Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Lời Giới Thiệu Của Tủ Sách Tiếng Quê Hương

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Lời Giới Thiệu Của Tủ Sách Tiếng Quê Hương

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết  VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN

NGÕ VÀO “PHIÊN BẢN TÌNH YÊU”
* Trần Phong Vũ

Như nhan sách, Phiên Bản Tình Yêu là một chuyện tình, một chuyện tình xuyên thế hệ, mang nhiều kịch tính với những tình tiết éo le, ngang trái, chuyển biến bất ngờ. Nhưng “Tình Yêu” ở đây chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một băng sơn giữa đại dương mờ mịt. Dưới đó, tiềm tàng những ngõ ngách tang thương, bí ẩn với niềm đau ngút ngàn của những con người hiền lương phải sống như chưa từng sống trong cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lèo lái bởi một lớp lãnh đạo tham lam, mù lòa, không tim óc. Và trong đám nạn nhân lúc nhúc, đậm đặc không thiếu những kẻ đã một thời đóng góp công lao, tâm huyết và cả xương máu để góp phần làm nên cái cơ chế khốn nạn ấy!

Dù sao, tự thân mối tình lãng đãng kéo dài từ Cẩm Khuê của thập niên 60 tới Tường Vi ngót 20 năm sau đó cũng là một thực tế, một hiện hữu không thể bỏ qua.

Vũ Biện Điền, một bút danh xa lạ. Nhưng lạ hay quen không phải điều quan trọng. Điều quan trọng là tác giả – một nhân chứng sống của một thời hoang loạn – đã ghi lại, đã ký thác được những gì trong tác phẩm của ông?

Cuộc tình xuyên thế hệ ở đây có thể được hiểu như một thứ “thang” để dẫn “thuốc”, một chất xúc tác, một hấp lực cuốn người đọc đi sâu vào những âm mưu, những màn đấu đá, những trò lường gạt, thay bậc đổi ngôi trong một xã hội người ta nhân danh đủ thứ với những mặt nạ khóc cười, hỉ nộ đã được mã hóa khi thực chất chứa đầy tâm thái tham lam, ích kỷ, độc ác, chỉ vụ thỏa mãn tham vọng cá nhân, bè nhóm, bất chấp an nguy của tiền đồ quốc gia dân tộc. Trong chừng mực nào đó, với tư cách người chứng, tác giả đã đạt mục đích.

Nhân vật chính trong truyện là Lê Huy Phong, nguyên sinh viên Luật Khoa đại học Huế, kỹ sư canh nông đại học Nông Lâm Súc Sài Gòn, đảng viên Cộng Sản Việt Nam, đặc công biệt động thành, tổng giám đốc tổng công ty Tổng Hợp Xuất Nhập Khẩu hoạt động trong địa bàn một tỉnh ở Tây Nguyên.

Tác phẩm mở đầu với Lê Huy Phong ở chức danh kể trên khi bất ngờ đoàn tụ với người cha quyền thế, đoạn tuyệt mấy chục năm, lao đao lận đận, khi sa cơ, bị lâm vòng lao lý, may được Bửu Dương, một trí thức, sĩ quan an ninh đối phương mở đường “đáo bỉ ngạn”.

Tiếp theo là những tháng ngày phiêu bạt, sống chui nhũi trong hầm tối vì bị đồng đội bỏ rơi mà không hay biết. Cuộc tình với nữ du kích Phan Thị Mơ nảy nở thời gian này để khi Lê Huy Phong bước lên đài danh vọng thì cô là cộng tác viên đắc lực trong mọi cơ hội kiếm chác với những công ty lớn công ty con khắp hang cùng ngõ hẻm. Những năm về sau, cũng chính cô trở thành khuôn mặt tiêu biểu cho những “mệnh phụ phu nhân Đỏ” mau chân qua Mỹ dọn đường cho chủ trương hạ cánh an toàn của những đại gia, những tay đầu sỏ trong chế độ.

Những mưu toan bịp bợm, những trò lừa đảo, dối trá, tranh giành ngôi thứ, bên cạnh những cuộc vui suốt sáng, những trận cười thâu đêm nơi khách sạn sang trọng hay chốn yên hoa, tuy được tác giả khoanh vùng ở một địa phương, vẫn đưa trí tưởng người đọc tới những thâm cung bí sử ở Hà Nội, ở Sài Gòn, nói chung trên toàn đất nước. Nó không chỉ là chuyện hôm qua mà là chuyện hôm nay, chuyện lúc này.

Hơn 37 năm từ ngày Việt Nam “thống nhất”, người ta mong ước, người ta chờ đợi một tác phẩm biên khảo, hơn thế, một tác phẩm văn chương tầm cỡ có khả năng gói ghém được những đường nét lớn về một thời đau thương, hoang loạn của quê hương, dân tộc.

Với Phiên Bản Tình Yêu, Vũ Biện Điền có đáp trả sự chờ đợi ấy không?

Không ai phủ nhận tính hư cấu và trí tưởng tượng vốn là nền tảng, là con song sinh của bộ môn tiểu thuyết. Từ đó một câu hỏi đặt ra là nội dung Phiên Bản Tình Yêu có được bao nhiêu phần sự thực? Phải nhìn nhận qua hơn một ngàn trang sách, ngoài phần hư cấu và óc sáng tạo tất nhiên phải có, rất nhiều tình tiết trong truyện đã được tác giả xây dựng trên những sự kiện và bối cảnh có thật. Biến cố Tết Mậu Thân. Những cuộc xuống đường của phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh Huế cuối thập niên 60. Mức độ xâm nhập của đặc công cộng sản khi ấy. Những xáo trộn, thay bậc đổi ngôi ở Sài Gòn sau chính biến 1963 đến tháng Tư 1975.

Ngoài những nhân vật được dựng lên để làm nền cho tác phẩm là những khuôn mặt có thật trong giới trí thức miền nam. Điển hình là nhân vật Hồ giáo sư, tức học giả Hồ Đắc Chương ở cố đô Huế. Những kẻ trở cờ ẩn hiện trong biến cố Tết Mậu Thân như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường… Bên cạnh đó cũng phải kể tới những chuyện thời sự ở Sài Gòn, ở Hà Nội hiện nay với những hình ảnh người và việc được phản ảnh từng ngày, từng giờ qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Tất cả đã hà hơi tiếp sức để tạo xương cốt, sinh khí và tính thuyết phục cho những sự kiện phô bày trong tác phẩm.

Cuộc gặp gỡ tình cờ và hy hữu như chuyện cổ tích ở nhà sách Ưng Hạ giữa Lê Huy, một sinh viên tranh đấu, từng ra bưng nhận chỉ thị đặc công lũng đoạn nội thành, và Cẩm Khuê, ái nữ Hồ giáo sư, một thời là đảng viên cộng sản nhưng bỏ đảng sau khi phát hiện chân tướng của chủ nghĩa Marx, đã dẫn vào một cuộc tình u uẩn, một cuộc tình xuyên thế hệ sau này.

Tránh khuôn mòn của lối thuật chuyện theo thứ tự thời gian, tình tiết và diễn tiến trong tác phẩm được tác giả xếp dặt song hành, đối ứng, luân phiên đan kết giữa quá khứ và hiện tại.

Trong 132 chương sách, tác giả xếp 70 chương từ A01 đến A70 in chữ thẳng diễn tả những gì đang xảy ra và 62 chương từ Z01 đến Z62 in chữ nghiêng thuật lại những sự kiện trong quá khứ. 70 chương mang mẫu tự A cũng như 62 chương mang mẫu tự Z không đi liền nhau, được phân phối thành từng mảng dài ngắn không đều, đắp đổi nối tiếp tùy diễn tiến trong truyện.

