Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (23)

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (23)

SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

Gửi các bạn tôi
sống, chết ở Sài Gòn…

* Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
HOÀNG HẢI THỦY

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

(Tiếp theo kỳ trước)

Bạn ta,
Buổi sang ở Rừng Phong, tôi mở e-mail, thấy bạn ta Thái Thủy gửi một tấm ảnh ba thanh niên trẻ măng với lời hỏi: “Đố kể được tên ba cậu này”. Hai cậu thì tôi nhận ra ngay, đó là cậu Thanh Nam và cậu Phan Nghị. Ý Thái Thủy muốn hỏi anh em chúng tôi cậu trẻ măng thứ ba trong ảnh là ai. Kiểm soát trí nhớ nửa phút, tôi nhận ra cậu thứ ba đó là bạn.
Bạn – bạn là người khai sinh ra mục Tạp Ghi trên nhật báo Tiền Tuyến, tiếng “bạn ta” theo tôi biết cũng là do bạn phổ biến – bạn và Thanh Nam, Phan Nghị chụp chung tấm ảnh lịch sử đó – ba cậu cùng chung một cái đồ, cái đồ khá to, cỡ carte postale – khi ba cậu vừa từ Hà Nội vào Sài Gòn tháng 9, tháng 10 năm 1954 (nói cho đúng Thanh Nam đã dzô Sè-goòng từ năm 1952, Phan Nghị và bạn mới dzô), ba cậu đi qua công viên về sau là công viên Lam Sơn ở trước cửa Nhà Hát Lớn, đường Catinat; những người thợ chụp ảnh Photo-Stop Sài Gòn đứng ở công viên ấy chụp ảnh ba cậu.
Bạn còn nhớ Photo-Stop ở Catinat năm 1954 không? Trước 1954 Sài Gòn thật văn minh. Người đi qua đoạn công viên ấy không cần gọi, không cần nói “chụp cho tôi tấm ảnh”, không cần đứng lại, ba bốn ông Photo-Stop đứng ở đấy suốt ngày cũng cứ giơ máy chụp hình bấm mấy pô, đưa ticket, không lấy tiền trước chi cả, vài ngày sau khách ghé qua địa chỉ ghi trên ticket, cũng ở ngay đường Catinat, xem ảnh, thấy đẹp thì trả 5 đồng lấy ảnh, không thích thì thôi. Sau năm 1956 Photo-Stop biến mất trên đường Tự Do, một điểm đặc thù của Sài Gòn trước 1954 ra đi – theo chân người Pháp – để không bao giờ còn trở lại.
Mèn ơi… Thấm thoắt dzậy mà đã gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày ba bạn ta đi hàng ngang trên đường Catinat, Sài Gòn. “Thời gian vỗ cánh bay như quạ… Đi hết đường xuân kiếm chỗ ngồi. Rượu hết, gà kêu, em cuốn chiếu. Quay về còn lại mảnh tình tôi…” Không phải thơ tôi đâu bạn. Sức mấy tôi mần được những câu thơ hay đến như thế. Đấy là Thơ Ông Tẩy Sia Tchya Đái Đức Tuấn, tôi tìm thấy mấy hàng châu ngọc ấy trong tập “Nhớ Nơi Kỳ Ngộ” của ông Lãng Nhân. Năm ấy các bạn mới hai mươi nhăm, hai mươi sáu tuổi, các bạn “trong veo cặp mắt chưa vương bụi, chăn chiếu còn thơm ngát mộng trai, chí lớn chia nhau đầy gác nhỏ, bụi hồng chưa khiến tóc xanh phai…”
Đêm nay tôi gọi về trong đáy hồn lưu lạc, những bước chân xưa nhạt dấu giày… Thanh Nam đã đi rồi, Thanh Nam đã về quê, Phan Nghị sống ở Sài Gòn, Thái Thủy ở Cali, bạn ở Sydney, tôi ở Virginia, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích. Đêm lữ thứ tôi không say rượu cần, cũng chẳng say whisky, tôi nằm đọc “Bè Bạn Gần Xa”, nửa đêm, Rừng Phong yên lặng như tờ, trăng chiếu qua cửa sổ vào chỗ tôi nằm, tôi trở dậy mở PC viết những dòng này.
Nếu ở Sài Gòn năm xưa, những năm 1970, nửa đêm trở dậy ngồi viết như thế này tôi đều đi rửa mặt, đánh răng, trước khi vào phòng tắm tôi bật cái bếp gaz đun tí nước, tí nước thôi, đủ pha một ly cà-phê, rửa mặt, đánh răng xong trở ra là nước sôi, tôi pha ly cà-phê, Nestlé bột cho nhanh, khỏi chờ nhỏ giọt tí tách mất công, đem vào bàn ngồi, nhâm nhi cà-phê, rít năm, bẩy điếu Lucky, hay Phillip Vàng, Pall Mall rồi mới viết. Đêm nay tôi chỉ rửa mặt thôi, tôi không phải đánh răng vì hai hàm răng tôi nằm sạch boong trong cốc nước, tôi không uống cà-phê vì từ ngày bỏ thuốc lá tôi cũng bỏ cà-phê. Tôi uống chút nước trà nóng và bây giờ tôi viết.

Tôi không bốc thơm “Bè Bạn Gần Xa“, nhiều tên tuổi lớn, trứ danh, uy tín đã ca ngợi văn chương của bạn, vì đọc bạn quá khuya nên bị mất ngủ, bắt chước bạn đêm nay tôi cũng viết về vài người bạn chung của chúng ta. Bây giờ những bạn gần của chúng ta cũng là bạn xa so với thời chúng ta sống ở Sài Gòn, bạn xa thì nhiều người đã đi quá xa, như Thanh Nam chẳng hạn. Tôi viết vài chuyện về Thanh Nam bạn ta nhé.
Tôi vào Sài Gòn từ 1951 nên không được biết gì về giới văn nghệ, văn gừng Hà Nội, tôi gặp Thanh Nam năm 1952 ở Sài Gòn khi Thanh Nam làm thư ký tòa soạn tuần báo Thẩm Mỹ. Năm ấy Trung sĩ Thanh Nam làm việc – cùng Trọng Khương “Bánh Xe Lãng Tử”, Hoàng Giác “Ngày Về”, Nguyễn Minh Lang “Gái Hà Nội” – trong Phòng Năm, Bộ Tổng Tham Mưu, dưới quyền Thiếu tá Trần Tử Oai – những năm ấy Thanh Nam sống trong nhà anh Nguyễn Bá Châu, chủ nhà xuất bản Á Châu, đường Lê Lai. Thanh Nam sống ở đây cùng với Đại úy Nguyễn Ngọc Loan. Đại úy Loan thời ấy cũng làm việc ở Sài Gòn. Những năm 1966, 1967, có lần tôi nghe Thanh Nam nói (chính tôi, không phải tôi “như thị ngã văn”, tức không phải tôi nghe người khác kể, chính tôi nghe Thanh Nam nói): “Thằng Loan hồi nó sống với mình ở nhà Á Châu nó hiền thế mà sao bây giờ nó dữ thế…” Một đêm gần Tết nhật báo Tia Sáng tổ chức tiệc tất niên ở nhà hàng Bồng Lai, có Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan ghé qua chừng mười lăm phút; anh em ký giả Sài Gòn mắt tròn, mắt dẹt thấy văn sĩ Bắc kỳ Thanh Nam, lúc ấy sương sương, chưa sỉn, giơ ly rượu, lớn tiếng: “Ê… Loan..Lại đây uống với tao, mày…” Và Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, mặc áo giáp chống đạn, cười cười đi đến cụng ly với ông bạn Thanh Nam.
Năm 1956 tôi viết cái gọi là phóng sự tiểu thuyết “Vũ Nữ Sài Gòn” trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, nhờ phóng sự đó tôi được một hai em nữ độc giả thân mến của bổn báo gủi thư đến tòa soạn. Đấy là những lá thư nữ độc giả ái mộ đầu tiên của tôi, tôi đem đến khoe đàn anh Thanh Nam, đàn anh phán cho đàn em một câu:
– Coi chừng đó mày. Mấy con này là nữ sinh, chúng nó chuyên viết thư cho văn sĩ. Mày trả lời rồi mày tưởng bở, mày ái tình hàm thụ vớ vẩn với chúng nó là chúng nó đem thư mày khoe các bạn chúng nó, mày chẳng ăn cái giải gì mà mang tiếng.
