Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (14)

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (14)

SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

Gửi các bạn tôi
sống, chết ở Sài Gòn…

* Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
HOÀNG HẢI THỦY

(Tiếp theo kỳ trước)

Tôi có bốn ông bạn được cha mẹ cho sang Tây du học, tất nhiên cả bốn ông đều là con nhà giầu. Những năm 1948, 1949 của thế kỷ 20, tức thế kỷ trước, trong lúc tôi ngày ngày đi bộ cả ba, bốn chục cây số ở chiến khu Việt Bắc – nói là chiến khu Việt Bắc cho oai, cho ra vẻ vai áo hào hoa bạc mầu kháng chiến, thực ra những ngày xưa hồng thắm đó tôi làm liên lạc viên, tức tên đi chân đưa thư tay ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, văn huê kiểu kháng chiến là Bắc Bắc – năm 1949 tôi lên đến Đại Từ, Thái Nguyên, đi đến Đèo Khế mới trở về xuôi, những năm tôi sống như thế thì bốn chàng trai nước Việt tôi được quen sống thơ thới hân hoan ở Nice, ở Paris bên Pháp.
Bốn chàng trai đất Việt ấy là ông Hoàng Anh Tuấn, đạo diễn điện ảnh tác giả phim Hai Chuyến Xe Huê, ông Tuấn Ghẻ (ông này thì khỏi cần kể họ hay tiểu sử), ông Trịnh Viết Thành, và ông Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa “Áo Lụa Hà Đông”.
Trong bốn ông được sang Tây ăn học đó chỉ có ông Trần Bích Lan là có bằng cấp đem về, còn ba ông kia dường như sang Tây chỉ để ăn chơi. Ba ông Tây du nhưng không Tây du học mà là Tây du hý. Sau 1954, khi hết chiến tranh, đất nước đã bị cưa đôi, bốn ông về nước. Ba ông – hai ông Tuấn, một ông Thành – sang Tây học năm, bẩy năm mà không có qua một mảnh bằng gì cả, cả cái bằng lái xe ô-tô ba ông cũng không có; về tiếng Tây, tiếng U, các ông bông xua, bông xoa, com xì com xà không khá hơn tôi bao nhiêu.
Nhưng thôi, việc học, việc chơi ngày xưa còn trẻ là việc riêng của mấy ông. Mấy ông có học, có bằng cấp, mấy ông là nhà khoa bảng thì vợ con các ông nhờ. Năm mươi năm sau ngày các ông về nước (trong bốn ông hai ông nay đã không còn ở cõi đời này), hôm nay tôi viết về các ông với tình thương mến, tôi hồi tưởng hình ảnh các ông thời các ông trẻ trung mà bùi ngùi như tôi hồi tưởng tuổi trẻ của tôi.
Tôi gặp Trịnh Viết Thành lần đầu năm 1955 ở buy-rô của Thanh Nam trong Đài Phát Thanh Quân Đội. Trung sĩ Thanh Nam Trần Đại Việt có bàn giấy ngồi viết đàng hoàng. Thành mới từ Pháp về, Thanh Nam giới thiệu chúng tôi với nhau. Sau đó tôi được biết Thành được anh em gọi là Trịnh Viết Thùng và Thành Nham Nhở – như Phan Nghị được gọi là Phan Nghệt, tên gọi yêu thương không có ý gì khinh miệt. Phải dùng tiếng “cynique” của Pháp để dùng cho Thành. Không phải thô tục hay thô bỉ, Thành rất thực tế, nói trúng vấn đề, không che đậy, không nghĩ sai.
Thành không viết văn, anh chỉ làm báo. Thành lấy em gái Nguyên Sa Trần Bích Lan từ thời hai người ở Pháp, nói cách khác Thành là em rể Nguyên Sa.