Trong thời gian ở Huế, khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, với tư cách sinh viên năm thứ ba trường Luật, sau một cuộc xuống đường chống chính quyền miền nam, Lê Huy tình cờ được Bửu Dương, một người mới gặp khi cùng săn tìm tác phẩm Le Capital của Marx ở thư viện, đưa về nhà ẩn thân.

Vài ngày ngắn ngủi ấy, hai người đã có dịp tranh luận về chủ nghĩa cộng sản xuyên qua quan điểm của Marx cùng những hệ lụy của nó khi đưa vào với thực tế. Nét đẹp đàn ông của Bửu Dương, nhất là kiến thức quảng bác của anh về mọi lãnh vực, cách riêng chính trị, đã thu hút sự chú ý và lòng cảm phục của Lê Huy.

Khi bàn về giá trị thặng dư, mấu chốt trong Le Capital, Bửu Dương đã vạch trần sự thiển cận của Marx khi khẳng quyết là kinh doanh lúc nào cùng có lãi, có thặng dư, mà theo cách nhìn của Bửu Dương đã dẫn tới những nhận định, những quy kết hàm hồ, võ đoán.

Thương trường là chiến trường, đã đánh tất phải có thắng có bại, có thặng dư, plus-value, có khuy khuyết, moins-value. Chỉ nhìn một phía, đứng về một bên, đòi ăn hết, chia hết, không cho người ta tích lũy lúc thắng lấy đâu dự phòng lúc bại? Vậy dự phòng tồn tại là bước tiến hóa hiếm hoi của một số loài. Tích lũy tái sản xuất là tầm nhìn của trí tuệ thượng đẳng. Phát xuất do bệnh kinh điển triết học, thiển cận trong đấu tranh giai cấp, bôi trơn bằng căm thù, Marx trượt dài theo logique formelle, nên không biết thế nào là dự phòng, là an ninh kinh tế… Marx trước đó và cả Lénine về sau, chưa bao giờ hoặc cố tình không chịu thấy mặt này, moins-value, hoặc có thấy nhưng lại xem rất nhỏ, nhất quyết cưỡng áp thực tế cho vừa cái khuôn lý thuyết của mình chẳng khác bắt người ta gọt chân cho vừa kích cỡ giày dép. Lãnh đạo đất nước mà lùa dân vào luận thuyết khuyết tật, hậu quả là gì? Không ai dám thông minh nhìn xa trông rộng, không ai dám can đảm lao lên phía trước, không ai dám mạo hiểm mở rộng đầu tư, không ai dám làm dư của cải, không ai dám giàu có. Rút cục, dẫn đến tê liệt toàn bộ sinh hoạt quốc dân, bần cùng hóa nhân loại, vô hiệu hóa trí tuệ, khánh tận lương năng. (Z.05)

Do cuộc tình vừa chớm nở với Cẩm Khuê, Lê Huy cũng có dịp trao đổi, luận bàn với Hồ giáo sư, cha nàng. Trả lời câu hỏi Lê Huy đặt ra là nguyên nhân nào khiến ông bỏ đảng Cộng Sản , Hồ giáo sư nêu lên kinh nghiệm thực tiễn cho thấy những điểm dị biệt không thể lấp đầy giữa đôi bên:

Chúng tôi chiến đấu vì độc lập dân tộc, họ chiến đấu vì quả thực giai cấp. Chúng tôi giành chính quyền cho nhân dân, họ giành chính quyền cho cái gọi là Quốc Tế Cộng Sản. Chúng tôi muốn dân chủ, họ muốn đảng chủ. Chúng tôi muốn tự do, họ muốn độc tài. Chúng tôi muốn giải phóng dân tộc thoát khỏi bất kỳ hình thái áp bức nào, họ muốn thay màu sắc nô lệ từ thực dân Pháp sang bá quyền Liên Xô. Chúng tôi coi Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, họ tôn thờ Trung Quốc như quan thầy…

Đáp lại luận điểm chống đỡ của Lê Huy là “dù sao đất nước cũng được thống nhất, nhân dân thoát khỏi chiến tranh, tự do dân chủ sẽ mở ra, ấm no hạnh phúc chẳng còn bao xa”, Hồ giáo sư xác quyết, với những suy nghĩ và viễn kiến mang giá trị tiên tri:

Không bao giờ! Trái lại, đất nước sẽ bất ổn hơn, xã hội sẽ phân hóa hơn, nhân dân sẽ lầm than hơn… Nửa thế kỷ dưới gầm trời sắt máu Cộng Sản, Liên Xô và các nước Đông Âu đã vật vã chứng minh điều đó. Và một phần tư thế kỷ, hơn một tỷ người Trung Hoa khép mình theo đuôi bạo chúa Mao Trạch Đông chỉ đi vào cùng khổ. Còn Việt Nam, với gọng kìm của hai quan thầy, với mê muội quán tính kinh điển bấy lâu, không có con đường nào khác, ngày ấy hận thù đấu tranh giai cấp sẽ khoét sâu hơn nữa vào lòng dân tộc, vô sản chuyên chính sẽ đăng quang an vị giữa hai hàng súng, và nhân đó, tham ô sẽ đục ruỗng đất nước đến tận hang cùng ngõ hẻm! (Z.12)

Cuộc diện kiến giữa Lê Huy và Hồ giáo sư phát khởi từ sáng kiến của Cẩm Khuê với hy vọng mở đường cho người tình được thân phụ chuẩn nhận. Nhưng do những gì đã trang bị trong bưng, thêm vào nhiệt huyết và tính cao ngạo của tuổi trẻ thấm nhiễm tư tưởng mác-xít, người sinh viên họ Lê đã nhắm mắt xoay lưng, mặc dầu trong khi tranh luận, hơn một lần anh nao núng trước những luận điểm vững chắc, đầy tính thuyết phục của một bậc trưởng thượng mà anh coi như sư phụ.

Và cuộc tháo lui của anh mang ý nghĩa như một cuộc trốn chạy. Trốn chạy sự thật. Trốn chạy chính mình. Trốn chạy một cuộc tình mà anh tiên liệu thái độ cố chấp, gan lì đưa tới đổ vỡ sẽ để lại trong anh nhiều đau đớn.

Như một định mệnh khe khắt đã an bài, dù thất vọng Cẩm Khuê chưa bỏ cuộc. Nàng tiếp tục đeo đuổi cuộc tình với chàng trai xứ Quảng. Lạm dụng sự chuẩn thuận ngầm của thân mẫu, người con gái khuê các ấy tự động vượt vòng lễ giáo, liều lĩnh chấp nhận một cuộc chơi đêm trên sông Hương với Lê Huy nhân sinh nhật của anh. Nàng không hề biết đây chỉ là sinh nhật giả do Lê Huy bịa ra để khi hữu sự xử dụng nàng như một gái điếm, một tấm bình phong che mắt guồng máy an ninh Huế, khi anh đang cùng động đội trong toán đặc công nội thành mưu toan đặt chất nổ phá sập con cầu Gia Hội. Kế hoạch bị phá vỡ trong trứng nước. Sau khi nhờ đàn em trả Cẩm Khuê về với gia đình trong tình trạng tang thương, Lê Huy tìm đường đào thoát, với sự che chở của vợ chồng kỹ sư Trần Kỳ Hải và bác sĩ Xuân Hoa vốn là những cán bộ nằm vùng lúc bấy giờ.

