Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (13)

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (13)

SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

Gửi các bạn tôi
sống, chết ở Sài Gòn...

* Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
HOÀNG HẢI THỦY

(Tiếp theo kỳ trước)

Bước một mình qua ngưỡng cửa năm
Nhân gian tịch tịch tiếng mưa thầm
Chợt đâu vẳng tiếng gà lai kiếp
Báo vẫn đêm dầy ở cõi âm.

(Trừ Tịch – Mai Thảo)
Những ngày cuối năm tuyết trắng đến trên Rừng Phong, tôi tìm trong thơ Thanh Nam, Duyên Anh, Mai Thảo những ý thơ về Tết, về xuân. Đến những ngày này khi bánh xe lãng tử đã đưa tôi đến Virginia Đất Tình Nhân được bốn mùa lá rụng tôi mới có được đủ ba tập thơ của ba người đã khuất: Thanh Nam, Duyên Anh, Mai Thảo.
Hàn Dũ viết “Vật bất đắc kỳ bình tắc minh”.
Nhiều người viết tiểu thuyết thời trẻ có làm thơ nhưng rồi gần như tất cả đều bỏ làm thơ khi họ qua số tuổi hai mươi, khi họ bước hẳn vào nghề viết truyện, làm báo. Một trong những nguyên nhân làm cho tuyệt đại đa số những người viết truyện từng làm thơ thời họ chưa hai mươi tuổi và qua tuổi đó không làm thơ nữa là vì có tâm sự gì họ đều có thể diễn đạt trong những truyện họ viết. Nếu có gì bất bình họ kêu lên trong truyện, họ không cần kêu lên bằng Thơ. Và vì họ không phải là thi sĩ nên qua tuổi hai mươi họ không làm thơ nữa.
Trong ba người tôi đọc thơ những đêm cuối năm này chỉ có Thanh Nam là người vẫn làm thơ sau năm anh hai mươi tuổi, nhưng anh chỉ làm thơ lai rai, làm thơ rất ít. Năm 1972 Thanh Nam làm “Bài Hành đón Tuổi Bốn Mươi”. Năm ấy chiến tranh đang sôi động trên khắp nước ta, tôi thấy lời thơ Thanh Nam đầy cảm khái nhưng cũng chỉ đọc qua một lần. Rồi quên đi.
Hai mươi hai năm sau, qua cuộc biển dâu, bẩy nổi, mười chìm, hai mươi mấy cái lênh đênh, những đêm buồn đèn vàng, nằm bình yên trong căn hộ Housing ấm áp ở Virginia Đất Tình Nhân, đọc lại “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi” của Thanh Nam, tôi ngất ngư đi một đường cảm khái: “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi” là bản tình ca ghi lại cuộc sống và tâm tư của những chàng trai Bắc kỳ di cư chưa vợ sống ở Sài Gòn những năm 60. Nói rõ hơn: những chàng trai ba mươi tưổi, văn nghệ sĩ, sống độc thân trong Bin-đinh Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn Đẹp lắm, Sài Gòn ơi những năm 1960 thanh bình xa xưa…
Én nhạn về Nam, xuân rồi đây
Chợt thèm ly rượu, chút mưa bay
Gọi về trong đáy hồn lưu lạc
Những bước chân xưa nhạt dấu giày…

Thanh Nam làm “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi” nhân những ngày Tết Nguyên Đán. Năm 1970 anh vừa bốn mươi tuổi. Những lời thơ thật đẹp:
Gió nổi mười phương trời buổi đó
Với ngày như lá, tháng như mây
Lầu sương từng buổi đùa nhan sắc
Giấc ngủ thềm khuya rộn tiếng hài…