Ngày ấy tôi tin lời Thanh Nam nên tôi bỏ qua vài dịp ái tình hàm thụ mí vài em. Về sau nhớ lại, tôi không biết tôi làm theo lời Thanh Nam, như thế là tốt cho tôi hay tôi bị thiệt? Tôi lấy vợ năm 1954, nếu không thận trọng vì lời cảnh cáo của Thanh Nam biết đâu tôi đã chẳng bị vỡ mặt vì tình ái lăng nhăng với một em nữ sinh dậy thì đa tình thích văn nghệ, văn gừng nào đó ngay từ những năm 57, 58 xa lăng lắc trong dòng thời gian tím ngắt.
Đây là chuyện thứ hai của tôi về Thanh Nam. Năm 1960, qua bạn ta Văn Quang, tôi mua lại được cái xế Jeep Nhà Binh phế thải của ông Thiếu tá Trần Thanh, Cục Tâm Lý Chiến. Tôi thích xe Jeep Mỹ capot thấp Đệ Nhị Thế Chiến từ những ngày tôi còn nhỏ ở tỉnh lỵ Hà Đông. Những năm trên dưới 1960 là thời phong độ nhất đời tôi, tôi làm nhân viên tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới của bà chủ nhiệm Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, tôi viết phơi-ơ-tông trên nhật báo Ngôn Luận, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của ông Hồ Anh, viết trên tuần báo Kịch Ảnh của ông Quốc Phong. Tôi đang trẻ, đang kiếm được nhiều tiền, tôi ăn chơi vi vút, phơi phới. Có xế Jeep, tôi có phương tiện chở một lúc hai, ba ông bạn đi ăn chơi. Năm ấy Thanh Nam sống độc thân ở Bin-đinh Cửu Long. Hoàng Thư và Thái Thủy đã đi theo vợ, ra khỏi bin-đinh, chỉ còn một mình Thanh Nam sống cu ky ở đó. Một tối thứ Bẩy tôi đi chơi với Thanh Nam. Thanh Nam nói:
– Tao sợ ban đêm về bin-đinh. Về đó tao có cảm tưởng như đi vào nhà tù.
Thưở ấy nào chúng tôi, nào chúng ta đã biết gì về nhà tù, nhà tội, ta chỉ mới thấy nhà tù trên màn ảnh xi-nê-ma. Nhiều năm sau khi tôi đã qua cảnh tù đầy, nhớ lại tôi thấy Thanh Nam nói đúng: đi vào hành lang Bin-đinh Cửu Long, nhất là ban đêm đèn vàng lờ mờ, giống như đi trong hành lang nhà tù quá đỗi. Cũng hai dẫy cửa phòng sơn mầu sám ở hai bên, cũng không thấy một bóng người, không nghe một tiếng động. Phòng bin-đinh Cửu Long cũng giống hệt xà-lim nhà tù, tất nhiên là rộng hơn, sạch hơn, có giường, có cửa sổ mở ra trời.
Đêm thứ Bẩy ấy tôi chở Thanh Nam trên xe Jeep đi hai ba nơi, bẩy, tám giờ tối ngồi ở Ngân Đình bờ sông, chín, mười giờ tối lên Quang Minh Đỉnh gần nhà BGI ở Chợ Lớn, mười một, mười hai giờ vào phòng trà ngồi nghe các em ca sĩ hát. Đêm thứ Bẩy Thanh Nam có thể đi chơi suốt sáng, hôm sau Chủ nhật bạn ta được nghỉ, tha hồ ngáo. Tôi làm báo nghỉ thứ Bẩy, Chủ nhật phải đi làm cho tờ báo ra ngày thứ Hai. Đi chơi khuya quá Thanh Nam không chịu về, tôi nói:
– Cho tao về, mai tao phải đi làm, mí lỵ tao có vợ, đi chơi khuya quá không được…
Thanh Nam nói:
– Mày làm như cả Sài Gòn này chỉ có mày là thằng có vợ.
Đêm ấy tôi đi chơi với Thanh Nam đến ba giờ sáng. Thế rồi những ngày như lá, tháng như mây, thời gian lại vỗ cánh bay như quạ… Một đêm năm 1966, Trịnh Viết Thành chở bọn tôi đi ăn bouillabaisse ở nhà hàng Choeng Nam trên chiếc Simca 9 của Thành. Ăn xong, theo đúng thủ tục, chúng tôi lên Quang Minh Đỉnh. Thanh Nam – lúc này đã có vợ – đòi về, nhưng làm sao về được, Thanh Nam bắt buộc phải đi với bọn tôi lên Quang Minh Đỉnh. Thanh Nam ra điều kiện:
– Tao chỉ đi với chúng mày đến 10 giờ thôi.
Đúng 10 giờ Thanh Nam đứng lên ra về. Đại hội đang vui, đèn nến lung linh, anh em thương mến nhau, đêm huyền ảo, nệm khói êm, chuyện rì rầm, cuộc đời thật đẹp, Chủ xế Trịnh Viết Thành nói:
– Về làm cái gì sớm thế? Ở lại chút nữa tao đưa về, bọn tao cũng về luôn.
Thanh Nam cứ ra về. Về sau tôi thấy bạn ta làm thế là đúng, bởi vì cứ nghe lời ở lại một tí, một lúc nữa là hai, ba giờ sáng lúc nào không biết. Không cần phải đánh đu với tinh, những năm xưa ta còn trẻ, chỉ cần ta chiều bạn là ta đủ quên vợ con ta rồi, huống chi ta lại ham dzui, ta cũng đâu có muốn bỏ về.
Đêm mưa. Sài Gòn năm ấy đang nhiều lính Mỹ G.I., taxi khan hiếm, không còn taxi chay rong đón khách, Thanh Nam ra về lúc 10 giờ, không biết mấy giờ đêm bọn tôi xuống đường vẫn thấy bạn ta, mặc áo mưa, đứng dưới gốc cây sao, bạn ta chưa kiếm được xe về đường Cống Quỳnh. Tôi cay cú nhớ chuyện sáu, bẩy năm trước Thanh Nam chưa có vợ, tôi có vợ, đi chơi với nhau đến một, hai giờ sáng Thanh Nam vẫn chưa chịu cho tôi về.
Chuyện thứ ba: Khoảng năm 1960 trời đất yên bình, nhân dịp bán được tác phẩm tiểu thuyết để làm phim, Ngọc Linh mời bọn tôi ăn ở nhà hàng Động Phát, đường Hàm Nghi. Bữa ăn tối ấy có Thanh Nam, Nguyên Sa, không có Mai Thảo – không biết ở Cali những năm 1980 hai bạn ta áo thụng vái nhau ra sao, dường như những năm 1960 ở Sài Gòn chỗ anh em văn nghệ nào có ông Nguyên Sa thì không có ông Mai Thảo, và ngược lại – có Văn Quang, Thái Thủy, Quốc Phong, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn. Chúng tôi nói chuyện linh tinh, đề tài đi đến chuyện vợ bé, tôi nói:
– Tao sẽ không bao giờ có vợ bé.
Tôi đưa ra lý do-nguyên nhân hết sức không có ăn nhậu gì đến chuyện có vợ bé hay không có vợ bé ở cõi đời này:
– Vì ông già tao không có vợ bé, tao cũng không bao giờ có vợ bé…
Bạn ta Văn Quang, lúc ấy chưa chạy hai tầu cùng một lúc, chua đổi tầu, chưa là Thuyền Trưởng Hai Tầu, thản nhiên nói:
– Nếu mày nói thế thì tao có quyền có vợ bé. Ông già tao nhiều vợ lắm.
Tôi miệng lưỡi không khéo léo, đang cao hứng nói hễ tôi bị ai nói ngược lại là tôi nói không được, tôi ngồi bí sị. Anh em nói sang chuyện khác, một lúc sau tôi kéo họ trở lại chuyện vợ bé;
– Ê… Văn Quang… Hồi mày nhỏ ông già mày có nhiều vợ mày có khổ không? Nếu mày không thấy khổ thì bi giờ mày cứ việc có vợ bé, còn nếu mày thấy khổ thì mày đừng làm cho con mày phải khổ…
Văn Quang chưa nói gì, Thanh Nam nhìn tôi, nói:
– Ê… Làm cái gì mà mày cay cú thế? Mày mới lấy vợ đây mà, đã lâu la gì. Đừng có nói trước. Tao thấy những thằng nói như mày là những thằng có vợ bé sớm hơn ai hết.
Với câu nói ấy Thanh Nam gạt đề tài vợ bé của tôi ra khỏi cuộc trò chuyện. Anh em tối ấy cũng chẳng ai thích nói chuyện vợ lớn, vợ bé.
