này. Bộ hành thưa thớt, vài ba người từ phố về cỡi xe đạp ngược chiều. Được một đoạn, tôi vớ ngay chiếc xích lô đang chờ khách bên ngoài một quán ăn nhỏ. Ban đầu, tôi muốn tìm nhà một người bạn để nấp lánh. Mù mờ một lúc, tôi bảo phu xe quay về phố. Ngang qua nhà Cẩm Khuê, tôi để mắt quan sát, không có biểu hiện nào bất thường. Đương nhiên cô ta chưa về đến. Tôi quyết chắc và hình dung con thuyền đang ngược dòng lênh đênh sông nước. Đêm nay không chỉ mình cô ấy mà có đến hàng chục kỹ nữ run sợ nép mình trong những khoang thuyền dưới ánh đèn soi. Chúng nó chẳng làm được gì Cẩm Khuê khi tôi mang hết hiểm nguy theo mình. Một ngày gần đây, cô ta sẽ hiểu vì sao tôi lôi cô ta vào cuộc. Và về lâu dài hơn nữa, cô ta sẽ thấy vì sao tôi đánh đổi tất cả để hành động. Còn bây giờ, không nguyền rủa, cô ta cũng khó tránh khỏi buồn phiền. Nhưng thôi, cứu cánh sẽ biện minh cho phương tiện.

Yên tâm tôi vượt qua Đập Đá. Đi được một đoạn, tôi cảm thấy mình quá liều lĩnh. Chẳng còn vỏ bọc đấu tranh hợp pháp, chẳng còn nhãn mác sinh viên, rõ ràng tôi là một đặc công nội thành vừa vỡ trận, đang một mình đi về phía địch. Thành phố lạnh khô trong ánh đèn. Con đường Lê Lợi quen thuộc bỗng dưng lạ hoắc. Tôi e dè những vũng tối và từng cụm người ở mỗi ngã đường. Tôi đề phòng bất kỳ ai đến gần hoặc ngang qua.

Xuống xe ngay trước cổng bệnh viện Huế, giờ này vắng khách vãng lai, tôi vào phòng cấp cứu xin cô y tá trực cho gặp bác sĩ  Xuân Hoa, vợ của kỹ sư Trần Kỳ Hải. May mắn đêm nay chị ấy có phiên trực. Theo chỉ dẫn, tôi xuống thẳng khoa Lao. Do không hẹn mà đến, hoặc bộ dạng đã thảm não tới mức không thể che giấu, Xuân Hoa hoảng hốt nhìn tôi. Cũng may lúc ấy chỉ có hai người trên hành lang. Tôi yêu cầu chị đẩy gấp tôi vào viện với tư cách bệnh nhân. Sau đó, tôi đề nghị chị báo cho anh ấy biết kế hoạch đánh cầu đã thất bại, Lê Văn Cung có khả năng sa lưới hoặc chết, sự cố rất dễ cháy lan, đề nghị nâng cấp báo động.

Xuân Hoa cúi mặt ngẫm nghĩ rồi đưa tôi vào một phòng chưa có bệnh nhân, hai hàng giường sắt trống trơ lấm láp bụi. Chúng tôi ngồi xuống hai chiếc ghế cạnh cái bàn con, đối mặt, câm lặng. Tôi cảm thấy lạnh lẽo hơn cả lúc ở trên sông nước. Bặm môi suy nghĩ một lúc, chị vùng đứng dậy, nhìn chăm vào tôi rồi rời phòng. Năm phút sau, một bà y công mang tới mùng màn chăn nệm và các thứ lặt vặt.

– Cậu cứ nằm tạm đây! Chị Xuân Hoa trở lại, căn dặn khi bà y công ra khỏi phòng. – Ngày mai tôi sẽ sắp xếp đúng như yêu cầu!

Chị thấm mắt bằng chiếc khăn trắng nhỏ.

– Đã ăn uống chi chưa? Chị hỏi, tôi lắc đầu.

Chị lại tất bật rời khỏi phòng.