Ơi… Trong số các bạn đọc những dòng này, chắc có dăm bẩy bạn từng lên xuống ba tầng thang lầu Bin-đinh Cửu Long, Sài Gòn những năm 1960. thời các bạn ba mươi tuổi. Tôi chắc các bạn cũng cảm thấy như tôi: Thơ Thanh Nam gợi lên trong tim ta tiếng giày cao gót của những em ca-ve, tiếng guốc e lệ của những em nữ sinh con nhà lành gõ vui, gõ nhẹ, gõ lách cách trên các hành lang Bin-đinh Cửu Long trong những đêm xanh xưa ấy, khi chúng ta còn trẻ, khi chúng ta mới ba mươi tuổi…
Chiều xuống đã nghe lòng rộn rã
Gió lên, hồn ngỏ, phố vui mời
Ca trường, hý viện, xuân như hạ
Đời thả trôi vào nhịp phách lơi…

Sài Gòn mùa mưa không nói làm gì, mùa nắng dù nắng nóng đến chừng nào cứ đến khoảng bốn giờ chiều là có gió mát. Gió từ sông đến, mưa từ biển. Những năm 60 bình yên ấy chúng ta biết người yêu của chúng ta đang ở đâu… Chiều xuống chúng ta thấy lòng ta rộn rã. Trên đường đi làm về ta thấy Sài Gòn nắng đã dịu, gió chiều rào rào trên những hàng cây sao đường Duy Tân, đường Hai Mươi, ta nhớ đến người yêu: Tối nay đưa nàng đi ăn, đi chơi ở đâu? Ngân Đình hay La Plage Biên Hòa, Rex, hay ngồi bên nhau trên thảm cỏ ngắm trăng, hôn nhau đã đời dưới những hàng dừa xa lộ?
Thanh Nam là nhân viên Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam của Mỹ. Đài này cho nhân viên ra đảo Phú Quốc trước ngày 30 Tháng Tư. Người Mỹ sắp cuốn cờ bỏ của chạy lấy người nhưng vẫn còn muốn tránh cái tiếng đưa người Việt làm với họ chạy ra khỏi nước. Họ đưa nhân viên Đài Mẹ Việt Nam ra Phú Quốc để có thể nói Phú Quốc vẫn là lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ vậy Thanh Nam và vợ con sang Hoa Kỳ tương đối nhẹ nhàng. Nghe nói có thời Thanh Nam sống ở miền đông Hoa Kỳ, thành phố New Jersey, rồi lên Seattle ở miền Tây cho đến ngày anh mất.
Những năm 1980 ở Sài Gòn, tôi đã được nghe vài câu trong bài “Thơ Xuân Đất Khách” của Thanh Nam. Năm 1994 khi sang đến Hoa Kỳ, tôi mới được đọc toàn bài. Từ đó tôi cho đây là bài thơ tả tâm trạng người Việt tha hương hay nhất.
Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thưở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi dạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài, chân mỏi, bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa…

Những câu thơ như: “Chợt nghe từ đáy hồn thương tích… Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa” không cần và không thể nói gì thêm theo kiểu phụ đề Việt ngữ. Tôi đến Hoa Kỳ muộn màng nên không gặp lại Thanh Nam. Tháng Giêng 1995 tôi đến Seattle, gặp lại Nhất Tuấn, Hà Huyền Chi, Huy Quang Vũ Đức Vinh. Riêng Thanh Nam Trần Đại Việt không còn ở thành phố mưa gần như quanh năm đó nữa.
Đến Rừng Phong bốn mùa lá rụng tôi mới có tập “Em, Tôi, Sài Gòn và Paris” của Duyên Anh. Có hai bài thơ Xuân, thơ Tết – đúng hơn là một bài thơ “Khai Bút”, một bài thơ viết về mười hai tháng – trong tập thơ này:
Hình như trên mỗi nụ đào
Nỗi ta phảng phát chiêm bao cuối đời.
Nghe trong hiu hắt mù khơi
Tiếng em thoảng gọi hụt hơi nửa chừng
Ngựa về vết chém ngang lưng
Ủ ê chiến tích rưng rưng chiến bào
Tài hoa mối gậm hư hao
Tủi thân nhan sắc, nghẹn ngào phấn son
Đường xa rêu lấp xanh buồn
Hồ ly rình rập hớp hồn tinh anh
Rượu xuân mừng chén lênh đênh
Nghìn năm sau vẫn một mình mình thôi.