Tôi sẽ gửi bài viết ở Rừng Phong này về Sài Gòn cho Văn Quang, Phan Nghị, sang Cali cho Thái Thủy, Hoàng Anh Tuấn, lên Washington State cho Huy Quang Vũ Đức Vinh, sang Nice cho Quốc Phong. Còn Thanh Nam, Nguyên Sa, Trịnh Viết Thành (Thành sau mười mấy năm tù tội ở trại tù Gia Lai-Gia Trung, đã chết vì bệnh ở Sai Gòn năm 1990) ở xa quá, tôi không gửi tới được. Các bạn ta có thể chẳng ai nhớ chuyện vợ lớn, vợ bé ở nhà hàng Động Phát, Hàm Nghi, Sài Gòn 40 năm xưa, nhưng tôi còn nhớ.
Hai giờ sáng. Trăng lúc tôi mới bắt đầu viết soi vào chỗ tôi ngủ giữa phòng, bây giờ lên cao trăng soi trên bàn viết của tôi kê ngay bên cửa sổ. Tôi vẫn thích được ngồi viết ở trước cửa sổ, trên lầu, được đang viết ngửng lên nhìn ra thấy một khoảng trời. Ở Sài Gòn tôi không có được khoảng trời trước bàn viết tôi muốn có, ở đây cửa sổ nhà Mỹ thật lớn, tôi nhìn ra rừng phong huyền ảo dưới trăng.
Năm 1965 nhật báo Tiền Tuyến ra đời, Trịnh Viết Thành làm Tiền Tuyến với bạn từ số đầu. Đầu năm 1966 Thành đi sang tòa soạn báo khác, nhường công việc của Thành ở Tiền Tuyến cho tôi. Bạn nhớ không, những ngày ta làm báo Tiền Tuyến ở nhà in Hợp Châu, đường Cống Quỳnh. Chúng ta đến tòa soạn lúc 5 giờ sáng, những ngày mùa mưa, những ngày cuối năm, trời đất Cống Quỳnh 5 giờ sáng còn tối mịt. Nhà in mở toang cửa, không một ai ở dưới nhà, tòa soạn, phòng xếp chữ ở trên lầu, những sáng ấy nếu có kẻ nào vào khuân hết những cây giấy báo mấy trăm rame ra xe ba bánh chở đi cũng không ai biết. Bây giờ nhớ lại tôi mới thấy sợ: nếu những sáng sớm ấy không cần hai, chỉ một tên đặc công Việt Cộng nó lững thững đi lên tòa soạn thôi, nó độp cho bọn mình mỗi thằng vài phát là chúng mình đi tầu suốt cả năm, bẩy tiếng đồng hồ sau các ông Phạm Văn Liễu, Nguyễn Ngọc Loan cũng chưa biết, đừng nói gì đến các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, có biết ngay chăng là các ông Đại tá Vũ Quang, Trung tá Lê Đình Thạch, hai ông này có biết ngay thì cũng phải cả tiếng đồng hồ sau.
Tòa soạn Tiền Tuyến năm ấy có bạn, Hoàng Anh Tuấn, Đinh Hiển – Hĩm, anh Vũ Uẩn, Viêm Hồng và tôi, Huy Vân phụ trách trang trong, không ngồi thường trực ở tòa soạn. Qua năm 1967, trước Tết Mậu Thân, tòa soạn vào trong Cục Tâm Lý Chiến, đường Hồng Thập Tự, Tiền Tuyến mới có nhà in ở trong Cục Tâm Lý Chiến. Vào đây tòa soạn có thêm Ngọc Hoán sáng sớm đến dịch tin ngoại quốc, thường gọi là tin télétype. Bạn và tôi ngày ngày thay vì đến đường Cống Quỳnh, nay ta vào Cục Tâm Lý Chiến đường Hồng Thập Tự. Vào đây ta ngày ngày gặp các bạn Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Đặng Trần Huân ở tòa soạn báo Chiến Sĩ Cộng Hòa ngay bên tòa soạn ta, gặp bạn Văn Quang ở trụ sở Đài Phát Thanh Quân Đội cách tòa soạn ta một khoảng sân.
Một chị vợ hạ sĩ quan được phép mở một quán cà phê, ăn sáng trong Cục để binh sĩ khỏi phải đi ra ngoài. Quán này ở ngay sau tòa soạn ta. Tôi ngày ấy hút nhiều thuốc lá, uống nhiều cà-phê nên bị cồn cào, cần ăn sáng cho dễ chịu, nên thường làm việc đến 9 giờ sáng là tôi sang quán ăn sáng, ăn xong trở về tòa soạn làm việc tiếp. Tôi mặc xi-dzin – tất nhiên, tôi có phải là quân nhân đâu mà mặc quân phục – quán ăn ngoài cà phê, nước ngọt, la ve, chỉ có ba món ăn: hủ tíu, bánh mí ốp-la, bánh mì bò kho. Tôi thường ăn bánh mì ốp-la, uống cà-phê đen. Thấy tôi ngồi bàn, chị chủ ở trong bếp, bảo thằng con:
– Ra hỏi Đại úy sáng nay ăn gì?
Tôi ăn xong, nghe tiếng chị bảo con:
– Bưng cà-phê Đại úy.
Chị gọi tôi là Đại úy, chị yên trí tôi là Đại úy dù chị không thấy tôi mặc quân phục, cổ áo ba hoa mai vàng bao giờ. Chị tưởng vậy không có chi lạ, nhiều sáng chị thấy tôi ngồi ăn với bạn, với các Đại úy Văn Quang, Phạm Huấn – năm ấy các bạn đều là Đại úy – chị thấy tôi đồng tuổi với các Đại úy, tôi có thái độ ngang hàng, bạn bè với các Đại úy, tôi mày tao với các Đại úy, chị nghĩ tôi là Đại úy cũng phải thôi. Tất nhiên là tôi không cần nói với chị tôi không phải là Đại úy.
Một sáng như mọi sáng, tôi nghe chị bảo thằng con:
– Ra hỏi Thiếu tá sáng nay ăn gì?
Tôi ghi nhận cấp bực Thiếu tá nhưng không lấy gì làm lạ, có thể chị lầm tôi với một ông Thiếu tá nào đó. Ăn xong, tôi nghe chị bảo con:
– Bưng cà-phê Thiếu tá.
Tôi hơi lạ nhưng cũng không théc méc gì, đang là Đại úy, bị giáng cấp xuống Trung úy mới théc méc, đang là Đại úy, được gọi lên Thiếu tá, théc méc ký gì. Tôi về tòa soạn ngồi viết phơi-ơ-tông “Thầy Nô”, tôi quên chuyện Đại úy, Thiếu tá, cho đến lúc tôi thấy Đại úy Nguyễn Văn Phúc (ông Đại úy Phúc Khàn, tôi không nhớ ông là Nguyễn Văn Phúc hay Nguyễn Đình Phúc, không biết năm nay ông HO nơi nào ở Kỳ Hoa Đất Trích) đến bàn viết của bạn. Rồi lại có mấy ông Đại úy, Trung úy nữa ghé đến. Các bạn cười nói, bắt tay nhau như có chuyện gì quan trọng vừa xẩy ra. Tôi hỏi và được biết các bạn: Bạn, các Đại úy Nguyễn Văn Phúc, tức Phúc Khàn, Văn Quang, Phạm Huấn… cùng một lô các ông Đại úy trong Cục vừa được lên cấp Thiếu tá. Tôi nói:
– Thảo nào… Sáng nào chị chủ quán cà-phê cũng gọi moa là Đại úy, sáng nay chị ấy gọi moa là Thiếu tá. Thì ra các bạn lên Thiếu tá, chị cà-phê cũng cho moa lên Thiếu tá luôn.
Thấy ông Phúc Khàn ngồi với bạn, tôi ngẫu hứng làm câu đối:
Phúc Lạt, Phúc Khàn, hai Phúc Thiếu
Quang Văn, Quang Vũ, một Quang thừa“.
Bạn là Phúc Lạc, Lạc sang tiếng Nam có khi trở thành Lạt, hai bạn Phúc đều là Thiếu tá. Cục Tâm Lý Chiến năm ấy có Đại tá Vũ Quang là Cục trưởng, có Đại úy Văn Quang ở Đài Phát Thanh Quân Đội (năm ấy bạn Văn Quang chưa là Quản đốc Đài), sách Tầu nói: “Chỉ cần vũ quang – tức vũ sáng, vũ tốt – hay văn quang – tức văn sáng, văn tốt – là nước được trị, dân được sống trong an ninh, hạnh phúc”. Chỉ cần một thôi. Cục Tâm Lý Chiến của ta năm ấy có cả vũ quang và văn quang, vũ cũng sáng mà văn cũng sáng.
