Thần Hổ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 2 (Tiếp theo)

Thần Hổ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 2 (Tiếp theo)

THẦN HỔ
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA
* Hương Lan xuất bản (Hà Nội – 1937)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 2
MA TRÀNH

HAI

Kẻ kia nếu đã được ở một vài năm trên miền rừng thiêng nước độc, nếu đã được ngày ngày chung đụng với dân Mường – một thứ dân mà phong tục, luân lý khác hẳn phong tục và luân lý của người dưới chợ, một thứ dân trong óc chứa đầy những sự dị đoan bí hiểm và khó hiểu, một thứ dân tin “ma gà”, “ma xó” biết phép “mo”, có phép “chài” – kẻ ấy chắc đã từng, trong những khi đi một mình trên các đường hẻm chạy quanh co ven rừng hay ven núi, thấy một vài căn nhà bỏ bơ vơ trơ trọi ở những nơi âm u hiu quạnh, một vài căn nhà trông mé ngoài thì tưởng có người ở, mà vào trong thì lại hóa ra không, một vài căn nhà chỉ dựng lên để chứa âm khí, để che chở những cổ quan tài.

Vì đâu lại có những căn nhà mồ ấy? Trên mạn ngược, mỗi khi có người chết, tang gia hay để thi thể nằm yên một chỗ, rồi cho gọi thầy Mo về làm lễ gọi hồn. Khi hành lễ, xác chết bị bó chiếu hoặc liệm bằng vải, rồi bỏ vào một cây gỗ đục rỗng ở giữa. Sau khi chiếc áo quan kỳ dị ấy đã được gắn kỹ càng bằng nhựa thông, bằng keo hoặc bằng sơn hay cánh kiến, họ hàng người chết phải đem dựng nó vào một xó nhà. Rồi cứ ngày ngày đến bữa cơm ăn, tang gia lại để trên mâm thêm một cái bát một đôi đũa, để dành cả chỗ ngồi cho kẻ chết tựa hồ như thuở kẻ ấy còn sống vậy. Trước khi ăn cơm, họ hàng lại vào đứng trước quan tài mời chào người chết. Nói chuyện với ma và gọi tên nó ba lần, họ làm như thế khi đến lúc nào trong xó có tiếng người trả lời câu hỏi. Lúc bấy giờ ma xó đã thiêng rồi, họ có thể giao nhà cho nó giữ gìn được, mỗi khi cả nhà đều đi vắng. Nhưng cốt nhất là người nhà phải để dành chỗ ngồi ăn cơm luôn luôn và trò chuyện với ma luôn luôn tựa như nó vẫn còn sống ở trong nhà vậy.

Thế là từ đấy, mặc dù nhà bỏ không, không có ai canh giữ, không bao giờ sợ mất mát một tý gì. Có người lạ vào nhà ư? Người lạ đó phải giữ mình rất cẩn thận, kẻo mà chết uổng mạng. Một là ngồi không nên quay mặt lại bàn thờ mà phải ngồi xoay lưng vào, hai là thấy những đồ vật gì trong nhà đừng dại dột sờ mó tới. Uống một bát nước, ăn một nắm cơm, nắm xôi; vừa ăn uống thoát miệng đã nghe trong xó vẳng ra có tiếng đếm: Một! Hai!… Lấy trộm một vật gì cũng nghe tiếng đếm như vậy. Đấy là dấu hiệu của ma xó. Khôn hồn thì chạy ngay đi tìm người nhà con ma ấy, thú thực cùng người đó, người đó sẽ cứu cho. Họ sẽ đem mình về nhà, và trước khi tới ngõ, họ sẽ đổi áo ngoài và nón của họ cho mình; họ sẽ mặc áo mình và đội nón mình rồi đi vào nhà, để mình đứng ngoài ngõ. Họ sẽ lại chỗ uống nước thừa, xôi ăn dở, họ ăn một nắm cơm, uống một ngụm nước. Con ma xó, theo lệ thường, lại đếm: Một! Hai! vân vân… Lúc bấy giờ tên người nhà vội vàng bỏ nón ra, cởi áo ngoài ra, giả vờ lên giọng giận dữ mà bảo rằng:

– À, mày đếm cả tao à! Tao là anh (hay họ hàng) mày đây mà! Lúc nãy tao đói quá, ăn một nắm cơm mày đã đếm rồi, tao không nói gì, bây giờ, mày lại muốn đếm nữa hay sao? Muốn tốt thì giải lại hồn vía cho tao, mày chực hại cả anh mày à?

Thế là xong việc. Người Mường vốn là một dân thực thà, không biết gian trá; ma Mường, vì thế, cũng không biết gian ngoan. Con ma xó tưởng mình lầm thật, nó vội vàng trả lại những vía đã cướp của kẻ ăn vụng xôi. Ngoảnh nhìn xuống đất, trông cái nón, tự nhiên, có vài ba giọt máu. Ấy là ma xó đã tha cho người đội nón rồi đó. Hễ số đếm lên đến bao nhiêu, thì số giọt máu lên đến bấy nhiêu. Thực là một điều kỳ quặc.