Sau ngày ta mất nước Thơ trong nước, Thơ ngoài nước, Thơ nào cũng sầu buồn. Phải vậy thôi. Nhục bại trận, nhục mất nước, nhục tha hương! Mang ba cái nhục ấy trên vai, trong tim, trong hồn, ta không buồn sao được. Là người ta phải buồn, phải nhục. Những tháng đen hơn mõm chó mực, đen hơn cái lá đa trong ca dao ở Sài Gòn sau ngày 30 Tháng Tư 75, chỉ có những thằng Việt Gian, mặt mũi mới phớn phở, người ngợm mới béo tốt… Chỉ thấy buồn nhớ trong thơ Thanh Nam, Mai Thảo, Duyên Anh. Đó là chuyện tự nhiên.
Mời bạn đọc thơ Duyên Anh:
Niên thiếu
Thuở ấy mây non gió rất mềm
Nắng vừa ấm đủ mọng môi em
Nụ hôn mừng tuổi ngon mùi Tết
Anh bảo Em rằng mới tháng giêng
Tiếng trống đình vang tự sớm mai
Xuân em còn hứa hẹn lâu dài
Hồn nhiên thức trắng canh tam cúc
Anh bảo em rằng sang tháng hai
Gánh hát chèo đêm tận xóm xa
Đưa em đi dưới ánh trăng ngà
Khi về hoa bưởi thơm mùi nhớ
Anh bảo em rằng qua tháng ba
Chân sáo đường quê vẽ hẹn hò
Bồi hồi ngọn cỏ ngậm sương mơ
Vô tình tay nắm tay khăng khít
Anh bảo em rằng đang tháng tư
Ít quá mỗi ngày một bận thăm
Thật gần mà vẫn cứ xa xăm
Chửa chiều đã ngỡ sao quên mọc
Anh bảo em rằng sắp tháng năm
Anh bảo em nhiều, đếm hết không
Những lời tháng sáu có mưa giông
Những câu tháng bẩy heo may lượn
Tháng tám tình xanh, tháng chín hồng
Anh vỡ lòng yêu cuối tháng mười
Đóa hôn tháng một cháy bùng môi
Tháng mười hai gọn vòng tay ấm
Ấy lúc hồn anh biết rã rời.

Bài thơ dễ thương, không một lời gì trong thơ cho ta thấy thấp thoáng hình ảnh Thương Sinh một thời Con Ong châm chích.
Ngày tháng ghi dưới bài là năm 1974.
Năm ấy chiến tranh đã tàn phá đất nước ta ròng rã hai mươi năm nhưng chúng ta chưa bại trận, chưa mất nước, chưa đầu hàng, chưa nhục nhã bỏ chạy, chưa có nỗi buồn vong quốc trong thơ của những văn nghệ sĩ Việt Nam.
Không có nhiều ý thơ Xuân, thơ Tết trong tập “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền” của Mai Thảo. Bạn đã đọc bài thơ Trừ tịch, đây là mấy bài thơ khác của Mai Thảo:
Mừng tuổi
Em vẫn trăm xuân mừng tuổi mới
Tuổi của thềm sương tuổi chúng mình
Cùng lăn không tiếng về nơi ấy
Tăm cá không còn cả bóng chim

Cuối năm
Tận ngữ tìm lung một tĩnh từ
Tưởng còn sót lọt ở phần thư
Đập tay điếu thuốc tàn không rụng
Đã lượng đời vơi tới đáy ư?

Tin xuân
Những bầy chim én báo tin xuân
Không tới. Đài Xuân vẫn trắng ngần
Sao phải đợi chờ chim én bảo
Một đóa vui người đủ tuyết tan.