Nhưng tất cả những gì thành rồi sẽ tan rã, những gì có rồi sẽ mất. Cho dù Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta có còn đến hôm nay, cho dù nhật báo Tiền Tuyến hôm nay vẫn sống, cũng không còn bạn và tôi trong tòa soạn Tiền Tuyến. Các anh Lê Đình Thạch, Vũ Uẩn, Huy Vân đã qua đời, chúng ta tản lạc đi bốn phương trời. Liêu lạc bi tiền sự, chi ly tiếu thử thân, đêm nay tôi bồi hồi tưởng nhớ những ngày xưa chúng ta làm việc cùng trong một tòa soạn nhật báo ở giữa lòng thành phố Sài Gòn của chúng ta, những sáng sớm đến tòa soạn lúc 5 giờ khi đất trời còn đen kịt, những buổi trưa ra khỏi tòa soạn lúc 12 giờ trời nắng chang chang. Ngày tôi rời Tiền Tuyến, Đại tá Vũ Quang đãi tiệc từ biệt tôi ở nhà hàng Victoria, tặng tôi cái máy chữ Brother dấu tiếng Việt, cái máy chữ đầu tiên trong đời tôi, tôi bắt đầu viết bằng máy chữ từ đó.
Tôi nhớ một ngày năm 1982 tôi đi mua thuốc lào ở Ngã Ba Ông Tạ, khu trước nhà Dây Thép Gió, để gửi cho bạn, năm ấy tôi không biết bạn đang tù ở đâu, Thanh Tâm Tuyền đã về, chỉ cho tôi tới nhà bà chị của bạn ở đường Trần Hưng Đạo, nhờ gửi quà cho bạn.
Chúng ta gặp lại nhau ở Sydney sau hai mươi năm xa cách – tôi ăn bữa ăn cuối cùng với bạn trước ngày 30 tháng Tư 75 ở Biên Hòa, bạn đãi tôi, hôm ấy tôi lên Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 5 xin gặp Trung tướng Tư Lệnh Phạm Quốc Thuần để xin một cái pha-vơ gì đó, năm ấy Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn có ông Đại tá Đoàn Bội Trân (nghe nói ông đã mất trong trại cải tạo, tôi nhớ hôm gặp ông cuối cùng ấy ông nói: “Đừng sợ. Việt Cộng nhiều lắm chỉ là một triệu thằng, mình cả chục triệu chống cộng, chúng nó thắng mình thế nào được”). Chúng ta gặp lại nhau ở nhà Nhất Giang, nhà Hồ Ông ở Sydney, những đĩa tiết canh vịt tiết dầy ba phân, thịt cá sấu, bà chị Thiếu Mai, bạn Đức, các bạn Gia Du, Vi Túy, Nguyễn Đình Khánh, ông bạn già Philip Tống Ngọc, các bạn báo Việt Luận, các bạn y sĩ Sydney, bạn Quang Hoa…
Năm 1975, bạn và Văn Quang là Trung tá, tôi chắc nếu không có gì xẩy ra thì năm 1980 bạn mới 50 tuổi, Văn Quang mới 47 tuổi, có thể các bạn là Đại tá, và năm 1985 biết đâu tôi lại chẳng có dịp mày tao với một ông Tướng của quân đội ta, như Thiếu tướng Văn Quang, Thiếu tướng Phạm Huấn chẳng hạn. Biết đâu đấy!

(Còn tiếp)

* PHỤ ĐÍNH:
KÝ SỰ TÙ CỦA PHAN LẠC PHÚC

Trời Sydney năm nay lạnh hơn mọi năm. Đêm đông buốt giá, phải trở dậy kiếm cái heater. Mở đèn lên, nhìn ra ngoài vườn, sương đêm đã đọng thành một màn băng mỏng.
Nhìn màn băng mỏng trên sân, ký ức tôi bỗng trở về cái lạnh buốt xương năm 1976, khi tù cải tạo miền Nam năm đầu tiên ra Bắc. Tụi tôi được “chiếu cố” cho ở Sơn La, địa danh nổi tiếng “Nước Sơn La, ma Vạn Bú”. “Sơn La âm u, núi khuất trong sương mù”. Tù cải tạo thuộc trại 1, liên trại 2 được phân ra ở trong trại tù Sơn La thời Pháp thuộc. Sau nhiều cuộc biến thiên, nhất là sau vụ ném bom miền Bắc, các trại tù này đã đổ nát, chỉ còn lại cái nền xi măng. Nhà tù đã đổ bây giờ được che tạm bằng ni lông, hoặc lợp bằng tranh mỏng. Sơn La là miền cao nên lạnh sớm. Mới tháng 11 gió bấc đã lồng lộng thổi về. Đến cuối tháng 12, lạnh vào cao điểm… Chậu nước để ngoài sân, qua đêm đã đọng thành băng mỏng bên trên.
Tù thì nóng cũng khổ, lạnh cũng khổ. Nhưng nóng thì đôi khi còn trốn được. Tạt vào một lùm cây hoặc là tạm ngâm mình xuống ao, xuống suối. Còn lạnh thì không trốn vào đâu được, nó theo mình suốt ngày, suốt đêm. Nhất là anh em trong Nam ra cứ yên trí là “học tập một tháng”, nên quần áo đem đi làm gì nhiều cho nặng. Ra ngoài Bắc đụng cái buốt giá của mùa đông thượng du miền Bắc, thêm mưa phùn ẩm ướt nên cái lạnh lại càng thấm thía. Ban đêm cái nền xi măng trong nhà tù nó lạnh như nước đá, mặc đủ thứ áo quần hiện có mà vẫn lạnh, mặc cả áo mưa đi ngủ, có anh chui vào một cái bao tải vừa kiếm được mà vẫn cứ run. Hóa ra cái lạnh ở ngoài vào thì ít mà cái lạnh ở trong ra thì nhiều. Cái lạnh vì đói cơm nhiều hơn cái lạnh vì thiếu áo.
Hồi đó nằm cạnh bên tôi là hai người bạn tù cùng trong đội rau… Một ông nguyên là dân Thiết Giáp, một ông nguyên là Thượng Ttọa (giám đốc nha Tuyên Úy Phật giáo). Ông Thiết Giáp trước đây vốn là một tay hào hoa rất mực. Ông thuộc loại “Tây con”, học trường danh tiếng Saumur, đánh giặc rất chì, ăn chơi rất bảnh… Đôi lần tâm sự vụn, ổng rút trong ngực áo ra có tấm ví có hình một bà rất đẹp, rất mignonne mà khẽ nói “bà xã moi”. Đôi mắt đục và nhăn vì đói lạnh của ông chợt sáng lên khi nhìn lại hình ảnh vợ. Mới đây ổng vừa nhận được một gói quà 1kg đầu tiên từ trong Nam gửi ra. Ông hy vọng lắm vì có người nhận được ít thịt khô, ít ruốc chà bông. Gói quà của ông, xem đi xem lại mãi chỉ có một cái áo lạnh và đặc biệt có hai cái quần slip màu hồng nhạt, chắc là của phái nữ. Tôi không tiện tò mò, hỏi han về việc riêng của bạn nhưng tôi chắc bà xã của bạn phải yêu thương lắm, phải lãng mạn lắm mới gửi món quà để “tưởng nhớ một mùi hương” như vậy. Đôi khi rảnh rỗi, ông bạn tù hàng xóm của tôi lại khẽ giở món quà đặc biệt ra hồi tưởng…
Trước đây ông bạn tôi thường hút Lucky. Đi cải tạo ông mang theo một cái pipe Dunhill và vài hộp thuốc Half and Half. Nhưng đã lâu rồi hết thuốc hút pipe, ổng cũng như mọi người khác hút thuốc lào. Quá nửa đời người rồi mới biết cái hấp dẫn của thuốc lào. Nhất là mùa rét, sáng sớm tinh mơ ngồi dậy, hút một điếu đầu tiên trong ngày, cho nó say lơ mơ quên trời, quên đất, quên cảnh lên voi xuống chó, quên luôn cảnh lưu đày tù tội. Ôi phút tuyệt vời… Thuốc lào hấp dẫn như vậy nên trong tù đã có thành ngữ “Có thuốc lào là có tất cả”. Nhưng ở miền Bắc cái cần thiết nhất là gạo, ăn còn không đủ thì lấy đâu ra thuốc lào cho tù. Đành trông chờ vào quà của gia đình gửi tới. Nhưng trong những chuyến gửi quà đầu tiên, có mấy ai được nhận thuốc lào. Thuốc lào thành của hiếm… Ở trong tù cái gì thiếu cũng chấp nhận được, nhưng thiếu thuốc lào là một thiếu thốn rất lớn lao. Thuốc lào không những làm quên hiện tại mà thuốc lào còn là dấu móc để người tù cải tạo thêm kiên nhẫn đi tiếp cuộc đời tù dằng dặc. Trong trại không có ai có quyền đeo đồng hồ. Đồng hồ cũng như những đồ tùy thân có giá phải gửi ở trại. Ngày ngày đi làm, cuộc sống khổ sai nhọc nhằn, đời tù hun hút, thời gian mịt mờ.