Cho các thứ vừa thay ra vào chiếc tủ con nằm cạnh, tôi bắt gặp một sợi tóc dài vắt dọc từ cổ áo sơ mi. Của Cẩm Khuê, tôi trân trọng gỡ lấy cuộn thành vòng. Muốn cất giấu nhưng không biết để đâu, ngẫm nghĩ, tôi cho vào miệng. Sợ cô ta đau, tôi không dám mâm, chỉ nuốt nhè nhe. Cảm giác lạ, như có mùi thơm chanh lẫn trong vị cay quế, nhưng tôi không có thì giờ truy cứu.

Mặc vội bộ áo quần bệnh nhân, tôi lao lên giường, kéo ga tận cổ. Người ấm dần, nhưng tôi biết chưa qua, kể cả sợi tóc. Với cảm giác vương vướng cổ họng, tôi tập trung rà xét sinh hoạt của mình mấy ngày qua.

Tình cờ hay sơ hở? Tôi quyết chắc không thể tình cờ, còn sơ hở, lúc này khó mà xác định được nguyên nhân.

Bà y công trở lại, mang theo một túi xách. Từ trong đó bà lôi ra một cà mèn cháo thịt, một ổ bánh mì, một hộp fromage, hai chai nước khoáng, ba gói thuốc lá Salem. Bà dặn nhớ giữ luôn chiếc túi để dùng về sau, rồi đi ngay. Bệnh nhân ăn uống, hút hít cỡ này e khó mà giấu được ai! Tôi thầm nghĩ, lén nhìn theo bà ta. Đã giao sinh mạng cho chị ấy phải tin người này. Biết thế nhưng sao ánh mắt bà ta vẫn làm tôi ngài ngại. “Hoạ hổ, hoạ bì nan hoạ cốt. Tri nhân, tri diện bất tri tâm” [Vẽ cọp, chỉ vẽ được da chứ không thể vẽ được xương. Biết người, chỉ biết được mặt chứ không thể biết được lòng dạ]. Tôi chợt nhớ câu thơ của Trang Tử, lại lo hơn nữa. Nhưng đang lúc đói, tôi tém sạch. Sau đó, tôi muốn tắm rửa qua loa nhưng không dám tùy tiện manh động. Nằm hút thuốc, tôi chờ Xuân Hoa trở lại, nghe hết động tĩnh bên ngoài vọng vào. Lũ gián bắt mùi lê la bay liệng khắp phòng. Lâu lâu tiếng máy bay đêm ngang qua bầu trời bệnh viện. Hút tới điếu thứ ba, tôi quyết chắc chị ấy không tới. Tôi mơ hồ Xuân Hoa đã lén về nhà và đang cùng chồng lo toan. Tôi tin mình đã báo động kịp thời và Trần Kỳ Hải sẽ có đối sách thích nghi. Có tiếng bước chân ngoài hành lang, dập tắt điếu thuốc hút dở, tôi ngồi dậy. Nghe ngóng một lúc, không có gì, tôi cài chặt cửa, tắt đèn cố dỗ một giấc ngủ.

Sáng hôm sau, tôi theo cô y tá đến một phòng khác ở tầng trệt, đã có bệnh nhân. Cô ta chỉ chỗ cho tôi, cài lên đầu giường một bệnh án. Thu vén các thứ cho vào chiếc tủ nhỏ, tôi nằm xoay mặt vào vách, dự liệu tình huống phải ứng phó. Giường bên có người nhà đến thăm nói năng nhỏ nhẹ. Nhìn chung, bệnh nhân có dịch chuyển sinh hoạt nhưng gian phòng vẫn nề nếp, tạo cho tôi cảm giác yên ổn. Khoảng chín giờ, Xuân Hoa vào cùng cô y tá lúc nãy. Tôi ngồi dậy người đờ đẫn. Bệnh giả biết đâu hóa thật? Trong váng vất, tôi mừng thầm. Cô y tá đo huyết áp. Không biết sao, cô ta cứ thừ người nhăn nhó, trật trầy khiến tôi nề não cả ruột gan. Xuân Hoa bắt đầu khám bệnh từng cá nhân. Tới lượt tôi, chị nói khẽ với cô y tá rồi dùng ống nghe rà xét vùng ngực và lưng. Tiếp đến chị ghi vào bệnh án và cho toa.