Trong ba người, Thanh Nam có nhiều thơ về Tết, về Xuân nhất, Thơ Thanh Nam làm tôi xúc động, cảm khái nhất, như những câu:
Đất khách năm tàn vẫn gió mưa
Ngồi bên ly rượu đón giao thừa
Nhìn qua khung cửa mờ hơi nước
Chợt nhớ mưa phùn đất Bắc xưa…
…Ôi cố hương xa nửa địa cầu
Ngàn trùng kỷ niệm vẫn theo nhau
Đâu đây trong khói trầm thơm ngát
Hiện rõ trời xuân một thuở nào…

Tôi quen biết Thanh Nam năm 1952 ở Sài Gòn. Thanh Nam, Nguyễn Minh Lang, Trọng Khương (Bánh Xe Lãng Tử), Hoàng Giác (Ngày Về)… năm ấy là nhân viên Phòng Năm, Cục Tâm Lý Chiến, Bộ Tổng Tham Mưu. Thanh Nam có thời làm thư ký tòa soạn tuần báo Thẩm Mỹ. Tôi quen biết Mai Thảo năm 1956 khi tờ tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong ra đời, Mai Thảo giữ mục Điểm Thơ cho Văn Nghệ Tiền Phong những số đầu. Tôi quen biết Duyên Anh năm 1964 khi anh đã có tên Thương Sinh và có tác phẩm “Dấu Chân Sỏi Đá“.
Cả ba đều là bạn mày tao với tôi. Tôi có một số kỷ niệm với ba người bạn ấy. Hôm nay ba bạn tôi cùng giống nhau một điểm là họ đã ra khỏi cõi đời này.
Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Thôi thế anh về yên xóm cỏ
Cây đời đã cỗi gốc yêu đương
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương tàn được nở hương…

Tôi thường kể những lời thơ trên đây mỗi khi trái tim tôi ngất ngư đi một đường cảm khái. Tôi nhớ tôi đọc được những câu thơ ấy trên đầu một truyện ngắn nào đó của Lê Văn Trương – truyện ngắn tôi đọc những năm 40 khi tôi mới vừa mười tuổi. Cuối năm nay tôi làm một chuyến tiếu ngạo giang hồ qua Cali; được tặng một số sách trong đó có tập Thơ Trần Huyền Trân, tôi mới biết đó là những câu thơ trong bài Lưu Biệt, Trần Huyền Trân viết tặng Lê Văn Trương:
Thôi thế anh về yên xóm cỏ
Xứ nghèo đã cỗi gốc yêu đương
Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương đời được nở hương…