Thành từng nói với chúng tôi:
– Nhà chúng mày chỉ mới có hai đời ăn nước máy, thắp đèn điện, nhà tao ba đời rồi.
Câu này có nghĩa ông nội tôi sống ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến ông bố tôi ra tỉnh học mới ăn nước máy, thắp đèn điện, đến đời tôi ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện mới là hai đời; ông nội của Thành đã ở thành phố, đã ăn nước máy, thắp đèn điện, qua ông bố anh là hai đời, đến anh là ba đời. Theo tiêu chuẩn ấy thì tôi ăn nước máy, thắp đèn điện được hai đời, đời ông bố tôi, đời tôi. Văn Quang Chân Trời Tím mới chỉ ăn nước máy, thắp đèn điện được một đời: đời Văn Quang.
Căn cứ theo lời Văn Quang kể ngày xưa còn trẻ ở làng quê, anh từng cưỡi ngựa đi đòi nợ cho ông bố anh; tối xuống, trên đường về anh ngủ gà, ngủ gật trên yên ngựa, con ngựa biết đường cứ nhẩn nha lọc cọc, lịch kịch đưa anh về đến cổng nhà. Chuyện đó tôi nghe chính Văn Quang kể. Như vậy chắc ông thân anh là Lý Trưởng hay Chánh Tổng, nhà nhiều ruộng, ở làng quê, ăn nước giếng, thắp đèn dầu, đến đời Văn Quang mới ra ở thành phố, mới ăn nước máy, thắp đèn điện.
Theo tiêu chuẩn ấy thì Duyên Anh cũng chỉ mới một đời ở thành phố, ăn nước máy, thắp đèn điện: ông thân Duyên Anh là lang thuốc ở vùng quê Thái Bình. Một trong những chuyện rất ít người biết là Duyên Anh Vũ Mộng Long đã có vợ ở làng quê trước năm 1954, có vợ nhà quê và có một con gái. Năm 1954 chàng trẻ tuổi Thái Bình lên Hà Nội học hay làm chi đó, đất nước chia đôi, chàng xuống tầu Marine Serpent từ bến Sáu Kho Hải Phòng đi theo chiều dài đất nước, đổ bộ lên bến Nhà Rồng Sài Gòn. Năm ấy, năm chàng có vợ, những năm 1952, 1953, nhà văn lớn mới có mười bẩy, mười tám tuổi. Ở số tuổi này chỉ có những anh con trai làng quê mới có vợ, do tục tảo hôn còn rơi rớt ở vùng quê Bắc kỳ.
Năm 1967 vợ chồng tôi xa nhau một thời gian, tôi sống một mình trong căn phòng nhỏ ở căn nhà số 21 đường Hồ Biểu Chánh, Sài Gòn. Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều ở căn phòng này trước tôi, Nguyễn ra Đà Nẵng làm việc ở hãng Sealand, tôi đến ở phòng này. Một chiều Trịnh Viết Thành ghé qua, dúi cho tôi mấy ngàn đi ăn hút cho bớt sầu đời, Thành nói:
– Đừng quá buồn. Đó là qui luật. Những cặp vợ chồng lấy nhau vì tình sống với nhau năm, bẩy năm, có khi mười năm, thế nào cũng bị một lần khủng hoảng đến có thể bỏ nhau. Vợ chồng mày cũng vậy. Nếu vượt qua được vợ chồng mày sẽ sống với nhau suốt đời.
Đúng quá Thành ơi! Những lời Thành nói một chiều ở đường Hồ Biểu Chánh năm 1967 vang vọng bên tai tôi dù thời gian đã qua ba mươi mấy mùa lá rụng. Hai năm 1974, 1975, Thành làm Thư ký Tòa soạn nhật báo Quật Cường, tờ báo của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thời Tổng Giám Đốc Nguyễn Khắc Bình. Như yếu nhân, ký giả Trịnh Viết Thành nhật báo Quật Cường có nhân viên cảnh sát bảo vệ mặc thường phục, có