Nhưng cuối cùng anh vẫn bị sa lưới an ninh.

Trong lần thẩm vấn thứ ba, do tình cờ hay do một sắp xếp nào đó, Lê Huy tái ngộ Bửu Dương và phát hiện anh là một sĩ quan cục an ninh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Dù ở vị trí phán quan trước tội phạm, Bửu Dương vẫn tỏ thái độ thân thiện, thẳng thắn, điềm đạm đối với Lê Huy cho dẫu vì mặc cảm đương sự luôn tỏ ra ngang ngạnh. Những gì đào bới được trong bộ sách lớn của Marx lại được gợi ra. Với tư thế của kẻ bại trước mặt đối phương, trong một lúc thất chí, Lê Huy ngạo mạn mong được chết thì Bửu Dương thanh thản trả lời:

Bạn chưa chết được đâu. Chết mà chưa nhận ra, chưa thấy hết, chưa thỏa mãn, còn ấm ức… là chết oan đấy! Hết cơ may tìm trong sách vở, ta còn cả hiện thực ngoài kia, tuy phải đớn đau vất vả chút đỉnh nhưng biết đâu cái đống máu lửa ngồn ngộn ấy còn phong phú hơn kho tàng chữ nghĩa. Thích Ca Mâu Ni nói: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật chưa thành. Cách ly giữa hai trạng thái đã và chưa ấy là gì? Là kinh qua hiện thực. Vật quý mà ngài ban tặng cho thế gian là gì? Là trí huệ và phương pháp đi tìm chân lý. Do đó, đạo của ngài là hai bờ cách trở một dòng mê muội. Tôi biết bạn là mẫu người tri hành hợp nhất, một chủng tử quý hiếm, tại sao không đáo bỉ ngạn để thoả mãn cơn khát?

Với định kiến người thẩm vấn đang giăng một cái bẫy qua khoé nhìn được đánh giá là thông minh nhưng thâm hiểm, Lê Huy cất tiếng như ngầm bắt bí và thách thức đối phương:

Muốn làm được như thế phải bứt phá, muốn bứt phá phải có tự do.

Vẫn với phong thái trầm tĩnh, quyết đoán như đã suy nghĩ chín chắn, Bủu Dương tiếp lời:

Bạn sẽ được đi về phía mà bạn tin có hoa chân lý với hương sắc bốn mùa. Bạn sẽ được đi về phía mà bạn tin thiên đàng đang mở ra trên trái đất và hạnh phúc toàn nhân loại vừa ló dạng. Bạn sẽ được đi về phía mà bạn tin sẽ thay trời đổi đất, sắp xếp giang sơn, thiết lập thế giới đại đồng, nhất thống giai cấp và xóa bỏ bất công.  (Z.21)

Ngày hôm sau, một cuộc bố trí để che mắt mọi người. Bửu Dương và thuộc cấp đưa Lê Huy lên một con thuyền nhỏ, nói là để đương sự chỉ nơi chôn giấu vũ khí ở một vùng lau lách bên kia bờ sông, ngoại ô thành phố Huế. Rồi xuất kỳ bất ý, người sĩ quan an ninh đã tự mình kín đáo mở đường cho anh đào thoát.

…Bửu Dương bước tới, gí tôi về phía trước bằng mũi súng ru-lô. Đang ở đằng mũi và chịu một lực đẩy, tôi bị con thuyền hẩy lên cầu ván. Người ngoài lầm tưởng đây là một tai nạn khi đò đâm vào bờ do không kịp giảm tốc. Nhưng từ bản thân, tôi không mù mờ tới mức ấy. Ngay tức khắc, có lẽ Bửu Dương đạp mạnh vào mạn, ào một cái, con đò lật nghiêng hất những ai còn lại xuống nước. Đáo bỉ ngạn! Như một ánh chớp lóe sáng trong đầu, mặc cho tấm ván cầu gãy nát dưới chân, tôi phóng chạy. (Z22)

Đáo bỉ ngạn! Ba tiếng ngắn gọn mang trọn cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Thoắt chốc Lê Huy đã thoát qua bên kia sông, một vùng xôi đậu, ban ngày thuộc quyền quốc gia nhưng đêm về trở nên giang sơn của du kích cộng sản. Anh đã tự do, đã ra khỏi cạm bẫy của đối phương để trở về với đồng đội, cho dù vẫn còn gặp nhiều gian nan, vất vả. Để làm gì? Để kiểm nghiệm lại những gì đã kinh qua và những gì là hoa trái, là ước mơ, là ánh sáng đang chờ đợi ở cuối đường hầm.

Trải qua những truân chuyên, nguy hiểm, cuối cùng vẫn nhờ sự bố trí, sắp xếp trước của Bửu Dương, anh được ông bà Phan Ne, một cặp vợ chồng già đồng chí hướng với Lê Huy nhưng cũng là người có nhiều liên hệ sâu xa với Bửu Dương, che chở dưới căn hầm đào sâu trong lòng đất, từng là nơi trú ẩn an toàn của nhiều lớp đảng viên cộng sản. Trong những ngày dài phấp phỏng chờ đợi được cấp trên mở cho ngõ thoát, tiếp tục con đường lý tưởng, nhớ lại những lời mỉa mai của người sĩ quan an ninh đối phương trong lần thẩm vấn cuối, nhiều lần Lê Huy tự hỏi, đâu là hoa chân lý với hương sắc bốn mùa và đâu là thiên đàng mở ra trên trái đất, là thế giới đại đồng, nhất thống giai cấp, xóa bỏ bất công?

Sau khi phát hiện mưu toan vắt chanh bỏ vỏ của cấp trên qua quyết định từ chối không cho anh lên núi, trái lại buộc anh tái xâm nhập Huế với mật lệnh ám sát Bửu Dương, Lê Huy tìm đường trốn vào Sài Gòn. Kể từ đấy, gác bỏ ngoài tai những tiếng reo hò manh động của một số người trẻ Sài Gòn trong những đợt xuống đường chống chế độ Việt Nam Cộng Hòa, Lê Huy, lúc này đã biến thành Lê Huy Phong đang theo học phân khoa Nông Lâm Súc trong hệ thống giáo dục miền Nam, cặm cụi chuyên lo học tập. Thời gian Phong tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp cũng là lúc những người lính tai bèo miền bắc bất ngờ chiếm được miền Nam.

Từ giã Sài Gòn, anh lên Tây Nguyên, chắp vá lại lý lịch mong tìm được một việc làm kiếm sống qua ngày trong các cơ quan công quyền của chế độ mới. Nhưng cái lý lịch mơ hồ ấy chẳng giúp ích gì cho anh trước những cặp mắt soi mói, nghi ngờ, hãnh tiến, cố chấp, đầy tham vọng và độc ác của những nhân vật quyền uy.

Cho đến ngày bất ngờ đoàn tụ với người cha từng thoát ly gia đình đi kháng chiến từ thuở thiếu thời hiện mang quân hàm cấp tướng, Lê Huy Phong bắt đầu đổi đời. Từ thân phận kẻ mang tiếng trí thức, ngoài hiểu biết về luật học lại có bằng kỹ sư nông nghiệp, nhưng ngày ngày lao động đầu tắt mặt tối vẫn không sao lo đủ miếng cơm manh áo cho vợ con, trong sớm chiều anh được cấp trên bố trí vào những vai trò quan trọng và sau chót là tổng giám đốc tổng công ty Tổng Hợp Xuất Nhập Khẩu.

Ở địa vị này, anh có dịp đem kiến thức thu nạp được ở miền Nam trước tháng Tư 1975 áp dụng vào việc xây dựng và phát triển công ty.