– Tình trạng của anh tiến triển khá tốt, phổi chỉ còn mấy vết nám nhỏ, nhưng không được lơ là điều trị.

Chị dặn, tôi gật đầu, nhập vai khá nhanh.

– Phải cố bỏ thuốc lá đi! Chị đe.

Tôi tỏ vẻ miễn cưỡng, chị nói tiếp:

– Nếu không dứt ngay được thì giảm từ từ.

– Em sẽ phấn đấu thực hiện!

Tôi đổi cách xưng hô và hứa. Khi Xuân Hoa qua giường bên, tôi nhìn theo, nhận ra chị không tươi tắn như ngày thường, dầu đã gia cố đậm phấn son. Cô y tá trở lại phát thuốc cho bệnh nhân. Tôi ngậm ba viên màu xanh lam khá lâu trong miệng, nghe mùi thơm vitamin B.12 hức lên tận mũi. Thuốc bổ, tôi yên tâm nuốt búng nước chua chua. Bất chợt tôi nhớ đến sợi tóc và lại nghe vương vướng cổ họng.

Buổi trưa tôi ăn theo khẩu phần miễn phí như bao bệnh nhân khác. Còn lưng dạ, nhưng tôi ý tứ chừa lại chút ít. Buổi chiều, trong khi chờ bữa, bà y công hôm qua mang vào một chục quả cam. Tôi chia phần cho hai người nằm cạnh. Từ đó chúng tôi bắt đầu thân quen. Để mắt quan sát, tôi học cách đau ốm, không cạo râu, ăn chậm, uống ít, nói năng nhỏ nhẹ, ho hen chút ít, kèm theo một tí băn khoăn nhăn nhó rên rỉ, một tí cau mày thờ thẫn lo nghĩ bâng quơ. Cùng với bài học ấy, tôi soạn một lý lịch giả khá bi thương – người cùng quê với nữ bác sĩ Xuân Hoa, mồ côi cha, mẹ bỏ đi bước nữa, không họ hàng, không nhà cửa, không nghề nghiệp, rất muốn vào lính kiếm cơm nhưng vì người có vi trùng Koch, qua mấy đợt khám tuyển, quân dịch chê… Ngay sau khi phát tán lý lịch giả, tôi nhìn lại những ánh mắt trìu mến của một số bệnh nhân cùng phòng.

Đến ngày thứ tư, cô y tá đưa tôi đi chụp quang tuyến X. Nhưng đến cuối hành lang, cô ta đẩy tôi vào phòng bác sĩ trưởng khoa. Chị Xuân Hoa chỉ cho tôi chiếc ghế để sẵn bên cạnh và chốt cửa lại.

 – Sáng nay cảnh sát đã gọi Trần Kỳ Hải. Chị nói, hơi run. – Những ngày tới người ta sẽ không để tôi yên, chí ít cũng có đuôi theo bám. Cậu có nơi khác không?

 Tôi ngồi im, chị đưa hai tay ôm đầu. Điều này không ngoài dự đoán, nhưng quả thật tôi đang bước đường cùng và trước mắt chỉ có một cái phao.

– Thôi, được rồi! Chị đứng phắt dậy. – Chỉ còn cách này thôi! Chị khẽ thở dài, nhưng liền sau đó cố ra vẻ bình thường.

– Cậu về phòng và chuẩn bị các thứ! Nhớ lúc ra đi chào mọi người như được xuất viện.

Tôi gật đầu, rút lui ngay. Không thể nấn ná, tôi vội thay áo quần. Một bệnh nhân hỏi, tôi bảo bác sĩ trưởng khoa cho xuất, tiếp tục điều trị bệnh lao tại gia. Cô y tá vào phòng trao cho mảnh giấy nhỏ. Tôi đứng dậy chúc mọi người ở lại sớm lành bệnh rồi ôm lấy túi xách. Cô y tá thu vội bệnh án cho vào cặp, ra hiệu bảo tôi theo. Ngang chỗ chị Xuân Hoa, cửa mở, tôi nhìn vào chỉ thấy chiếc ghế trống và chiếc quạt trần còn chuyển động.