súng, chạy Honda theo sau xe hơi để bảo vệ. Tháng Tư 1975 nón cối, giép râu, tóc bím, súng AK ngơ ngáo vào Sài Gòn, Thành cùng nhiều văn nghệ sĩ, ký giả bị Việt Cộng bắt Tháng Ba 1976. Sau chừng một năm quanh quẩn trong những phòng tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Chí Hòa, một số được tha, một số bị đưa đi các trại lao động cải tạo. Trong số lên trại cải tạo Gia Trung – Gia Lai ở Pleiku có Trịnh Viết Thành.
Năm 1977, tôi bị bắt. 1980, tôi được thả về Ngã Ba Ông Tạ. Tháng Năm 1984, tôi bị bắt lần thứ hai, các bạn tôi Trịnh Viết Thành, Thái Thủy, Lý Đại Nguyên, Tô Ngọc, Trần Dạ Từ, Chóe Nguyễn Hải Chí, Thanh Thương Hoàng và anh Doãn Quốc Sĩ vẫn tù mút chỉ ở trại Gia Trung – Gia Lai.
Năm 1990, lần thứ hai tôi từ ngục tù cộng sản trở về. Đã mười lăm năm kể từ 1975. Tất cả văn nghệ sĩ si-dzin cũng như mi-li-te, trừ người đã chết trong tù và người mới bị bắt hay lại bị bắt, đều đã trở về Sài Gòn với những đường phố cũ, vỉa hè xưa. Tôi được tin Thành đã về, anh đau yếu nặng, vợ anh đã bỏ anh để sống với người tình mới. Nghe nói anh này quen vợ Thành trước khi chị lấy Thành (chị này không phải là em gái Nguyên Sa), anh cũng bị tù ở Gia Trung, khi lên thăm nuôi Thành, vợ Thành gặp lại người cũ.
Khoảng hai giờ trưa một ngày mùa mưa đất trời u ám, vừa ở tù về được ít ngày tôi bỗng thấy nhớ Thành. Thành trước ở Cư Xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, nhưng nay Thành sống một mình trong căn nhà của ông bà thân anh ở đường Nguyễn An Ninh bên chợ Sài Gòn. Tầng dưới của nhà này trước 1975 là nhà in Nam Sơn, nhà in của gia đình Thành. Khi tôi đến, tầng dưới bị chiếm làm cửa hàng lương thực của phường. Mấy căn phòng trên lầu đều bị chiếm cho cán bộ ở.
Tôi theo cầu thang lên tầng lầu trên cùng. Tầng này trước 75 là nơi bà mẹ Thành ở. Trên sân thượng có điện thờ Phật, một khoảng trồng hoa, cây mai, cây trúc, bồn nước, hòn non bộ. Mười lăm mùa lá rụng chúng tôi mới gặp lại nhau. Thấy Thành, tôi nhận ra Thành ngay. Vì bất ngờ không biết tôi đến, có thể Thành không nhìn ra tôi.
– Nhận ra tao là ai không? Tôi hỏi.
Thành gọi ngay tên tôi:
– Hoàng Hải Thủy. Mày chứ còn ai nữa.
Thành nói anh bị lao xương, con anh bảo lãnh anh sang Pháp, nhưng anh yếu quá chưa đi khám sức khỏe được. Trông Thành tiều tụy thê thảm quá, nhưng tôi không ngờ anh lại ra đi nhanh thế.
Một chiều gần Tết, tôi trở lại nhà in Nam Sơn xưa thăm Thành. Lên hết thang lầu, tôi ngẩn ngơ trước cửa phòng Thành đóng kín, có cái khóa ngoài toòng teng. Trở xuống tôi hỏi thăm, người ta trả lời tôi:
– Bác Thành mất rồi.
Ở Paris những năm 1949, 1950 Thành lấy vợ là con gái ông Trần Văn Chi, có con. Khoảng 1957, 1958 ở Sài Gòn, Thành bỏ vợ để lấy chị vợ sau. Ly dị. Vợ cũ của Thành, tôi nghe nói, sang Pháp, để con lại Sài Gòn dưới quyền giám hộ của ông anh.