Đây cũng là cơ hội để anh nhận ra trình độ kém cỏi, cùn mằn của những cấp lãnh đạo ngoi lên từ những chị du kích, những anh bộ đội răng đen mã tấu trong cải cách ruộng đất thuở nào. Sau nhiều năm trời đói rách, bầm dập trong chiến tranh, khi về thành với tư cách kẻ chiến thắng, họ gục đầu vơ vét để hưởng thụ.

Sau mùa xuân đại thắng, từ rừng xuống từ quê lên từ Bắc vào, rặt một màu xanh mét vì thiếu dinh dưỡng và ủ không biết bao nhiêu mầm bệnh. Tiếp đến mươi lăm năm bao cấp, các đồng chí cắn xé tranh nhau từng dúm hàng mậu dịch quốc doanh, đói khát gầy mòn hơn nữa. Tới hồi đổi mới, nhờ Mỹ và các đồng minh bỏ lệnh cấm vận, kinh tế phát triển đôi chút, chúng hóa giá chung chia chiến lợi phẩm, đua nhau cắt xén các quỹ nhà nước, bán núi, bán rừng, bán biển, xây nhà, tậu xe, chè chén, đắm say dục lạc
…Quá nửa đời hoang phí xuân xanh theo những khẩu hiệu vu vơ hão huyền, giờ phải tìm cách gỡ gạc cứu vãn, hối hả hưởng thụ bù đắp. Tần Thủy Hoàng sau bao năm chinh chiến gồm thâu lục quốc nuôi mộng bất tử, ta là đoàn quân bách chiến bách thắng, từng hạ gục hai đế quốc to lớn nhất nhì thế giới, tại sao không? Từ đó, chúng ước mơ linh đan thần dược, kéo dài những ngày nhất nguyên đơn đảng độc quyền đặc lợi, tích cóp tận hưởng giàu sang bằng mọi giá nên chúng hì hục nạp vào cơ thể bao thứ phao đồn bổ dưỡng – nhân sâm, lộc nhung, hổ cao, dao trăn, dái dê, nầm khỉ… và cả thai nhau của thú và người. Thừa mứa và hoảng loạn hóa thành ung độc, ngoài những ca đột tử của một số anh hùng sa đà chiếu rượu, phong trào còn ngẫu sinh biết bao bệnh lạ...”. (A.17)

Dưới đây là một đoạn văn tiêu biểu về những thú chơi điếm đàng, buông thả của các ông lớn đang cầm cân nảy mực dưới chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

Trên diện tích gò đồi chừng mười ngàn mét vuông, một biệt thự xây cất theo mô-đen thời đế chế Napoléon Đệ Tam, phối hợp với kiểu thức cung đình Huế, trụ tròn có đế hoa sen, mái lợp ngói lưu ly, tiền sảnh thông thoáng và những lối đi rộng trong vườn rợp bóng cây xanh. Ở đó, tôi và một số tay chơi đã chi khá đậm cho những cuộc hành lạc vô tiền khoáng hậu.
Chủ xị của chúng tôi thường là thủ trưởng Hai Đa. Ngoài chuyên môn của một cán bộ già giặn quản lý ngân sách tài chánh, ông ta còn là người giàu sáng kiến chè chén sát phạt, rất khỏe tửu lượng, rất dai phong tình và cực kỳ lươn lẹo trong ứng xử. Đàn em chúng tôi thường tranh thủ đặc ân và tuân lệnh đàn đúm răm rắp.
– Này, các chú! Úp mặt vào tường, co một chân, khuỳnh một tay, lưng rướn thẳng, nốc bia lạnh bằng chai một hơi. Đó là thiền sư quán bích nhập định thăng đường nhất thủ cử đỉnh, rất nhẹ nhàng nhưng có đứa chưa quen tốc độ sặc trào bọt mũi rát buốt tận óc não.
– Này, các chú! Xổ cả chục két vào cái chậu vàng miệng rộng đằng kia, tất cả dãn đều tứ phía, trườn mình như rắn hổ mang mà tới, gióng đầu như hươu cao cổ mà tu. Đó là thiên long giáng địa ẩm thủy dao trì, rất lao nhọc nhưng cực kỳ khoái, chỉ khổ mấy tay bụng thúng.
– Này, các chú! Chốt chặt các cửa, lột bỏ áo xống hết thảy các em và cả các anh, tắm bằng bồ đào mỹ tửu và hứng nước cam lồ bằng lưỡi tại nhũ hoa đầu tiên nữ. Đó là trướng nội thiên nhai giác hải Chử Đồng Tử tiếu ngạo Tiên Dung, rất tình tứ, rất mê ly, rất bội cảm nhưng lả say ngoặt ngoẽo lúc nào chẳng hay. (A.16)

Hai Đa (tức Phí Đu) mới chỉ ở cương vị phó chủ tịch UBND tỉnh mà đã quyền uy với lối sống ăn chơi sa đọa, buông thả giàn trời đến thế, người đọc sẽ không ngạc nhiên khi theo chân Lê Huy Phong bước vào chốn thâm cung của ngài chủ tịch Phạm Tư đúng thời điểm ông ta nằm chết trên giường khi bị “thượng mã phong”.

“…Tôi lượn quanh, dọ dẫm, săm soi… tôi bung tất cả… các ngăn kéo và cả tủ lạnh. Bao nhiêu sơn hào hải vị phơi ra. Trong đó nổi bật hơn cả là các loại rượu bổ – đa phần chứa trong thẩu thủy tinh to và đang lơ lửng vật ngâm… Cả nhãn hiệu và cách hướng dẫn xử dụng đều in bằng thứ văn tự loằng ngoằng như giun bò. Mù tịt nhưng qua tấm hình gợi cảm tục tĩu ở dưới thương hiệu tôi ngờ ngợ một loại biệt dược cương dương Đông Nam Á na ná như thần dược Viagra của Âu Mỹ… Tôi nhìn xuống mặt bàn… một cái hũ thủy tinh màu xanh miệng rộng, bên trong lợn cợn những rẻo thịt ngâm, bên ngoài dán nhãn hiệu chữ Tàu màu đỏ sậm, kèm theo mấy dòng tiếng Anh nhỏ li ti. Ingredients… Lot no… Expired… Directions… Đã từng nghe, nhưng giờ mới thấy, đó là nhau thai ư? Tôi áp cận hơn nữa. Foetus… Họ đã ăn uống lấy sức và bồi bổ khá kỹ trước khi lên giường. Hệ quả là gì? Mất cân đối! Thuốc pháo nhồi nhét quá liều lượng, vỏ đạn nổ banh trước khi đầu đạn thoát khỏi nòng?… Chết là phải, không chết mới lạ! (Z.25)

Và cái chết đê nhục của chủ tịch UBND Phạm Tư được guồng máy đảng và nhà nước với sự hỗ trợ của truyền thông Xã Hội Chủ Nghĩa phù phép biến thành cái chết của một người hùng. Mấy ngày sau khi phát hiện Phạm Tư bị thượng mã phong, qua bản tin Thông Tấn Xã và những trang Cáo Phó trên báo, trên mạng, người ta đọc được những dòng sau:

Do nhiệm vụ nặng nề chồng chất, do phải liên tục lao động căng thẳng ngoài giờ, đồng chí chủ tịch Phạm Tư kính yêu của chúng ta trong lúc nghiên cứu nghị quyết trung ương và tập trung đề ra biện pháp triển khai thực thi tại địa bàn huyện thị, đã phải đột qụy. ( A.46)

Để bảo vệ cho những đặc quyền đặc lợi của những nhân vật quyền uy coi dân như cỏ rác, coi tài sản quốc gia như của riêng mình, theo trình thuật của Vũ Biện Điền xuyên qua miệng những nhân vật của ông, chế độ được xây dựng trên sáu loại nhà nước.

…đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ, biến hóa như một bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ. Với bản tính siêu ký sinh, nhà nước Đảng từ buổi sơ khai đã khín vô số của tiền và máu xương nhân dân, nhưng chưa bao giờ thừa nhận ăn ké. Xuất thân hèn hạ, tiên thiên kém phẩm chất, nó không làm được một cái gì, nhưng tiêu xài vô tội vạ, đôi khi còn cắt xén tổ quốc làm vật đổi chác khí tài, hoặc làm quà tặng thượng quốc để yên bề chư hầu, tọa hưởng vinh thân phì gia. Nó là đầu mối mọi nhũng nhiễu, tai họa, tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay.
Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền. Nó vâng lệnh đảng như một đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản từ nhân dân, sau khi trích nộp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở. Tuy chức năng hành chánh, nhà nước này được đảng cài đặt một số công cụ lập pháp và tư pháp nằm vùng, nên hóa thành lưỡng tính như đòn xóc hai đầu, đa năng như dao bầu vừa chặt vừa chém vừa đâm. Về quyền lợi cá nhân, một tay gác cổng cũng đủ bùa phép nặn túi nhân dân, nhưng về trách nhiệm tập thể, đến như thủ tướng, bộ trưởng và các cấp chủ tịch cũng mặc thây thiên hạ.
Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy vị trí, ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cữu. Đến nay, nhân dân đã rõ mặt là một lũ vừa ăn cướp vừa la làng, vừa phóng uế vừa hạch đàn mất vệ sinh. Trong nước, nhà nước Quốc Hội cấp nào cũng là trò hề, nhưng với quốc tế nó nhấp nhem biển lận tam quyền phân lập, phát sáng dân chủ, tự do giả hiệu. Hàng năm, nhà nước này cũng mở cửa đón rước một số dân biểu các nước có truyền thống đích thực dân chủ. Và buồn cười làm sao, hai bên uốn éo hứa hẹn trao đổi kinh nghiệm lập pháp!
Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi nhà nước Chịu Trận, vì là bung xung hứng đòn, phản đòn, đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép ba lên bốn xuống mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng mẫu đặt hàng của đảng. Đây là thứ nhà nước có đặc tính chợ phiên ở vùng cao Tây Bắc, tới hồi vãn cuộc rất ảm đạm và bẽ bàng, thường dành chỗ cho những cán bộ yếu thế – thương phế mà chưa đến tuổi hưu, đại diện một số đoàn thể do đảng cử người mai danh lãnh đạo, đại diện một số phe phái tôn giáo quốc doanh cò mồi. Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước 1954 và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975, hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!
Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang vì ý chí quyết thắng và bản chất tàn bạo, bao giờ cũng hiên ngang kiêu binh hãn mã. Nhà nước này làm bằng sức người và của nả nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản, những vùng chúng thích nhất là vành đai phi trường, hành lang công viên và bến bãi xe tàu – như các đội Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc thuở 55–56, phân chia quả thực cho xâu chuỗi ngay sau cuộc đấu tố địa chủ. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật gồm các tổng cục chuyên ngành. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có tư lệnh quân khu, hội đồng cơ mật gồm các tỉnh đội trưởng. Nhà nước này hội đủ tính phong kiến trung cổ La Mã, sĩ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ bổng lộc hậu hĩ, hạ sĩ quan và lính gồm con em nhân dân gọi là chiến sĩ chỉ hưởng sinh hoạt phí đủ cầm hơi tới ngày phục viên.
Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố, nghĩa là vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không chỉ nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa, chỉ dưới thời phát xít Đức–Ý–Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát. (A33)

Trước một cơ chế quyền lực quy mô, chặt chẽ nhằm mục tiêu tối hậu là phục vụ những công thần chế độ và những đồ tử đồ tôn của họ, dù che đậy đến mấy cũng không tránh khỏi những mầm mống bất mãn nảy sinh, Khởi đầu là tuyệt đại đa số thành phần từng bị vắt kiệt cả tinh thần lẫn thể lực suốt mấy thập niên dài kháng chiến. Trong một dịp trở về thăm lại cố đô Huế, Lê Huy Phong có cơ hội gặp gỡ những đồng đội từng một thời cùng anh bất chấp hiểm nguy, răm rắp nghe lệnh những thủ trưởng trong bưng, liều thân mưu toan những chuyện vá trời lấp biển. Lúc này, cũng như Lê Huy Phong, tất cả đã bị chế độ gạt ra bên lề những thành quả của cái gọi là chiến thắng mùa Xuân!

Từ tâm trạng hoảng loạn về kinh nghiệm buồn bã của bản thân, anh ngậm ngùi đau đớn chia sớt nỗi uất nghẹn của những người cùng mình một thời vào sinh ra tử, ngay giữa cuộc họp bạn ở nhà vợ chồng kỹ sư Trần Kỳ Hải và bác sĩ Xuân Hoa.

– Ôi Hồ Chí Minh! Bất chợt một người gào to.
Tôi không xác định được kẻ vừa uất ức dằn tiếng, ban đầu thoáng nghe rất lạc lõng.
– Đừng có cào bậy! Ông ta đã ngỏm trước đó đến sáu năm! Một người khác hãnh hách nạt nộ.
– Đối với lịch sử, sáu năm chỉ là ánh chớp!
Thêm người không đồng tình. Thì ra đề tài vẫn nóng hổi. Tôi thầm nghĩ. Chính xác là ngày 2 tháng 9 năm 1969. Tôi chợt nhớ. Đúng hôm tôi ra Huế ghi danh đại học Luật, đêm đầu tiên ở nhà trọ vừa nghe đài BBC đưa tin vừa nghe đại bác ầm ào ngang qua thành phố.
 – Quan trọng là cái gốc, ngọn kể làm gì! Quan trọng là người trồng, kẻ hái trái kể làm gì! Nên chi ông ta không tránh khỏi cái tội đầu mối của mọi tai họa cho cả dân tộc, ác thay cái bóng ma ấy còn di hại lâu dài!
Người vừa dằn tiếng kết thúc cuộc tranh cãi do mình khơi gợi.
 – Tìm đường cứu nước mà thế a!
Vẫn có người chưa chịu dừng lại.
– Cái tròng kép Nga-Hoa hiểm độc hơn cả phong kiến phương Bắc, tàn ác hơn cả thực dân phương Tây!
Một người khác phụ họa.
– Ông ta còn mượn màu tuyên ngôn độc lập của Mỹ để tô vẽ! Người rót rượu cúng lúc nãy bồi thêm.
– Ngón nghề bịp bợm nào mà chả thế, mặc cha chúng nó, uống thôi! Ai đó lớn giọng hối thúc.
Chúng tôi nâng chén. Đến lúc này, mỗi người một tiếng, tôi không còn phân biệt được nguồn phát.
– Chỉ tội ông cha mình ngu dại kéo theo con cháu!“.

Cuộc đối thoại tiếp tục với nhiều đề tài đột xuất.