Xuống tới đường nội viện, đi một đoạn ngắn, cô y tá đưa tôi vào một nơi u ám, mới thoáng đã thấy ghê ghê. Người đàn ông đón tôi tên Dự trạc trung niên, chột một mắt thọt một chân. Cô y tá thầm thì trao đổi với anh ta mấy câu rồi đi ngay. Dự quay lại nguội lạnh đưa tôi vào phòng. Bộ tịch ấy khiến tôi áy náy. Nghe nói anh ta là thương phế binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa, binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, rời chiến trường sau cuộc tổng tấn công Mậu Thân của cộng sản. Là mẫu người lầm lì, anh ta nói năng bằng tay hơn bằng miệng. Do hạn chế đi lại, ở với Dự hai ngày ba đêm, tôi mới hay đây là khu nhà xác, lạnh hơn bất cứ nơi nào và có thứ mùi tanh khao khao khắt khắt. Ban ngày, tôi nằm dài trên chiếc giường sắt nhỏ trong một phòng rộng chừng mươi mét vuông, lổng chổng đủ thứ vật dụng và ngổn ngang các loại phế liệu bòn mót từ kho dược, với một chai nước lã chỉ uống cầm chừng, không ngại thiếu nhưng sợ phải ra ngoài đi giải nhiều lần. Ban đêm, tôi theo một hành lang ngắn sứt mẻ gập ghềnh tìm đến nhà cầu và bể nước khăm khẳm mùi lá mục. Đó là khoảng thời gian ngắn trong ngày tôi cảm thấy thoải mái hơn cả. Khi có xác tải xuống, thân nhân bu theo, tôi phải tiêu tiểu vào một cái lon bơ chờ đến đêm đem đổ vào nhà cầu. Ở chật, ngủ chung, ăn ké, lén lút vào ra, lập lờ âm cảnh, tôi như lờ đờ hóa ma.

Vẫn chưa đủ khổ. Đùng một cái, vợ Dự từ ngoài Quảng Điền vào thăm, chỗ nằm của tôi bên Dự phải nhường cho chị ấy. Dự gom chồng các thứ lên nhau để có một khoảng trống, trải vuông chiếu cho hai vợ chồng nhưng tôi quyết giành lấy. Nửa khuya, chiếc giường sắt cứ rung từng cơn tạo ra thứ âm thanh kịch cỡm khó nghe. Tôi bưng hai tai, cố gởi tâm trí mình lang thang đâu đó nhưng nó cứ quay về, và thứ âm thanh ấy như một lưỡi dao cùn dai dẳng cứa vào đầu tôi. Ba đêm ngủ thức chập chờn, sáng dậy người tôi phờ phạc, không giấu được ai mình lâm thế khốn quẫn. Nhưng vợ Dự chưa có biểu hiện về lại quê. Đã thế, tôi bắt gặp chị ta còn nhỏ to với chồng. Mưu tính gì? Tôi có cảm tưởng mình đang là món hàng đắt giá. Biết đâu bọn họ không phải chồng vợ, chẳng qua mèo mả gà đồng! “Kinh cung chi điểu” [Nỗi sợ hãi của chim đã từng thoát nạn cung tên], tôi lo, nhưng chưa tìm được cách bắn tín hiệu cho Xuân Hoa.