Trong khi đó quy định của trại giam cứ một tiếng rưỡi đồng hồ lao động là có “kẻng” nghỉ 10 phút “hút thuốc, uống nước”. Điếu thuốc lào ở trên một cái đích gần gũi để người tù vươn tới, một đoạn đường dù ngắn nhưng sắp đến nơi. Nó cũng là một an ủi nhỏ sau hơn một giờ cực nhọc. Vì vậy nên dù khó kiếm, dù đắt đỏ, cũng không ai muốn bỏ thuốc lào. Những tay có thuốc lào thấy vậy nên càng ngày càng lên giá. Một phần ăn sáng (một phần tư chiếc bánh mì luộc) trước đổi được 5 điếu thuốc lào, sau xuống giá còn 3, rồi còn 2 điếu… Người ta sẵn sàng quên đi cái đói để đổi lấy một vài phút say quên.
Anh bạn tù hàng xóm của tôi, nghiền thuốc lào quá nặng, rét đến nơi mà không thuốc hút. Anh liền lấy cái pipe Dunhill nổi tiếng của Ăng lê ra đổi thuốc lào. Được chừng 10 hôm là hết thuốc. Có người mách lấy lá ngải cứu phơi khô thái nhỏ hút vô nghe được lắm. Anh bạn tôi nghe lời, phơi đi phơi lại lá ngải cứu trộn thêm với nước điếu và một chút nước mắm, một chút đường. Hôm hoàn thành thuốc lào ngải cứu, anh có mời tôi hút thử, cũng thấy say say nhưng không êm bằng thuốc lào, mà rát cổ họng. Ông bạn tù Thượng tọa mới bảo rằng không nên hút cái giống ấy, hao người, hao phổi. Nhưng anh bạn tôi thèm thuốc quá cứ hút thuốc ngải cứu cho đỡ thèm. Một hôm, vừa hút xong, chưa kịp đặt cái điếu cày xuống, máu mũi anh đã chảy ròng ròng.,..
Mùa đông đầu tiên ngoài Bắc, anh bạn tù hào hoa một thuở của tôi vừa đói, vừa lạnh, vừa thèm thuốc. Theo anh thì mùa lạnh ở Việt Nam khó chịu hơn bên Tây nhiều mà lạnh nhất là hai cái tai. “Nhiều khi tôi cứ tưởng hai cái tai lạnh cóng của tôi nó rụng mất rồi”. Anh vừa nói, vừa run lập cập. Một buổi tối trời vừa lạnh, vừa mưa, lán lợp giấy nilong, nước mưa giột tí tách, anh bạn tù của tôi chợt có sáng kiến mới. Anh lấy chiếc quần slip của vợ gửi cho chụp lên đầu, kéo sụp xuống tận mí mắt, che kín hai tai. Trong cái chập choạng của một ngọn đèn dầu hỏa, tôi thấy anh “không giống ai”, mà trên thế giới này chắc không thể có một cái mũ, cái nón nào ly kỳ đến vậy. Anh nhếch một nụ cười, vừa hài lòng vừa ngượng ngập và khẽ nói: “Cho nó ấm hai cái tai mà đỡ nhớ thương vợ con, ông ạ…”
Dạo ấy, tù cải tạo còn thuộc quyền quân quản, thuộc Bộ quốc phòng, chưa thuộc Bộ nội vụ. Quân đội trông nom tù, chưa phải công an. Anh em chưa phải vào các trại tù mà ở trong các lán, có dây thép gai bao quanh và bộ đội canh gác ở ngoài. Buổi tối chưa có lệ vào phòng giam, xích cửa lại, gióng sắt đưa lên giam tù trong đó suốt đêm, sáng mai mới tháo xích, mở cửa, ăn uống, ỉa đái trong đó luôn như các trại tù công an sau này. Nhưng mỗi tuần vài ba lần thế nào quân đội Vi Xi cũng có kiểm tra đột xuất, mà kiểm tra thường vào ban đêm. Nghe tiếng còi gắt gỏng rít lên là anh em phải vội vàng trở dậy, mắt nhắm mắt mở chạy ra sân đứng xếp hàng 2 để cho cán bộ kiểm soát. Anh “lán trưởng” sau khi kiểm lại số người trong lán, đứng nghiêm báo cáo.
– Báo cáo cán bộ, lán 4 trại 1, 30 người đủ.
Tên Thượng úy chính trị viên cầm đèn pin, đứng cạnh một anh lính mang AK tùy tùng, hất đầu ra lệnh:
– Được, cho vào.
Tù hàng hai lần lượt kéo nhau vô lán. Anh bạn tù Thiết Giáp của tôi đang giở thức giở ngủ nên lật đật cứ đội nguyên cái “mũ” không giống ai ra xếp hàng. Khi anh vừa đi qua tên Thượng úy, chợt có tiếng giật giọng:
– Anh kia đứng nại.
Tất cả anh em vô lán hết, chỉ còn NVP Thiết giáp đứng co ro ngoài cửa. Anh em lắng nghe cuộc đối thoại bên ngoài:
– Cái này là cái gì?
– Dạ… cái quần…
– Ở đâu ra?
– Vợ tôi gửi cho tôi.
– Tại sao mà anh nại đội cái quần của vợ anh…
– Tại trời lạnh quá… mà không có mũ…
– À, anh này bôi bác chế độ. Anh tên gì? Mai nên nàm việc…
Tên Thượng úy Vi Xi này anh em trong trại đặt tên là “Thượng úy không no”. Tuần nào sáng thứ Hai, y cũng lên lớp anh em về mọi thứ chuyện trên trời, dưới biển. Nói thì ngọng líu, ngọng lo, “l” đánh ra “n” nhưng lúc nào cũng thở ra giọng “đỉnh cao trí tuệ”. Một hôm trong đề tài “an tâm học tập, cải tạo” y ta lên tiếng: “Các anh không no, gia đình các anh không no, nhân dân không no, đã có đảng và nhà nước no”. Mọi khi, y ta nói trời trăng mây nước gì, tù cũng cứ ậm ừ, coi như gác bỏ ngoài tai. Bữa ấy, khi vừa nghe y nói tới đó, đám bạn tù cải tạo bỗng phát lên một trận cười rầm rĩ cũng với tiếng vỗ tay vang dậy. Y ta tưởng bở, lại càng đỏ mặt tía tai lên mà nói tiếp…
Nhưng sau này không biết có tên “thối mồm” nào đó mới lý giải cái cười rôm rả và tiếng vỗ tay không ngớt của tù cải tạo cho y. Y ta giận lắm. Giận lắm nên y hành hạ anh em tù sát ván. Một anh bạn tù đói quá, nhổ trộm khoai mì (sắn) mọc trên sườn non. Trước đây, cái tội như thế này chỉ bị cảnh cáo trước đội, rồi viết kiểm điểm “rút kinh nghiệm” là xong. Kỳ này, chính trị viên “không no” liền nhốt anh bạn nhổ trộm sắn 1 tuần vào trong cái cũi dây thép gai, một kỳ công của đỉnh cao trí tuệ. Đây là một túp lều, nhưng một túp lều quây bằng dây kẽm gai. Không có tường mái, chỉ có một tấm bạt được coi như mái lềụ Ở trong dây thép gai quấn ngang dọc, chằng chịt cao thấp. Người vô ở trong đó phải cẩn thận lắm không thì bị gai cào rách lưng, rách mặt, đặc biệt là ngồi không được vì thấp quá, nằm cũng không được vì không đủ chỗ. Lúc nào cũng phải nửa nằm, nửa ngồi cứ lom khom, lom khom…
Chính trong thời điểm này anh bạn tù Thiết Giáp của tôi lên gặp “y ta làm việc”. Khi về NVT mặt mũi chảy dài. Anh cho hay là cán bộ “không no” tuyên bố không cho anh đội cái mũ “thiếu văn hóa” ấy nữa. Anh phải làm kiểm điểm “hứa trước đảng và nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh lệnh của cán bộ”. Buổi tối, bên ngọn đèn dầu tuôn khói mịt mù, anh bạn thiết giáp của tôi thở phào phào ngồi viết kiểm điểm, vừa viết vừa run vì đói lạnh, vì không có cái mũ che tai… Chợt ông bạn hàng xóm bên phải của tôi là Thượng tọa Thích Thanh Long (nguyên Giám đốc Nha Tuyên úy Phật giáo) từ từ lên tiếng:
– Đừng có lo, rồi đâu có đó…
Nói xong, ông khẽ lục trong đám quần áo của ông lấy ra một tấm áo nâu dài, tấm áo “Thượng tọa” của ông mà đưa cho ông Thiết Giáp.