Một tối Thành kéo tôi đi ăn chơi, con Thành học nội trú trong một trường nào đó, ông giám hộ Trần Bích Lan không cho phép Thành được gặp con. Thành kể chuyện rồi nói với tôi:
– Nguyên Sa nó trọng dư luận các bạn văn nghệ sĩ lắm, mày nói với nó dùm tao, cho tao gặp con tao, sao lại cấm không cho bố con tao gặp nhau.
Tôi gặp Nguyên Sa. Nguyên Sa nói:
– Tao ghét nó nhà quê. Là văn nghệ sĩ… chẳng thà nó nghiện thuốc phiện đi, đằng này nó lại chơi trò nhà quê có vợ bé.
Nguyên Sa là dân Hà Đông nhưng anh sống ở Hà Nội nhiều hơn. Tôi nhớ tên ở Hà Đông trước 1945 của anh là Phúc, khi gặp lại nhau ở Sài Gòn tôi thấy tên anh là Trần Bích Lan.
Năm 1955, tôi gặp lại Nguyên Sa trên vỉa hè Lê Lợi. Từ Pháp trở về Nguyên Sa ăn mặc thật giản dị, sơ-mi trắng ngắn tay bỏ ngoài quần, quần kaki, đi giày rất thường, tay không đồng hồ, thời gian đầu anh còn đội cái nón cối cũng mang ở Pháp về. Ra cái điều ta đã sống ở Paris, nơi trang phục sang đẹp nhất thế giới, ta cóc cần chú ý đến chuyện phải ăn mặc bảnh bao như mấy anh Sài Gòn nhà quê. Anh kể chuyện văn nghệ văn gừng ở Pháp:
– Bọn thiên tả chúng nó có cái trò họp nhau phê bình thơ của nhau, với chúng nó bài thơ nào cũng phải có ý nghĩa, phải nói lên một cái gì. Bọn tao đến họp là chúng nó bực lắm. Có lần tao nói bài thơ này nó nói lên được cái là nó không nói lên cái gì cả.
Anh nói:
– Tao làm văn nghệ, thấy không khá, nhớ lời dậy của ông cụ tao: phải làm thương mại mới khá được, muốn khá phải làm thương mại.
Nguyên Sa không dậy học mướn, không làm hiệu trưởng mướn, anh làm chủ trường, anh có nhà in riêng trong trường Văn Học của anh. Thời tôi viết phóng sự “Tây Đực, Tây Cái” – sau đổi là “Ông Tây, Bà Đầm” – những năm 1955, 1956 trên nhật báo Ngôn Luận, Nguyên Sa kể:
– Tao vào lớp, thấy cứ mỗi lần tao hỏi đến một thằng học trò là mấy thằng bạn nó lại xì xào… Cuốc Tô, Cuốc Tô… Tao không biết Cuốc Tô là cái gì. Tao hỏi mới biết Cuốc Tô là tên nhân vật trong phóng sự của mày. Lần sau vào lớp, tao hỏi đúng thằng học trò ấy: “Sao… Ký giả Cuốc Tô. Mấy hôm nay ký giả có gặp bà Dzô-dzan không?” Cả lớp chúng nó cười ồ lên. Dậy học, thầy phải như thế học trò nó mới chịu.
Đầu năm 1995 bánh xe lãng tử đưa tôi sang Cali, tôi gặp lại Nguyên Sa. Anh đã bị giải phẫu ở cổ vì ung thư, anh đi lại, lái xe, ăn uống bình thường, chỉ có hơi yếu. Anh có tờ tuần báo Đại Chúng, anh đến nhà Hồng Dương đón tôi đi ăn, đưa tôi đến tòa soạn nhật báo Người Việt, tòa soạn Việt Báo. Anh bảo tôi:
– Mày phải ở Cali. Đồng bào mày, nó chia rẽ, nó nhỏ nhen, nó lắm chuyện, nó không ra sao cả, đồng ý, nhưng nó là đồng bào mày. Mày viết, mày phải sống gần đồng bào mày, mày mới viết được.
Tôi nhờ tìm cho tôi một cái tên chung cho những bài tôi viết, như kiểu Nguyên Sa có mục “Bông Hồng Cho Văn Nghệ” trên nhật báo Sống ngày xưa, Nguyên Sa nói:
– Mày lấy “Viết ở Rừng Phong” hay quá rồi còn gì, còn phải tìm tên nào nữa.

(Còn tiếp)

Share this post