Sau bữa ăn sáng từ tinh mơ, Dự chọn một phòng ở cuối dãy, nhét tôi vào đó với chai nước lã to hơn, một tấm ga nhiều vết ố vàng và cái lon sắt gỉ sét cũng to hơn. Cảnh giác phòng gian bảo mật, anh ta còn khóa trái ngay sau khi quay lưng. Một mình một phòng một bàn đá, tôi chỉ có nằm và nằm. Lâu lâu nghe lạnh, tôi ngồi dậy và chỉ có ngồi với ngồi. Ngu ngơ dọ dẫm xó nọ xỉnh kia trong không gian chập choạng, tôi lại bước đi chỉ có lòng vòng. Chán ngán, tôi kiễng chân nhìn qua ô cửa nhỏ có lưới thép mắt cáo. Chẳng thấy gì ngoài một khoảnh tường nhà cao tầng bạc thếch và vài ba cành cây thưa lá, nhưng tôi vẫn e sợ có người bắt gặp. Ban ngày tôi chờ cơm nước Dự đưa tới, chờ tiếng còi xe ngang qua và chờ cả vợ chồng sáo không biết vì lý do gì hay ghé lại ô cửa thông gió cao sát mái. Ban đêm, khi đã tĩnh lặng, tôi nằm nghe lá rụng và chờ Dự mở cửa cho ra vài giờ. Khủng khiếp nhất, lúc bên ngoài không một tiếng động vọng vào, ánh sáng xuyên qua các khe cửa tắt hẳn, tôi bắt đầu thấy ma – lổn ngổn những hình hài biến dạng, lổn nhổn những xương cốt cựa mình, ì èo những gào thét vô thanh. Từ đó, tôi sợ bóng tối và sợ ngủ, nói cho đúng, sợ nhắm mắt. Tới một lúc, mở mắt tôi vẫn sờ sờ thấy ma. Bệnh viện đã tồn tại tám mươi năm, cũng như nhà ga bến tàu, đây là nơi vật vờ quá cảnh đôi bờ sinh tử, không phải ai về cõi âm cũng thuận buồm xuôi gió. Không thiếu ăn, nhưng sống trong lãnh khí, khiến người tôi xanh mét như con bệnh mãn tính kinh niên. Một đêm trở trời, tôi chợt phát hiện mùi hôi in ỉn từ tấm ga. Tôi nghi là thứ bệnh viện thải ra sau khi đã quàng lên xác thối và với cái tính keo bẩn Dự nhặt nhạnh mang về. Mong muốn tranh thủ được chiếc mền lông vịt màu xám tro của anh ta, một bữa tôi giả bộ kêu than ga mỏng, nửa đêm về sáng không đủ ấm. Thương tình, anh ta cho thêm hai tấm, một tăng cường đắp, một trải lót bàn đá chống lạnh. Những ngày tiếp theo, tôi còn hít đậm tử khí và thấy ma nhiều hơn nữa.

Trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy, tôi đón nhận tin vui Trần Kỳ Hải được phóng thích, sau một tuần giam giữ. Cơ quan điều tra không tìm ra chứng cứ. Nhưng chừng đó không đủ giúp tôi củng cố tinh thần, ngược lại, mỗi ngày một suy sụp, mất ăn, khó ngủ, rối loạn tiêu hóa. Tôi tìm cách thông báo cho Xuân Hoa biết. Dự sốt sắng chuyển tin và vui ra mặt.

Xuân Hoa quyết định đưa tôi rời khỏi khu nhà xác.

– Đi đâu? Sau giờ tan tầm hôm ấy, chị đến và hỏi.

– Tôi muốn trốn vào Sài Gòn, tìm cách trà trộn đám đồng hương hỗn tạp ở ngã tư Bảy Hiền, nghe nói ở đó dễ kiếm việc làm!  Tôi nói.

– Cần xin ý kiến lãnh đạo không? Chị hỏi.

– Việc không thành, Hải báo cáo lên trên chưa? Tôi rà xét.

 – Rồi! Chị nói.

– Phản hồi thế nào? Tôi hỏi.

– Hình như có trục trặc nào đó, tĩnh lặng như thả đá xuống giếng sâu! Hải muốn thăm dò thông qua một tuyến khác nhưng chưa lần được đường dây! Chị nói.

– Đã thế, nếu họ có thắc mắc thì mình bổ sung, bằng không thì thôi. Khi nào yên ổn, chúng ta sẽ nối lại! Tôi nói.

– Vậy cậu chuẩn bị ngay đi! Chị nhìn xuống đồng hồ đeo tay rồi nhìn lên tấm lịch treo tường.

– Chẳng có gì để chuẩn bị ngoài chiếc túi xách nhẹ tênh. Nhưng trước khi ra đi, tôi muốn gặp Cẩm Khuê lần cuối.

Tôi nói, quỳ xuống, nắm cứng lấy cánh tay Xuân Hoa lúc chị sắp sửa quay lưng.