Sáu, bẩy giờ tối mùa mưa, hai chúng tôi trên hai xe đạp song song bên nhau đi trên đường Duy Tân, con đường cây dài, bóng mát nhiều người yêu mến ở Sài Gòn. Có tôi trong số những người yêu đường Duy Tân, nhất là khoảng đường từ sau Nhà Thờ Đức Bà đến Hồ Con Rùa. Một đêm Noel xa xưa – những năm 54, 55 – tôi nằm mơ thấy tôi đi trên đoạn đường Duy Tân đó, đường đầy hoa, những bông hoa lên đến hai đầu gối tôi.
Chúng tôi ghếch, khóa hai xe vào nhau, vào ngồi một quán cà phê vỉa hè. Tối xuống, những quán cà phê nghèo lèo tèo ba bốn cái bàn gỗ nhỏ như quán này mọc lên thật nhiều. Cà phê vỉa hè nhưng vẫn là cà phê phin cái nồi ngồi trên cái cốc. Hai chúng tôi cùng hút thuốc lá dây chuyền. Duyên Anh nói:
– Đi chơi với mày lần cuối. Tao đi mấy lần rồi mà đều không xong. Những lần trước tao đi không chia tay với mày. Lần này chia tay xem sao… Tao nhớ có lần mày nói Lan Đài đi mà không nói lời chia tay với mày, nó đi không lọt.
Tôi bùi ngùi nhớ chuyện Lan Đài.
Năm 1981, hay 82… một chiều tôi đạp xe đến nhà Lê Trọng Nguyễn, đường Nguyễn Huỳnh Đức, rủ Nguyễn đi chơi. Đến cửa nhà Nguyễn, tôi gặp Lan Đài và con gái anh trong nhà Nguyễn vừa ra. Hai bố con đi một xe đạp, Lan Đài đứng lại nói chuyện vài câu với tôi. Rồi chia tay. Vào nhà gặp Nguyễn, tôi nói:
– Tao vừa gặp Lan Đài với con gái nó ngoài đường. Nó như có chuyện gì muốn nói với tao rồi lại thôi…
Nguyễn gật đầu:
– Mày hay đấy. Nó với con gái nó sắp đi chui. Nó đến từ giã tao. Chắc nó muốn nói với mày là nó sắp đi…
Năm, bẩy ngày sau gặp lại nhau, Nguyễn muốn khóc:
– Lan Đài nó chết rồi. Ban đêm lên tầu lớn nó rớt xuống sông. Tìm được xác nó rồi, con gái nó cũng ở lại luôn…
Nhạc sĩ Lan Đài, Chiều Tưởng Nhớ, từng phụ trách một chương trình nhạc trên TiVi Việt Nam những năm 70. Dường như tên chương trình là Tiếng Thời Gian. Lan Đài hiền lành, dễ thương, không bê bối kiểu nghệ sĩ bất cần đời, không ăn tục, nói phét, không sài tiếng Ai Cập như tôi, không ăn chơi. Biết Duyên Anh sắp đi tôi kể chuyện Lan Đài. Không ngờ Duyên Anh bị chuyện đó làm cho théc méc.
Chúng tôi chia tay nhau ở đường Hai Bà Trưng. Tôi về Ngã Ba Ông Tạ, Duyên Anh về đâu tôi không biết. Căn nhà kiểu vi-la của Duyên Anh ở đường Công Lý, phía bên chùa Vĩnh Nghiêm, gần ngay ngã tư Công Lý – Yên Đổ, đã được bán đi và giao cho chủ mới ngay trong ngày vợ con Duyên Anh lên Air France sang Pháp. Vợ con Duyên Anh ra khỏi nhà lúc 11 giờ trưa, bốn giờ chiều Duyên Anh kéo Dương Hùng Cường, tôi và một hai anh em nữa đến nhà uống bia thoải mái. Năm ấy (năm 1983) căn nhà chỉ được bán với giá có 27 cây vàng. Năm nay (2000) nhà đó phải trị giá đến cả ngàn cây.
Duyên Anh đi và đi thoát luôn. Tối mưa ấy, cuối năm 1983, là lần cuối cùng chúng tôi gập nhau, nhìn mặt nhau. Nếu lúc ấy Duyên Anh đi không thoát thì chưa biết cuộc đời anh sau đó và bây giờ ra sao! Một chuyện tôi chắc hơn bắp là nếu cuối 1983 Duyên Anh đi không thoát thì qua năm 1984 Duyên Anh cũng nằm trong một phòng giam nào đó trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu như Dương Hùng Cường và tôi. Chúng tôi bị tó đêm mùng 2 tháng 5, 1984.
Duyên Anh bị bắt trong đợt Việt Cộng khủng bố văn nghệ sĩ Sài Gòn tháng 3, tháng 4 năm 1976. Từ Trại Lao Cải Xuyên Mộc trở về năm 1981, Duyên Anh viết truyện “Đồi Fanta”. Bản thảo được đánh máy làm nhiều bản. Duyên Anh nhờ một người bạn trẻ giữ dùm một bản. Gia đình anh bạn này có nhiều người rất ái mộ Duyên Anh. Anh bạn trẻ nguyên là một tu sĩ Công giáo. Anh đã học xong nhưng Việt Cộng không cho anh được trở thành linh mục. Anh bị bắt vì can tội cùng một nhóm tu sĩ in ronéo những bài giảng, in lịch đạo cũng bằng ronéo cung cấp cho giáo dân đang đói khát lời Chúa “Các ngươi sẽ đói lời Ta từ bờ biển này sang đến bờ biển kia”. Tôi vào chung phòng tập thể với anh ở Khu C Một Số 4 Phan Đăng Lưu. Anh kể:
– Khi xét nhà tôi, nó bắt được tập “Đồi Fanta” của ông Duyên Anh. Trong tập ấy có cái thư ông Trần Tam Tiệp ở Paris viết cho ông Duyên Anh, trong thư có nhắc đến ông và ông Dương Hùng Cường.
Anh bạn trẻ và tôi trở thành thân thiết nhau. Tôi nhờ anh thật nhiều. Nhờ cả tinh thần và vật chất. Chúng tôi nằm cạnh nhau, ăn chung, anh được gia đình gửi đồ nuôi khá nhiều – trước 75 ta gọi là “tiếp tế” – nhờ nhà có tiền chịu chi cho bọn cai tù nên anh được ra gặp thân nhân luôn. Nhờ anh, tôi nhắn được tin về nhà cho vợ tôi. Ở chung với nhau khoảng sáu tháng, một sáng anh rời Phan Đăng Lưu để sang Chí Hòa. Người bạn trẻ đi rồi, tôi ứa nước mắt vì thấy mình cô đơn quá đỗi.
Hai tháng sau đến lượt tôi lên xe cây sang Thánh thất Chí Hòa. Tôi được đưa vào Phòng 10 Khu ED. Thật phúc cho tôi: anh bạn trẻ ở trong Phòng 10. Tôi lại ăn chung, nằm cạnh anh. Tại đây anh đã kết thân với tu sĩ Phật giáo Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Anh rất mê Trí Siêu. Năm 1986 anh ra tòa. Hai tu sĩ Thiên Chúa giáo cùng vụ với anh lãnh án 3 năm tù, anh bị 8 năm. Thêm 5 năm tù chỉ vì tội giữ truyện “Đồi Fanta” của Duyên Anh.
Vợ con Duyên Anh sang Pháp bằng đường bảo lãnh chính thức. Chừng bẩy, tám tháng sau Duyên Anh vượt biên sang đảo rồi sang Pháp. Truyện “Đồi Fanta” được Pháp quay thành phim. Duyên Anh viết thật nhiều, có sách xuất bản thật nhiều kể từ 1983.
Tôi bị bắt lần hai năm 1984.
Tháng Giêng 1990 tôi trở về mái nhà xưa ở Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ lần thứ hai.
Tháng 11 năm 1994 bánh xe lãng tử đưa Alice và tôi đến Rừng Phong, Virginia Đất Tình Nhân. Đầu năm 1995, Duyên Anh từ Pháp sang Texas. Anh hay đến Wichita, Kansas với Lê Hồng Long, chủ nhiệm tạp chí Thế Giới Ngày Nay. Chúng tôi nói chuyện vài lần qua điện thoại, hẹn gặp nhau nhưng tôi không có dịp nào gặp lại Duyên Anh. Trong những ngày trước hay sau Tết Con Hổ, Duyên Anh từ trần ở Paris.
Những mùa tuyết trắng đến trên đồng đất Virginia, hôm nay trong Tàng Kinh Các nghèo nàn ở Rừng Phong mới có ba tập thơ của ba người bạn tôi: Thanh Nam, Mai Thảo, Duyên Anh. Ba anh đều đã qua đời. Thanh Nam, Mai Thảo hơn tôi vài tuổi, Duyên Anh kém tôi vài tuổi. Cả ba đều là bạn mày tao với tôi.
Kể từ năm 1956, tôi viết tiểu thuyết đều đều cho các nhật báo, tuần báo. Mỗi năm cứ đến những ngày gần Tết, các thợ viết chuyên nghiệp như tôi lại bận rộn với việc viết những bài gọi là bài Xuân, bài Tết để đăng báo Xuân, báo Tết. Việc làm ấy của tôi đột ngột ngừng năm 1975. Hai mươi năm trời sống ở quê hương – trong số có tám năm mòn mỏi trong tù – tôi đã tưởng đời tôi không còn bao giờ được hưởng lại hạnh phúc cuối năm viết bài Xuân, hạnh phúc đọc những bài Xuân của mình đăng trên báo Xuân. Nhưng rồi một sáng cuối thu bánh xe lãng tử đưa vợ chồng tôi đến Rừng Phong, Thành Hoa, Xứ Kỳ Hoa, Tây Vực. Năm năm cứ đến những ngày gần Tết tôi lại được hưởng hạnh phúc viết bài Xuân.
Năm năm cứ đến ngày gần Tết
Lại viết bài Xuân đăng báo Xuân .
Chẳng thấy Xuân đâu, chưa thấy Tết
Đã rộn bài Xuân, loạn báo Xuân!
Tha hương cóc có ba ngày Tết
Mít vẫn hè nhau Tết với Xuân!
Mấy chục mùa Xuân, mấy chục Tết
Đời chẳng còn Xuân vẫn phải Xuân.
Hoài niệm quê hương thời có Tết
Ngậm ngùi tưởng nhớ viết thương Xuân…