– Giai cấp là bè phái. Đã bè phái thì bất công.
– Đã bất công là đạo tặc…
– … Lê Duẩn rất nghiêm chỉnh tiến cống thượng quốc. Này nhá, Nga Cam Ranh thì Tàu Hoàng Sa. Nhưng Tàu chê ít, muốn cả miền Nam Việt Nam
– Đời nào đảng ta nói thật!
Người đạo mạo nhất đám lên tiếng rồi căng mắt lơ láo nhìn khắp mọi người.
– Không lẽ Thiệu đúng…?
– Ngày mai có ai muốn theo em xuống đường biểu dương lực lượng không? Bất ngờ cô gái khóc lúc nãy vừa dậm mắt vừa lên tiếng khiêu khích.
– Xuống đường là chuyện bức xúc nhất thời, tức nước vỡ bờ thôi!  Một người đang mồi thuốc đáp trả.
– Xuống đường là thể hiện bất bình một cách khiêm tốn nhất! Một người khác bổ sung.
– Xuống đường chỉ có tác dụng với kẻ cầm quyền có văn hóa, biết thế nào là công bằng, thế nào là dân chủ, là tự do.
Một người khác chán ngán không nói hết ý.
– Rứa là thừa nhận bọn Mỹ-Ngụy có văn hóa, biết thế nào là công bằng, dân chủ, tự do hả?
Cô gái cố ý đưa đẩy.
Cuộc hỏi đáp theo đó diễn ra mạch lạc, giòn giã.
 – Đương nhiên!
– Như rứa là thừa nhận Cách Mạng Chuyên Chính Vô Sản vô văn hóa a?
 – Đương nhiên…
– …Không có cuộc chiến nào tủi nhục bằng cuộc chiến chung một ông cha! Không có cuộc chiến nào tổn thất bằng cuộc chiến chung một mái nhà! Không có cuộc chiến nào đau nhức bằng cuộc chiến giữa anh em ta!
Xuân Hoa phát biểu, như đọc tuyên ngôn.
– Không có bài ca nào xấu xa bằng bài tụng ca cuộc chiến ấy.  (Z.32)

Cũng trong lần về thăm Huế ấy, Lê Huy Phong gặp lại Diễm Thúy, em gái Bửu Dương lúc cô đã quy y cửa Phật, lấy kinh kệ làm vui, sau khi mẹ và anh qua đời. Tiếp theo giây phút hội ngộ bất ngờ đầy xúc động, với những kỷ niệm khó quên còn đầy ắp trong tâm tưởng, Diễm Thúy ngập ngừng pha chút e thẹn của thời xuân sắc rồi âm thầm lên tiếng:

– Sau ngày anh Dương và mẹ mất, dẫu biết hão huyền nhưng có một dạo em mong những người như anh sống sót trở về… – Cô ta ngập ngừng.
– Để làm gì? Tôi hỏi.
– Bây giờ mới đúng là lúc xuống đường đấy. Kêu đòi cơm áo, dân chủ, tự do cho nhân dân. (Z34)

Từ câu hỏi có ai xuống đường để cô theo của người nữ cán bộ hoạt động nội thành Huế ngày nào trong dịp đón tiếp người chỉ huy kế hoạch đánh sập cầu Gia Hội bất thành năm xưa tới tâm trạng mong chờ người sinh viên xứ Quảng trở về nối tiếp cuộc đấu tranh giành lại tư do, dân chủ và cơm áo cho nhân dân của người thiếu nữ đất Thần Kinh nay đang khoác áo tu hành, tác giả Phiên Bản Tình Yêu đã cực tả tâm trạng chán ngán của người dân đối với bộ máy cầm quyền đang trở thành một đội ngũ ăn cướp được diễn tả qua câu “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan“.

Dịp tìm về thăm ông bà Phan Ne, nhìn lại người nữ du kích đã trao thân gửi phận cho mình dưới hầm sâu, bồi hồi ôm đứa con trai, kết quả của mối tình chớp nhoáng năm xưa, nay đã 10 tuổi, Lê Huy Phong được nghe Mơ kể lại nỗi xót xa và cơn phẫn nộ của cha nàng khi hay tin trên đường bỏ nước đi tìm tự do, vợ chồng Bửu Dương bị bắn chết trên biển:

– Ông điên dại chửi bới…
Chính quyền các xã cha ngang qua đòi gô cổ, ông ném vào mặt chúng thẻ đảng viên và các thứ huân huy chương. Một tuần đi không về không, lại bức bối, cha đổ bệnh. Tới hồi khỏi, ông lên phủ giúp bà cụ làm chay đàn cho vợ chồng anh Bửu Dương. Về lại làng, tháng sau cha nhất quyết bắt em viết giúp đơn từ chức phó chủ tịch xã. Mạ can ngăn, ông nói thà ăn cứt một mình mà làm người còn hơn ăn cơm chung với tụi nó mà làm chó! (Z.35)

Không chỉ riêng thành phần cựu cán bộ thất sủng và bị đào thải sau ngày thống nhất phải kéo dài kiếp sống lầm than đói khổ mà ngay cả người như nữ du kích Phan Thị Mơ đang sống cuộc đời sang cả dưới bóng tổng giám đốc tổng công ty Tổng Hợp Xuất Nhập Khẩu với nhà cao cửa rộng, tiền rừng bạc biển cũng manh nha thái độ phản tỉnh, cho dù nó là bước đầu của một tư tưởng khá phổ biến trong hàng cán bộ cao cấp ờ Sài Gòn, Hà Nội lúc này. Đó là tư tưởng tìm đường hạ cánh an toàn.

Sau chuyến viếng thăm Hà Nội, có dịp nắm bắt dân tình, Phan Thị Mơ đã dốc hết cảm nghĩ:

– Anh biết không, ở Hà Nội loa đài luồn sâu hang cùng ngõ hẻm ra rả chửi Mỹ suốt đêm liền ngày, nhưng dân ngồi đâu lại cạnh khóe, móc máy, nguyền rủa đảng Cộng Sản liên tu bất tận. Họ là thành phần cư dân phía Bắc tổ quốc đầu tiên nhận ra Hồ Chí Minh và đồng bọn lợi dụng chiến tranh vệ quốc để áp đặt chuyên chính lên đất Việt Nam ta như Lénine phù phép ở Nga, Staline ở Đông Âu, Mao Trạch Đông ở Trung Hoa, Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn. Khi hết chiến tranh, biết thế nào nhân dân cũng vùng lên vạch mặt độc tài, nên sau 54, vừa thu được nửa giang sơn, Hồ Chí Minh gấp rút phát động khủng bố ở nông thôn bằng chiêu bài đấu tố địa chủ phú nông. Và, phát động đàn áp trí thức ở thành thị bằng học tập tẩy não văn nghệ sĩ, hình thành đội ngũ bồi bút như Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên… bằng bổng lộc ban phát hậu hĩ. Tới khi phát động khủng bố đàn áp vượt đỉnh điểm, Hồ Chí Minh biết nếu không kịp dừng lại nhân dân sẽ quyết tử vùng lên, liền đổ vạ cho Trường Chinh buộc phải làm vật tế thần, rút Lê Duẩn từ miền Nam ra thay thế.
Anh biết không, giờ này dân Hà Nội thấy rõ mồn một bộ mặt thật của bè lũ chuyên chính. Cũng như Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn, ông Hồ là tay sai mạt hạng của Staline, ăn lương tháng của điện Kremlin, thi hành nhiệm vụ của quốc tế Cộng Sản, chẳng có chút nào vì nước vì dân.
Nhờ thủ đoạn, ông ta chỉ giỏi đóng kịch và khéo lừa bịp. Đằng sau bộ mặt giả nhân giả nghĩa là một con người tham lam, tàn bạo, dâm loạn. Ngoài chức năng đề ra sách lược, bộ Chính Trị còn là một lũ ma cô cung phụng gái cho ông ta rất bài bản. Anh có tin Hồ Chí Minh rất thích thứ còn trinh, đặc biệt gái miền Nam. Thế là Nguyễn Chí Thanh phải tuyển cung nữ từ trong ấy đưa ra.
Đến khi chán ruộng đồng sông nước phù sa, ông quay về sơn nữ, Bộ Chính Trị phải cho người mò đến tít tận Cao Bằng, Lạng Sơn. Nhưng muốn được ngợi ca như thánh sống, phải xóa đi dấu vết thế tục, chơi xong ông cho bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn  bòn xái rồi mật lệnh thủ tiêu phi tang. Anh không tin hả? Bộ trưởng phủ chủ tịch Vũ Đình Huỳnh đã chết, nhưng Vũ Thư Hiên, con trai ông ta còn sống nhăn ở Pháp, đã can đảm lên tiếng.
Nhằm thao túng quyền hành, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ bày ra cái gọi là Ban Bảo Vệ Sức Khỏe Trung Ương với chiêu bài bồi dưỡng thể lực, ngăn chận bệnh tật, tăng cường tuổi thọ cho lãnh đạo, kỳ thực đưa gái đến phục vụ tận nhà các khai quốc công thần xã hội chủ nghĩa như Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng… Ăn xôi chùa ngọng miệng, các cụ phó mặc cho gian thần lộng hành, mãi quốc cầu vinh và đẩy mạnh chiến tranh Nam-Bắc! Năm 1958, Mao Trạch Đông cho công bố bản đồ lãnh hải Trung Quốc, vơ luôn cả Hoàng Sa và Trường Sa  của ta vào, Hồ Chí Minh và toàn bộ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam họp bàn rồi nhất trí, giao cho thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm thừa nhận. Đầu năm 74, Trung Quốc đánh bại hải quân Việt Nam Cộng Hòa, chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa, đích thân Phạm Văn Đồng còn đánh điện chúc mừng!
Cháy nhà mới ra mặt chuột, bè lũ Cộng Sản chỉ biết có đảng thôi, coi non sông tổ tiên để lại như chiến lợi phẩm bỏ túi, tiêu xài tùy tiện vô tội vạ. Trắng trợn cống nạp thượng quốc kiểu đó, xưa có cha con Mạc Đăng Dung, nay có Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng Sản Việt Nam mà thôi! Anh biết không, thì ra Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là đệ tử trung thành của trùm khủng bố quốc tế Borodine lúc ở Trung Hoa. Về nước, hai ông bày trò vu vạ Việt gian chỉ thị cho du kích thôn xã thực hiện, tàn sát bất kỳ ai bất đồng chính kiến.
Anh biết không, dân Hà Nội căm ghét Lê Duẩn và Lê Đức Thọ tận xương tủy. Hai ông này đã bần cùng hóa nhân dân, khủng bố trấn áp đối lập, huyễn hoặc căm thù giai cấp để tận dụng xương máu thanh niên, cao rao hứa hẹn mai sau sẽ xây dựng một Việt Nam dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư sản. Ba hoa khoác lác tấc lưỡi thấu trời, nhưng Mỹ cút Ngụy nhào rồi dân vẫn khố rách áo ôm, sống đời nô lệ. Anh biết không, té ra Trường Chinh chỉ giỏi đạo văn và già mồm ngụy biện, cuốn sách nói về văn hoá văn nghệ của ông ta là sao chép nguyên xi của Mao Trạch Đông…“. (A40)

Phát hiện sau chuyến thăm dân cho biết sự tình ở Hà Nội về thái độ và tâm trạng của người dân thủ đô đối với đảng và nhà nước CSVN, kể cả “Bác Hồ kính yêu” thật ra không lạ với Phan Thị Mơ. Nó chỉ thêm một bằng chứng đóng ấn cho những gì mà người nữ du kích này đã cảm nghiệm và kinh qua mấy chục năm trước. Sau nhiều lần bí mật lên núi trình bày hoàn cảnh của Lê Huy, ông Phan Ne bực bội ra về khi thấy rõ chủ trương đem con bỏ chợ của thượng cấp qua quyết định buộc anh cùng con gái ông tái xâm nhập cố đô Huế với một sứ mạng vừa bất nhân vừa nguy hiểm. Ôm ấp niềm đau và mối hận trong lòng, ông thu xếp cho Lê Huy lên đường vội vã như một cuộc trốn chạy và dĩ nhiên điểm đến không phải là Huế. Trong hầm tối, nhớ lại thái độ bất bình thường của ông Phan Ne, Lê Huy gạn hỏi Phan Thị Mơ:

– Em còn úp mở được sao? Nói đi!
Tôi níu cô ta lại. Bốn mắt trân trối nhìn nhau.
 – Ám sát Bửu Dương!
Mơ hút hớt rót vào tai tôi, run rẩy, dằn tay lên ngực.
Nghe rõ nhưng tôi không tin.
– Thật không? Tôi hỏi.
– Lãnh đạo yêu cầu em đi cùng anh. Họ nói chỉ có anh và em mới đủ tư cách đột nhập phủ đệ ấy và tiếp cận được Bửu Dương. Nhất cử lưỡng tiện, đó cũng là cách kiểm chứng có phải anh là người của đối phương gởi đi. Cha phản đối nhưng cấp ủy đã thông qua kế hoạch, thế nào lãnh đạo cũng gọi ông lần nữa…
Mơ ngồi xuống một đầu chõng, ôm mặt.
Như thoát khỏi cơn mê, tôi vơ vội các thứ.
– Chúng ta lên thôi! Tôi giục.
Mơ ngẩng đầu, ngu ngơ nhìn quanh. Rồi như chợt nhận ra điều gì, cô ta chớp khẩu AK, đứng bật dậy.
– Em mang thứ ấy theo làm gì? Tôi ngăn lại.
– Giờ phút này, đứa nào đụng tới anh, em sẽ nổ thẳng tay! Mơ nói.
 – Khỏi lo, quả chanh còn tí nước, người ta đang hy vọng, anh vẫn bình an cho em xem! Tôi cười.
– Anh là Cộng Sản mà chẳng biết gì về Việt Cộng! Vớ vẩn nghiền ngẫm ba cái lăng nhăng bên Tây, chẳng hiểu mô tê bên Đông! Ác thì cùng một giuộc nhưng Nga Cộng không thâm bằng Tàu Cộng, Tàu Cộng không hiểm bằng Việt Cộng. Đang trong tầm ngắm mà anh chẳng hay!
Mơ gượng cười, nước mắt giàn giụa. (Z.28)

Nhờ sự lanh lợi và nhạy bén trời cho mà sau này nương vào địa vị của chồng, Phan Thị Mơ đã bám theo thời thế xử dụng chính cung cách lắt léo, gian xảo, lọc lừa của những thủ trưởng một thời của cô để ngoi lên. Cũng nhờ trí thông minh, lòng quả cảm và ý chí sắt đá sẵn sàng lao về phía trước, một ngày Phan Thị Mơ dứt áo giã từ quá khứ lên đường qua Hoa Kỳ lập nghiệp, tạm rời xa người chồng mà cô thực lòng yêu thương, quý mến, dù mới đó đã phát hiện mồi tình éo le ngang trái của anh. Về phần Lê Huy Phong, như một kẻ mộng du tiếp tục phân thân. Một bên cố gắng hoàn tất những bản hợp đồng mà cả anh cũng như phe liên hệ đều biết là hàng giả, với ước vọng lo tròn một thứ trách nhiệm mơ hồ khơi lên từ mối tình xưa nghĩa cũ. Một đàng như kẻ đi trên mây sắm tiếp vai trò nhân chứng trong suốt nửa đời kể từ khi được chính người của đối phương mở đường cho đáo bỉ ngạn.

oOo

Trở về với nhan sách Phiên Bản Tình Yêu, dù đã khẳng định tình yêu chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương mờ mịt, nó vẫn là một thực thể, một hiện hữu không dễ bỏ qua.