– Không có lợi cho cả hai bên!

Chị nhỏ nhẹ, cau mặt như ngậm phải đắng.

– Chỉ sợ về phía cô ấy và gia đình, còn tôi, đã đến nước này mà còn đen đủi hơn nữa, bất chấp tất cả! Tôi nói.

Sau cái khẽ rùng mình, chị gượng thẳng lên, đưa mắt nhìn qua cửa sổ.

– Các cậu và vợ chồng tôi, chúng ta đang là gì? Hãy trả lời đi!

Mặc chị cố công thuyết phục, tôi im lặng.

 – Có phải chúng ta là chiến sĩ xung kích biệt động thành vừa vỡ trận, đang trên đường rút chạy không? Lúc này, yêu cầu bức thiết phải bảo mật và an toàn tuyến. Những sinh hoạt, những đòi hỏi cá nhân có hại cho tổ chức phải gác lại!

Chị nói, ngồi xuống mép giường. \

Tôi khẩn khoản, chị vẫn từ chối, yêu cầu phải ghép vào kỷ luật, chấp nhận hy sinh tình cảm cá nhân.

– Gần hai tháng lưu lại đây tôi cảm nhận được một điều… – Cuối cuộc trao đổi, tôi nói. – Trước khi muốn làm gì, phải sống cho ra người trước đã, nếu không, chỉ là trò đạo đức giả, kể cả cống hiến bản thân cho tổ quốc, cho xã hội. Do đó, nếu chị không hứa giúp, tôi chỉ có cách này để chứng tỏ với cô ta.

Tôi rút súng chĩa thẳng vào đầu mình.

– Điên rồi hử? Chị chồm tới đưa tay chận họng súng, mắt long lên.

– Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình tỉnh táo như lúc này! Tôi nói, vẫn không hạ súng.

Bốn mắt nhìn nhau một lúc rồi chị cắn cứng môi, cổ họng nghẹn thắt, biểu tỏ đã hết đường chịu nổi.

Dùng bệ đá nhà xác làm bàn, kê bốn viên gạch làm ghế, mất nửa ngày tôi mới viết được mươi dòng cho Cẩm Khuê. Đầu thư, tôi bày tỏ vô cùng ân hận đã đưa cô ấy vào trận địa với vai trò một đặc công quyết tử. Tôi xin nhận trách nhiệm và hậu quả nếu sự cố phát triển và tiếp tục gieo rắc tai họa cho cô ta và gia đình. Viết đến đây, tôi ngồi thừ một lúc, nghĩ tới một bạch thư gởi đến cơ quan hữu trách Việt Nam Cộng Hoà, thừa nhận mình là kẻ chủ mưu, Cẩm Khuê chỉ là nạn nhân tham chiến, sau đó thì tự sát. Nhưng rồi tôi cho hành động như thế là hèn nhát, phụ lòng những ai đã từng vì mình, còn sống tôi còn cơ may đền đáp. Thứ đến, tôi bày tỏ tình yêu tôi dành cho cô ta cao hơn sự sống của mình, nguyện trọn đời trân trọng dù bị từ khước, dù bị lăng nhục hoặc nay mai phải phiêu bạt chân trời góc biển. Sau cùng, tôi cho cô ấy hay mình sắp đi xa, xin một ân huệ được thấy mặt nhau.

Xuân Hoa tự thân đảm nhận việc trung chuyển. Ba hôm sau chị cho hay phải đến mấy lượt nài nỉ, có sự hỗ trợ của bà mẹ, Cẩm Khuê mới chịu tiếp tôi tại nhà.

 – Đó là cửa tử nhưng tôi không sợ, chỉ ngại vô tình dẫn theo tai họa thêm nữa cho gia đình người ta.

Tôi nói, Xuân Hoa cũng đồng ý nhận định ấy.

Lại ra đi lần nữa, trở về chị cho hay cô ấy thuận theo yêu cầu nhưng thời hạn không quá mười lăm phút. Tôi vô cùng cảm kích và dọn mình chờ đợi.

(Hết Chương 47)

Share this post