– Hãy cứ quấn cái áo này lên đầu cho ấm… Rồi ta tính…
Chúng tôi, ông Thượng tọa, ông Thiết Giáp, và tôi, là 3 người trong số 1 tổ “tam tam” trong đội rau. Ba người chúng tôi phụ trách một khu rau ở bên bờ suối, cạnh bệnh xá và khu B dưới gốc cây lim già… Chúng tôi cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm… nên hiểu nhau nhiều lắm. Được làm với ông già này là một điều may mắn lớn. Vì ông Thiết Giáp với tôi, từ xưa đến giờ đâu có biết cày cuốc, trồng rau trồng củ ra làm sao đâu. Ông già Thượng tọa chỉ vẽ cho chúng tôi hết thảy. Từ cách cầm cái cuốc, cái thế đứng khi cuốc phải như thế nào? Cuốc hùng hục “như trâu đánh mả” như tôi là không được. Cuốc như thế là “cuốc lật” dành cho việc cuốc ruộng, cuốc vườn. Ở đây trồng rau thì cuốc phải “đầm”, nhẹ nhàng, từ tốn như mưa dầm, mưa lâu thấm đất. Cuốc hùng hục như tôi thì sức đâu mà cuốc cả ngày cả buổi. Ông cụ còn chỉ cách sử dụng các loại cuốc thật nhỏ, chỉ lớn hơn cái bay thợ nề một chút thôi. Rồi còn ủ phân, pha nước tiểu, tưới bón, trồng trọt… Mỗi loại rau, mỗi thời kỳ đều tưới bón khác nhau, lúc nhỏ tưới bón khác, lúc lớn phải bón thúc lại khác. Bây giờ chúng tôi đang trồng rau cải ngồn ngộn, những trái su hào no tròn… Đi tưới nước giữa hai hàng cây cải tốt tươi, tiếng vòi nước hoa sen dội vào lá cải nghe rào rào, ông cụ ung dung làm việc, thần thái an nhiên. Ngoại cảnh hình như không ảnh hưởng được đến ông cụ. Ông giống như một ông già nhà quê thuần hậu, quanh quẩn bên cây lá trong vườn. Ông hình như không lo, không sợ cái gì. Ông nói ít, cái câu thường thấy ở ông cụ là: “Đừng có lo, rồi đâu có đó”…
Để cho cái việc của ông bạn Thiết Giáp “đâu có đó” đối phó với anh thượng úy “không no”, ông cụ Thanh Long một ngày Chủ nhật sau đó liền cắt cái vạt áo dài nâu “Thượng tọa” của ông lấy vải may cho ông bạn Thiết Giáp một cái mũ đội đầu. Bàn tay già nua run rẩy (năm ấy 1976 ông cụ đã 63 tuổi) đường kim mũi chỉ cũng thô sơ vụng về, nhưng ông bạn Thiết Giáp đón nhận cái mũ mà rưng rưng xúc động. Ông cụ đã cắt chiếc đạo y ra may mũ. Ai cũng tiếc chiếc áo dài theo ông cụ đã lâu, chắc mang nhiều kỷ niệm tu hành của một vị cao tăng, nhưng ông cụ chỉ cười xòa mà nói: “Thì nó cũng chỉ là cái áo…”
Đã lâu lắm rồi, người địa phương ở Sơn La nói vậy, mới có năm quá lạnh như năm nay. Đúng là “giậu đổ bìm leo”, vào cái lúc mà tù cải tạo ra Bắc, lại đụng ngay một trận rét kinh hồn… Mà xưa nay cái lạnh và cái đói có nó có liên hệ “hữu cơ” với nhau. Càng đói thì càng rét – mà càng rét thì càng đói. Anh em ta đã có người “nằm xuống” vì đói lạnh. Vũ Văn Sâm (Thục Vũ, viết văn, làm nhạc) chết đêm 16 rạng 17 tháng 11 năm 1976 bên bịnh xá, sau cơn gió mùa đông bắc đầu tiên. Đến đầu tháng Giêng 1977 (không rõ là ngày 3 hay 13 tháng Giêng, tôi nhớ không được kỹ lắm) Ngô Quý Thuyết tòa án quân sự vùng 4 cũng đi luôn, đi rất êm đềm, rất lặng lẽ. Sáng ra không thấy anh ta dậy nữa, lay chân gọi dậy thì người đã lạnh cứng từ lúc nào rồi. Trong tờ khai của đội trưởng đội của anh NQ Thuyết, có nói rằng “Anh NQ Thuyết được đội cử nuôi heo, anh đói quá nên thường ăn vụng cám heo. Chắc là bị ngộ độc nên đã chết”.
Ở xứ thượng du này có cái rất sẵn là đá và cỏ. Những bữa trời quang mây tạnh, trèo lên núi kiếm lá về ủ phân, thấy bát ngát toàn núi là núi. Những chỏm núi gần xa, chập chùng ngút mắt trông giống y như một màng lưới bao la mà mỗi ngọn núi là một mắt lưới. Sơn La: lưới núi. Hay thật, đúng y như thế thật. Tù mà ở trong cái lưới núi này thì chạy đi đâu cho thoát. Vì nhiều núi nên có nhiều loại đá. Một bạn tù trẻ tuổi ở khu B bên cạnh, Vũ Xuân Th. tay biệt kích dù mũ xanh kiệt hiệt có khá nhiều tài: đóng ciné, điêu khắc, vẽ, đánh bóng chuyền có hạng, mưu sinh kỳ tài… Bây giờ Vũ Xuân Th. kiếm ăn lần hồi những khi rảnh rỗi bằng cách chọn đá marble về gọt thành nõ điếu hút thuốc lào. Nõ điếu made in Vũ Xuân Th. thì khỏi nói, vừa đẹp vừa có khắc hoa, khắc chữ (theo yêu cầu) vừa kêu ròn rã không thể tả. Giá rẻ thôi: một ký sắn hay 2 cục đường tán 1 cái. Tôi và Vũ Xuân Th. là chỗ “bồ tèo” nên Vũ Xuân Th. có tặng một cái nõ điếu tuyệt vời: rất kêu (cái này là dĩ nhiên rồi) mặt trước có khắc nổi hình một con diều hâu đậu trên cành thông, một bên là một đóa hoa hồng, một bên nữa là khắc năm tháng… Khi đem tặng cái nõ điếu, Vũ Xuân Th. mới “bốc láo” rằng: “Một đóa hồng cho đại bàng cô đơn đây”. “Đại bàng đại biếc gì nữa ông ơi, đáng lẽ ông phải khắc một con quạ già mắc bẫy”.
Trong khi đó ông bạn già Thượng tọa của tôi cũng đi kiếm đâu được mấy mảnh đá dài dài. Lúc nào rỗi rãi lại thấy ông cụ ra bờ suối mài mài, đục đục…. Một hôm tôi thấy trong lều dụng cụ của tổ rau tụi tôi, hình dạng hai tấm bia đá thô sơ có khắc tên “Vũ Văn Sâm, mất ngày…”, “Ngô Quý Thuyết mất ngày…” Tôi nhấc tấm mộ bia lên, nhìn ông cụ? Ông cụ ngó mông ra khoảng rừng núi chập chùng mà nói: “Thì cũng mong đánh dấu được vài nắm xương tàn”.
Một sáng mùa đông vào khoảng nửa buổi, tôi đang lặc lè 2 thùng “ô doa” (arrosoir) tưới nốt cho khoảng vườn rau trước mặt, gần nhà bếp khu B thì bỗng có tiếng gọi khe khẽ, khẩn trương:
– Này, này…
– Ai đấy?
– Vũ Xuân Th. đây.
– Làm gì đấy?
– Bữa này làm “chảo trưởng”. Thổi cơm nhà bếp. Ăn cháy không?