Bàn về nghệ thuật dựng chuyện, dẫn chuyện ly kỳ, uyên áo của tác giả Vũ Biện Điền, người đọc không thể không nói tới cuộc tình xuyên thế hệ, phi-không-thời-gian của nhân vật chính với Cẩm Khuê cuối thập niên 60 và với con gái nàng 15, 20 năm sau đó. Cuộc gặp gỡ chớp nhoáng như mơ ở nhà sách Ưng Hạ không ngờ đã trở thành đầu giây mối nhợ cho một chuyện tình hi hữu, dẫn dắt người đọc vào mê hồn trận với những đột biến thật bất ngờ.

Vì tuổi trẻ bồng bột, vì bị huyễn hoặc bởi cái ma lực của chủ nghĩa Marx, dù rất mực yêu thương Cẩm Khuê, Lê Huy đã lao vào con đường độc đạo trong cuộc tranh luận bất cân xứng với thân phụ nàng. Và như thế anh hiểu đã tự đặt mình vào thế đối kháng, đã ký giấy đoạn giao với gia đình người yêu. Sau đêm ô nhục trên sông Hương, Lê Huy khởi đầu một cuộc trốn chạy triền miên.

Không phải chỉ trốn chạy cuộc ruồng bố của guống máy an ninh miền Nam. Anh trốn chạy sự thật. Trốn chạy chính mình. Trốn chạy một cuộc tình mà anh cảm nhận sẽ để lại trong anh nhiều đau đớn.

Truyền thống gia đình và tình yêu thương bao la không đo đếm của mẹ đã góp phần tác tạo nên một Lê Huy và Lê Huy Phong sau này, một con người giầu tinh thần bao dung, cùng với tình thương và lòng trắc ẩn. Cho dù phải sống giữa một bày lang sói trong một bối cảnh mà tâm địa độc ác, tàn nhẫn của đám người chung quanh đã trở thành quán tính, trong chỗ thẳm sâu của tâm hồn, Lê Huy Phong vẫn le lói, ẩn giấu một thứ tình cảm mơ hồ nhưng mãnh liệt, khó giải thích.

Phải chăng đấy là lý do khiến anh gồng mình chống lại những tay gạo cội trong đảng như Mã Tho để bênh vực Đỗ Minh; đã cư xử đầy tình người với Đào Thị Liên, một người bạn tình qua đêm trên sông Hương và sau này trở thành người giúp việc trong nhà, kể cả khi y thị có hành vi phản bội, tiếp tay kẻ thù chống lại anh; cũng như với hạng gái ăn sương như Bích Thảo.

Điều này phải chăng cũng lý giải một sự kiện nghịch thường khi anh lao tâm khổ trí ra sức cứu giúp Tường Vi ngay từ phút đầu cô bé được Bích Thảo dụ dỗ dấn bước vào chốn yên hoa mà người khách đầu tiên không ai khác hơn là chính anh.

Riêng trường hợp Tường Vi, bên cạnh lòng trắc ẩn tự nhiên nơi Lê Huy Phong, tác giả còn gửi vào tâm tư anh nỗi ám ảnh không rời từ một hình bóng cũ – hình bóng Cẩm Khuê, người yêu đầu đời và cũng là người anh đã cắn răng bóc trần tấm thân liễu yếu, biến nàng thành một cô gái điếm trên sông Hương thuở nào chỉ với mục tiêu cúc cung phục vụ cho một lý tưởng viển vông.

Và nó đã để lại trong anh một vết thương khó thể chữa lành. Nó bám riết, cào xé trong tim anh từng phút từng giây. Nó tạo nên cái tâm trạng kinh mang, sợ hãi khi anh mơ hồ phát hiện khuôn mặt sương tuyết, mờ ảo của người thiếu phụ mà anh mang cảm giác vừa lạ lẫm vừa thân quen nơi phòng tắm vào cái đêm lần đầu tiên anh đưa Tường Vi về nhà.

Cho đến ngày qua tờ lý lịch của Tường Vi, Lê Huy Phong bàng hoàng khám phá cô bé là con của Cẩm Khuê và Bửu Dương và người đàn bà đang bảo hộ cô bé không ai khác là Cẩm Bình, chị ruột Cẩm Khuê. Bỗng dưng anh cảm thấy hoang mang thật sư. Cùng một lúc anh cũng nhận ra việc cưu mang, giúp đỡ Tường Vi là một bổn phận thiêng liêng bó buộc anh phải hoàn thành, bất chấp khó khăn, hệ lụy có thể xảy ra.

Sau nhiều năm tháng chống chọi với bệnh tật, Cẩm Bình, dì Tường Vi qua đời vì đột quỵ. Một buổi tối sau tang lễ, Lê Huy Phong hỏi nàng.

– Trong cơn đột qụy, Cẩm Bình có kịp nói gì với em không? Nhớ tới cành tường vi trong mơ, tôi hỏi.
– Không! Nhưng trước đó, từ chùa Phụng Lâm, không hiểu vì sao dì ấy gọi vào bảo dì rất mừng cháu đã tự lực cánh sinh, rồi cảnh báo đừng buồn phiền những bất hạnh đã qua, hãy vui mà chờ đón những gì sắp tới. Em hỏi thật không, dì bảo khi yêu người mà người không yêu, hãy xét lại lòng mình! Cô bé nói.
– Ý bà ấy đã rõ, còn em? Tôi hỏi.
– Rồi ạ, đã nhất quyết và cả ngàn lần! Cô bé nói.
– Tại sao không phải người khác? Tôi phân vân.
– Em không biết!  Cô bé nói.
– Em không biết thì ai biết? Tôi thắc mắc.
– Chính xác thì không nói được, nhưng là thế này, chỉ có anh là người biết em dẫu đã trần thân đổi lấy miếng ăn nhưng vẫn trinh trắng, và chỉ có em hội đủ tư cách thay thế cho một nguyên bản tình yêu! Cô bé nói.
Nghe đến đó, tôi cúi xuống đôi môi hé mở.
Cũng đắm đuối, cũng thiết tha như năm nào, nhưng giờ tôi không còn cảm giác ôm hôn một hồn ma.

Đó là những dòng kết thúc một chuyện tình xuyên thế hệ, vượt-không-thời-gian. Một chuyện tình thê thiết, buồn bã lúc khởi đầu nhưng khi màn buông xuống lại mở ra một bình minh đầy hứa hẹn.

Chuyện tình yêu như thế, còn chuyện đời thường thì sao?  Người đọc bâng khuâng tự hỏi.

Không hiểu khi bỏ ra sáu năm trời với hơn hai ngàn ngày đêm vật vã xây dựng tác phẩm, giữa tình yêu và chuyện quê hương đất nước, giữa nhân vật trong truyện và những con người thực đã một thời mê muội lầm đường, tác già Vũ Biện Điền muốn gửi gấm điều gì cho những người đọc ông – đặc biệt là những công dân miền Nam đã bị bứt ra khỏi vùng trời quê hương sau tháng Tư 1975?

Trần Phong Vũ (Nam California, Hoa Kỳ, một ngày cuối tháng 8 năm 2012)

Share this post