Như đã nói, bốn năm sau ngày đến Mỹ hôm nay tôi mới có ba tập Thơ Thanh Nam “Đất Khách“, Thơ Mai Thảo “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền“, Thơ Duyên Anh “Em Tôi Saigon Và Paris“. Tôi tìm hình ảnh xuân, tình xuân trong những tập thơ ấy…
Thông lệ: nhiều người viết tiểu thuyết khi còn trẻ – những năm hai mươi tuổi – khi mới viết, có làm thơ. Vì không phải là thi sĩ những người viết này sau đó bỏ làm thơ hoặc chỉ làm thơ những lúc trái tim họ rung động nhất. Trong số những người viết này có Duyên Anh, Mai Thảo, Thanh Nam. Trước năm 1954 Thanh Nam có làm một số bài thơ, từ 1954 đến 1975 dường như Thanh Nam chỉ làm có “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi”.
Cũng theo công thức Hàn Dũ “bất bình tắc minh” sau Ngày Oan Nghiệt 30 Tháng Tư 75 rất nhiều người Việt làm thơ. Trong số những người làm thơ này có Thanh Nam, Mai Thảo, Duyên Anh.
Đây là bài “Ai tín”, Duyên Anh làm ở Paris năm 1983, khi mới đến nước Pháp:
Em
Anh đã đến Paris
Mùa thu đầy xác lá
Như lòng anh buồn bã thuyền nhân
Sài Gòn tuy xa nhưng vẫn rất gần
Paris trước mặt mà trăm năm hiu quạnh
Cái gì lửng lơ trên míếng đời mỏng dính
Đó hồn anh giá lạnh quê người
Anh đi giữa trưa thương nhớ mặt trời
Anh đi giữa đường tương tư cơn gió
Mặt trời ấm vừa má em hây đỏ
Cơn gió hiền đủ sợi tóc em bay
Anh đi giữa người thương nhớ ai đây
Anh đi giữa đời cát mù sa mạc
Anh đi tội tình lưu vong ngơ ngác
Anh đi dại khờ trẻ lạc quê hương
Anh đi không nhớ phố nhớ phường
Anh đi chẳng cần giờ cần giấc
Anh đi nghe đìu hiu lau lách
Với tuổi anh hạnh phúc quá tầm tay
Với tuổi anh hạnh phúc tiếng rên dài
Khi cúi xuống nhìn dấu giầy lữ thứ
Còn trong anh một hồi chuông quá khứ
Chưa kịp rung đã cáo phó tương lai
Anh đi ngẩn ngơ quên tháng quên ngày
Anh đi hững hờ quên trời, quên đất
Anh đi miệt mài xác xơ hành khất
Mà thiên đường thiếu phép lạ thi ân
Thượng đế kiêu căng, Thượng đế nghèo nàn
Không thể bố thí cho anh tổ quốc
Cái gì rét run lặng câm đau buốt
Đó hồn anh lìa nước bơ vơ
Tổ quốc anh đâu, tổ quốc nghìn xưa
Tiếng anh gọi đã sương mù vĩnh quyết
Tiếng anh gọi đã nghĩa trang đào huyệt
Nghĩa là anh mất hết tự đêm nào
Giòng sông đưa anh ra biển ngập sao
Giòng sông không dẫn anh về quê hương anh nữa
Em,
Anh đã đến Paris
Mùa thu đầy xác lá
Xác lá mùa thu, xác lá duyên anh.