Tại sao mà bạn ta hôm nay lại hỏi một câu “thừa thãi” như thế nhỉ. Tôi và Vũ Xuân Th. đều là dân “volley”. Tôi thì già rồi còn Th. thì đang sức. Trong làng “bóng chuyền” tụi tôi, mỗi khi mà cây nêu lỡ tay nêu sang lưới bên kia thì dân bóng chuyền kêu bằng “cơm nắm cho tù”, nghĩa là đối phương được biếu không một trái banh ngon lắm, bổ lắm, chắc ăn lắm, ít khi có lắm. Bây giờ chúng ta là tù “chính cống bà lang trọc” rồi, đói lòi xương, vàng mắt mà lại còn hỏi “có ăn cháy không?”. Chừng như nhận ra sự vô duyên của mình, Vũ Xuân Th. vội nói:
– Chạy ra góc vườn lấy mảnh lá chuối lại đây.
– Có ngay.
Sau đó từ cái lỗ mắt cáo của hàng rào nhà bếp khu B, qua đám lá duối và dây leo bìm bìm, tôi nhận được từ bạn ta Vũ Xuân Th. một cái gói lá chuối âm ấm, nóng nóng. Để ngay cái gói này áp sát vào bụng, mà đi về dưới gốc lim già bên bờ suối, nơi cái lều nhỏ của tiểu tổ chúng tôi.. Ôi chao, cái làn da bụng lép kẹp của tôi đang được sưởi ấm, đang được phỉnh nịnh. Cái may mắn này ít khi có lắm. Tôi phi về như bay. “Tây con” Thiết Giáp thấy tôi mặt mày tươi rói liền ngẩng đầu lên hỏi:
– Cái gì mà hí hửng thế?
Tôi bước vô lều, nhìn trước nhìn sau, rút từ trong bụng ra gói lá chuối còn tươm khóị Mở ra, miếng cháy vàng rộm, nóng hổi, đang bốc hơi.
“Tây con” sáng mắt ra, vội hỏi:
– Ở đâu ra thế?
Tôi chỉ sang khu B mà khẽ nói:
– Bạn vừa cho…
Tôi để phần ông cụ một miếng, ông cụ đang bận tay ngoài chỗ “cây giống”. “Tây con” và tôi chia nhau miếng cháy nóng, vừa ăn rau ráu vừa hít hà. Từ sáng đến giờ, mỗi đứa chúng tôi xách ít ra cũng hàng trăm đôi nước, chân tay, mình mẩy rã rời, bởi vì buổi sáng có cái gì vào bụng đâu. Dạo này hết bột mì cứu trợ rồi. Cái gọi là “bữa sáng” chỉ là một chén cháo bột khoai mì loãng đầy mùi hôi mốc. Không ra đâu vào đâu. Mùa lạnh nước suối cạn, phải lần xuống dưới lòng suối mới múc được nước. Leo lên bao bậc đá trơn, tay xách đôi thùng tưới, miệng thở dốc, sức cứ oải dần, tay chân càng lúc càng nặng trĩu, nhấc không muốn nổi. Trời thì lạnh và ẩm. Cái rét thượng du miền Bắc rất thấm, rất sâụ Người Bắc kêu bằng rét ngọt. “Cái ngọt nó lọt tận xương”, lại thêm xách nước nên áo quần thấm nước suối. Cái lạnh bên ngoài cái đói bên trong nó hành mình tơi tả. Đang khi sức cùng lực kiệt, đầu váng mắt hoa như thế thì có miếng cháy nóng này…”Ôi món quà từ trên trời rơi xuống”. Chưa có món bánh mì nào trên thế giới có thể sánh được với miếng cháy.
Ông cụ ăn từ tốn, không có ào ào như tụi tôi. Ông cụ làm còn nhiều, còn mạnh hơn tụi tôi nữa mà hình như ông già không thấy mệt mỏị Lúc nào cũng nhẩn nha, lững thững mà việc gì cũng xong. Ông cụ vẫn nói “từ lúc nhỏ đi tu ở nhà chùa…. thì tôi vẫn làm lụng như thế này, cũng dưa cà như thế này… chỉ tội nghiệp các ông…” Ông cụ chỉ vẽ cho chúng tôi cách làm vườn, trồng cây, bón tưới… Những công việc gì khó khăn, vất vả ông cụ giành lấy mà làm. Như cái món lấy phân bắc (phân người) về ủ, ông cụ cũng tự tay làm lấy. Hôm nay, sau khi ăn miếng cháy xong, ông cụ khẽ nheo mắt, tay giơ một nhúm thuốc lào mà nói “hút đi”. Thuốc lào thật, dẻo quánh, thơm nồng, đâu phải thuốc lào “ngải cứu” hay thuốc lào “lá cải khô”.
– Hút luôn hở cụ. Hay là xái nhì, xái ba?
– Hút luôn đi.
Trong cái lúc thuốc lào khan hiếm như lúc này, nếu có thuốc lào thật, đâu có dám hút luôn cả điếu. Phải hút xái nhì, có khi xái ba, tức là một điếu thuốc mà hút 2 hay 3 người. Người thứ nhất châm lửa, rít một hơi, người thứ 2 rít một hơi, rồi người thứ 3 hơi cuối cùng. Người nào mà được hút cuối cùng là “đặc biệt”, vì được hưởng cái hậu, được rít kêu lóc cóc… Hôm nay, trúng số rồi. Vừa được ăn “bữa lỡ”, lại có thuốc lào thật rít thẳng tay. Tôi hút xong điếu thuốc lào mà say lừ đừ. Từ mấy bữa nay, hôm nay mới có thuốc lào thật. Còn toàn hút thuốc lào “lá cải già tẩm nước điếu phơi khô”. Ăn xong, hút xong thấy đời sáng láng, phơi phới. Tôi liền tà tà đi ra gần chỗ nhà bếp, đằng hắng lấy giọng mà thưa với bạn ta rằng:
“Tương phùng được buổi hôm nay… Trùng phùng lại nhớ giờ này hôm sau”.
Tôi nghe thấy tiếng cười rinh rích rồi Vũ Xuân Th. vừa cười, vừa nói vọng ra:
– Được rồi, hiểu rồi… ông nội … Cứ khoảng giờ này ngày mai ông lại tới đây… Nhưng mà khéo léo đấy nhá.
Thế là cứ vào khoảng nửa buổi, 9 giờ rưỡi 10 giờ sáng những ngày sau đó, mỗi khi thấy bạn tôi “chảo trưởng” ra cơm, tiếng xẻng khua xuống chảo gang kêu xoèn xoẹt, là tôi lại lững thững giả vờ bắt sâu bọ, bên bụi ruối… rồi lĩnh từ tay bạn ta một gói cháy vừa chín tới mang về…
Nhưng cái thời gian “bồi dưỡng” này không được bao lâu. Chừng hơn nửa tháng sau, bạn tôi Vũ Xuân Th. đã rời khỏi nhà bếp, ra làm công việc khác. Nguồn tiếp tế của tụi tôi bị cắt. “Phúc bất trùng lai họa vô đơn chí”, bạn Thiết Giáp NVP của tụi tôi cũng điều sang đội chăn nuôi. Cái khu rau này, thượng úy “không no” tuyên bố: “Chỉ cần 2 người cũng đủ. Các anh khắc phục”. Công việc 3 người làm trước đây đã “bá thở” bây giờ còn lại có 2 người. Ông cụ gần như bao giàn hết công việc cũ của NVP nhưng tôi vẫn phải làm thêm. Nhưng điều đáng phàn nàn là trong thời gian bồi dưỡng vừa qua cái bao tử của tôi nó bắt đầu quen ăn “bữa lỡ” hồi 9, 10 giờ sáng rồi. Bây giờ “ăn quen nhịn không quen” cứ nửa buổi là tôi phờ phạc, đói mịt mờ, cất chân, cất không muốn nổi. Thấy tôi rũ rượi như “gà chết” ông cụ một bữa nhìn tôi rồi chắt lưỡi: “Đừng có lo…” Ông cụ cầm con dao, xách cái bị cói phăng phăng, chừng nửa giờ sau ông cụ về, đặt phịch cái bị vào trong bếp. Trong cái lều nhỏ của tụi tôi, lúc nào bếp cũng cháy lim dim, vừa để đun nước, hút thuốc vừa để sưởi những lúc nghỉ tay… Bây giờ ông cụ quạt lửa lên, lấy mấy củ sắn ở trong bị ra bỏ vào bếp nướng. Ông cụ bảo tôi ra ngoài coi “động tĩnh”. Tôi lại bắt đầu mừng vì có đồ ăn, nhưng lại ghê vì tôi biết ông cụ vừa lên trên đồi lấy sắn của trại. Ở các trại tù hoặc các nơi đóng quân của Vi Xi, ở chung quanh thế nào cũng có một số đất đai thống thuộc. Ở vùng đồng bằng hoặc trung du thì trồng lúa, trồng ngô khoai trồng trà, trên thượng du như Sơn La này thì trồng sắn, trồng ngô, trồng mía. Thứ sắn lưu niên để từ năm này sang năm khác, coi như là nguồn lương thực dự trữ. Đây là thứ cây lương thực dễ trồng nhất trong thiên hạ. Nhổ cây sắn lên lấy một chùm củ. Xong rồi cứ cây sắn ấy, lấy dao chặt một gang tay, phải có ít nhất là 3 mắt. Cuốc một nhát cuốc hay lấy dao đào lên, nhét một cái hom lên trên mặt đất. Cứ thế là chừng năm sau, mỗi cái hom lại thành một cây sắn, lại cho một chùm củ. Đất tốt thì củ lớn, đất xấu thì củ nhỏ. Trong những thứ lương thực ở trại tù miền Bắc, sắn được xếp vào hạng bét. Chỉ tiêu, cân đo, đong, đếm của lương thực là 1 gạo ăn 2 ngô, hay là 3 khoai, hay là 4 sắn. Dù là hạng bét nhưng đối với tù đói nhăn răng, nó vẫn là rất quý. Tù mà động đến sắn, ngô, khoai của trại… là xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa”. Nhất là trong khi thượng úy “không no” cứ như cái bóng ma, lúc ẩn lúc hiện, chuyên môn rình rập theo dõi anh em. Đó là nghề của hắn.