Tập Thơ “Em Tôi Saigon Và Paris” 52 bài, chấm dứt với bài “Mùa Riêng”, ghi ngày 10-87. Khi Duyên Anh gập tai họa tôi đang nằm trong Lầu Bát Giác Chí Hòa. Từ đó nhiều lần tôi nghĩ: nếu Duyên Anh không đi thoát chắc chắn trong tháng 5-1984, Duyên Anh cũng bị bắt như Dương Hùng Cường, như tôi. Chắc chắn thứ hai là Duyên Anh sẽ bị công an Thành Hồ ghép cùng vào bọn văn nghệ sĩ phản động làm “gián điệp” và sau khi thấy gán tội “gián điệp” là không được và lố bịch, đổi sang là “Bọn Biệt kích cầm bút”, bọn tám anh chị em tôi, thì chắc chắn giòng đời Duyên Anh không như đã xẩy ra. Duyên Anh sẽ ở tù ít nhất tám năm như Doãn Quốc Sĩ, sẽ ra khỏi tù khoảng 1992, sẽ sang Pháp hay Mỹ chậm lắm là năm 1994. Và nếu như thế giờ đây Duyên Anh đang ngồi bình an ở một nơi nào đó viết bài Xuân như tôi đang viết.
Duyên Anh đi thoát ra xứ người, bị đánh ở Cali, liệt bại nửa người. Minh Đăng Khánh, Minh Vồ ở trong nước không bị ai đánh cả cũng nửa người liệt bại. Cùng anh em vào tù trong một đêm, Dương Hùng Cường không trở về mái nhà xưa với vợ con. Đôi khi tôi théc méc tại sao tôi không – nên nói là chưa cho chắc ăn chăng? – bị ung thư cuống họng như Thanh Nam? Tôi hút thuốc lá nặng hơn Thanh Nam. Tại sao tôi không chết trong tù mà lại là Dương Hùng Cường? Thể xác, tinh thần tôi yếu hơn Cường nhiều lắm!
Tôi đi tù cùng thời gian nhưng không tù cùng một chỗ với anh Nguyễn Mạnh Côn và Duyên Anh nên tôi không thể nói chắc trăm phần trăm, song theo kinh nghiệm tù đầy của tôi, qua những chuyện nghe được, tôi có thể nói chắc đến tám phần mười Duyên Anh không can dự gì trong cái chết của anh Côn.
Hai mươi mấy mùa xuân đã đến, đã đi kể từ ngày oan nghiệt ấy, tôi có vài thắc mắc nhỏ, những thắc mắc không đáng gì nhưng là thắc mắc của tôi. Tôi thắc mắc muốn biết:
– Ai là người cho nổ mìn ở Hồ Con Rùa làm chết oan một số dân Sài Gòn cuối năm 1975 hay đầu năm 1976?
– Ai là tác giả Thông cáo “Ra đi ồ ạt” phổ biến ở Thành Hồ năm 1981 hay 1982?
Ai là người đánh Duyên Anh ở Cali? Đánh vì thù riêng hay vì nguyên nhân nào?
Người nổ mìn ở Hồ Con Rùa, người viết bản thông cáo “Ra đi ồ ạt” có thể không đi ra nước ngoài, nhưng người đánh Duyên Anh là người Việt ở Mỹ. Tôi rất mong ai đó lên tiếng về động cơ đã làm cho Duyên Anh bại liệt.

(Còn tiếp)

Share this post