Tôi có một anh bạn cùng khóa, NKB xưa nay tính tình “nhà binh” cho đến tận kẽ răng. “Reglo” số 1, việc làm răng rắc quần áo là ủi thẳng tắp, giầy botte de saut bóng láng, huy chương đeo một dề, xe díp bóng ngời nệm trắng tinh tươm. Đi cải tạo ra Bắc bây giờ bạn tôi, không biết vì không hợp thủy thổ hoặc đói khát ra sao mà răng rụng hết, thành một ông già móm xọm. Nhưng bạn tôi lại thèm đường thèm mật quá. Ở gần khu trại mộc của đội anh có một khu trồng mía. Mía cứ bị bẻ trộm hoài, thượng úy “không no” rình rập mãi mà không bắt được ai. Một bữa, thượng úy thấy thấp thoáng bóng người trong ruộng mía liền nhảy ra bắt giữ. Gặp ông bạn móm xọm của tôi.
– Anh vào đây nàm gì? Ăn trộm mía phải không?
– Tôi đi kiếm rau “tàu bay”, tôi đâu có ăn trộm mía.
– Không ăn trộm mía vào đây để làm gì?
Anh bạn tôi liền há mồm ra, chỉ vào hai hàng lợi không răng mà phều phào nói:
– Tôi đâu còn răng mà ăn mía.
Thượng úy “không no” thấy vậy, không còn bắt bẻ vào đâu được nữa nên vùng vằng bỏ đi. Nhưng y ta nhất quyết bắt cho bằng được người ăn cắp mía. Một bữa không biết y ta đến từ bao giờ, cải trang ẩn dạng ra sao mà ông bạn móm của tôi vào chặt một cây mía là bị y ta bắt được ngay tại trận. Y rất bằng lòng về chiến công “bắt trộm” của mình. Bạn tôi quá thiếu chất đường (cũng như hầu hết các tù cải tạo thèm chất ngọt và thèm mỡ) nên thường lén vô ruộng mía, đem dao chặt vội một vài đẫn, nhét vào người mang về. Lấy dao dóc mía, chẻ mía ra từng miếng nhỏ đưa vào miệng không răng mà nhần, mà ngậm. Nó cũng khỏe lên được phần nàọ Còn vỏ mía thì phải chôn xuống đất ngoài vườn.
Ngay bữa bắt được kẻ trộm mía, thượng úy “không no” liền biểu diễn quyền uy của mình bằng cách khác; không có giam tội nhân vào cái cũi dây kẽm gai mà y bắt ông bạn không răng của tôi cầm nguyên một cây mía đứng riêng ở ngoài cổng trại. Y ta nói: “Hãy nhìn cho kỹ đi, thượng cấp của các anh đấy”. Anh em đi làm về đều thấy ông bạn tù gì, cầm cây mía đứng lom khom, cúi mặt không dám nhìn ai. Ai cũng thương anh… đồng cảm với anh vì đi tù cải tạo trăm người như một đều phải “cải thiện” cách này, cách khác. Con người “một động vật xã hội”, nên “đói là đầu gối phải bò”. Thế thôi, chả ai coi thường, chả ai bỉ thử anh đâu. Nhưng tôi biết, bạn tôi vốn trọng phép tắc lễ nghi nên bạn tôi đau lắm.
Do vậy nên bây giờ thấy ông bạn già Thượng tọa đi lấy trộm sắn về cho tôi ăn vì tôi thèm quá, đói quá, tôi vẫn cứ ghê ghê trong bụng. Thượng úy “không no” mà bắt được, không biết y ta sẽ hành hạ mình cách nào đây? Nhưng sợ bị bắt là cái lo xa. Còn đói cồn cào ruột gan là cái lo gần. Thế thì ta hãy cứ ăn cái đã. Đang đói bụng mà lại có sắn lùi bếp than thì nhất thế giới rồi. Tôi cứ chạp thẳng cánh. Ông cụ đi lấy sắn, nướng sắn mà ông cụ có ăn bao nhiêu đâu. Tôi ăn phần lớn. Và sau đó cứ vào khoảng 9, 10 giờ sáng, tưới bón xong là ông cụ xách cái bị đi ra. Lúc thì sắn lúc thì khoai, lúc thì củ giong… Tôi cứ có ăn đều đặn.
Bạn “Tây con” Thiết Giáp NVP phải đổi sang đội chăn nuôi, trong cái rủi lại có cái may. Bên ấy có công tác lên rừng đẵn cây chuối hột về cho heo ăn. Được ra ngoài thuộc “diện rộng” đi xa xa, gặp được “đồng bào” nên mới có cơ hội kiếm ăn, đổi chác. Vắng mặt tên quản giáo, len lén đem được một cái quần tây, một cái ao pull, một cái kính, một cái bật lửa… đem “quy ra thóc” lấy xôi, lấy cơm mắm… hoặc “quy ra thuốc” lấy thuốc lào… đều được cả, thành ra tụi tôi dạo này có vẻ “phong lưu” hơn trước.
Một bữa lấy sắn về ông cụ đang ngồi trong lều, quạt đang đều tay, sắn đã bắt đầu chín bốc mùi thơm ngậy, tôi đã chực sẵn đến giờ ăn, thì bỗng có tiếng động nhẹ đằng sau. Tôi quay lại thì thấy đôi ủng màu đen đã đứng sau lưng tự lúc nào rồi. Tôi chết sững. Thượng úy “không no” đã tới.
– Biết ngay mà, cứ vào khoảng 10 giờ nà cái nều này có khói – Thượng úy “không no” đắc chí.
Tôi cứng họng không biết nói năng gì, tâm thần hoảng hốt. Ông già Thượng tọa của tôi, khẽ ngước lên, nhìn thượng úy “không no” rồi điềm đạm nói:
– Cán bộ thứ cho. Anh em chúng tôi… đói quá…
Giọng nói ông bình tĩnh, người ông vẫn ngồi vững vàng, cái tay quạt sắn vẫn đều đặn không thay đổi, không cuống quýt, mà cũng không ngừng nghỉ.
– Như thế này là nâu rồi đấy nhá. Không phải chỉ một hôm nay mà thôi đâu?
Thượng úy “không no” vừa nói vừa quay ra xem xét, kiểm soát căn lều. Chợt y thấy hai cái mộ bia mà ông già Thượng tọa của tôi mới đục xong còn để đó. “Vũ Văn Sâm mất ngàỵ…”, “Ngô Quý Thuyết mất ngàỵ…” Y đọc mộ bia xong nhìn chúng tôi, một anh tù già tóc bạc phơ, một anh tù trung niên xác xơ ốm đói. Hình như có một suy nghĩ gì đó thoáng qua, nên nét mặt y có vẻ đắn đo, xong rồi y lững thững đi ra mà nói:
– Sau không được thế nữa nhá. Ninh tinh.
…Cho đến bây giờ không biết vì lý do nào mà tên thượng úy hầm hừ ấy đã bỏ qua cho chúng tôi. Có thể vì nhìn những tấm mộ bia, nghĩ đến những người anh em xấu số của chúng tôi đã chết vì đói lạnh… hoặc là phong thái “đại hùng, đại lực, đại từ bi” của con nhà Phật trong phút giây nào đó đã khơi dậy được “chút tính người còn sót lại” trong y?

Phan Lạc Phúc (Trích “Bè Bạn Gần Xa”, Nxb Văn Nghệ, 2000)

Share this post