Giá kẻ ăn trộm hoặc ăn vụng kia không biết cách cứu chữa cho mình, thì chỉ trong ít lâu tất sẽ chết không có cách gì thoát được nữa. Ma xó trên Mường là như thế.

Bây giờ đến một câu chuyện lạ hơn nữa: là sự ma xó hóa ra ma rừng.

Mỗi khi trong nhà đã có ma xó, thì người Mường để con ma ấy mãi mãi trong một góc tường, cho tới khi có ma xó mới đến thay. Con ma mới này là một người trong họ vừa mới chết. Khâm liệm, nhập quan và hành lễ cũng theo giống như con ma cũ. Lúc nào ma mới nói được, thì lúc ấy phải tống ma cũ ra đồng. Sự tống ma cũ đi không phải là một sự dễ. Họ hàng phải tụ nhau lại, làm lễ linh đình, rồi rước quan tài ra nhà mồ. Nhà mồ ấy làm ở một nơi hẻo lánh, bên cạnh đường đi. Nó chia ra làm hai gian. Gian trong dùng để quàn cỗ quan tài. Gian ngoài dùng để bày đồ đạc. Theo lệ thường, mỗi khi tống ma xó đi, trong nhà phải điều đình thân thiện với con ma ấy. Họ chia của cải đồ đạc ra làm hai phần bằng nhau: một phần để ở nhà, một phần là của ma. Làm như thế, bởi lẽ từ đây ma phải sống riêng một mình, họ hàng không nuôi nó nữa. Khi đem nó vào rừng, phải khuân đồ đạc ra bày nhà mồ cho nó, và dắt một nửa trâu, dê, gà, lợn đi theo. Đến nhà mồ, sau khi đã xếp đặt xong xuôi, người nhà dặn với một câu rằng:

– Đây gà, vịt, trâu, dê của anh (hay của chị) đây nhé!

Rồi bèn thả những con vật ấy ra giữa đồng, mặc cho chúng nó tự do chạy nhảy. Những vật ấy từ lúc đó là của riêng của ma, không phải của người nữa. Không lấy được chúng nó, bắt được hay cướp được chúng nó. Vì hễ đụng đến là có quả báo ngay: con ma thiêng kia sẽ làm cho mình điêu đứng đủ đường kỳ cho đến chết thì thôi.

Khách lữ hành đi một mình trong rừng thường khi hay thấy những gian nhà mồ dựng ngay bên đường hẻm. Những căn nhà ấy trông mé ngoài, không khác gì một căn nhà làm để ở, mà có người đương ở; trong nó tươm tất sạch sẽ, cửa ngõ đều mở rộng, dưới sàn hay bên cạnh nhà lại có các súc vật ta vẫn thường nuôi. Một đôi khi, căn nhà mồ ấy lại giống như một cái quán bán nước. Mé ngoài, cũng có bàn có chõng, có hàng hóa bày la liệt trên bàn. Nào là đĩa xôi, nào là vò nước vối, nào là đĩa trầu bày gọn ghẽ phân minh. Ai dừng chân qua đấy muốn nghỉ ngơi thì cứ việc vào quán, chào chủ hàng rồi xin phép ăn uống cho no. Ăn xong, gọi chủ hàng giao trả tiền cơm nước, rồi cứ việc bỏ tiền ở đấy mà đi. Nhưng cốt nhất là đừng lừa dối, đừng ăn quịt; ăn bao nhiêu trả bấy nhiêu, thì đi đường sẽ được bình an vô sự. Nếu vô phúc gian giảo, thế nào cũng không về được đến nhà.

Mỗi khi vào quán cứ gióng tiếng gọi lên thì sẽ có tiếng người đáp lại, chỉ nghe thấy tiếng nói không bao giờ được trông thấy bóng người. Kẻ nào bạo gan mà trót lỡ độ đường, có thể xin vào ngủ trọ được, miễn là trước khi vào trọ, đã điều đình sẵn với chủ nhà mồ. Chủ nhà mồ kia chả khác gì người sống mấy, cũng biết nói năng và giữ gìn của cải; chỉ khác người ta ở chỗ không có hình hài mà thôi.

Những con “ma Mường” ấy, không phải con nào cũng thiêng cả. Cũng có con, sau khi không làm ma xó nữa, dần dần biến hẳn đi, không để lại dấu tích gì. Có lẽ nó đi đầu thai. Phần nhiều đấy là các ma chết già; còn những ma chết trẻ hoặc bất đắc kỳ tử thì thiêng lâu, và có khi hiện ra người, đi đứng ăn nói như người được. Nhiều con ma lâu ngày thành tinh có thể quyến rũ người lữ khách, và ăn ở với người sống như vợ chồng. Mấy con tinh thường là đàn bà con gái; mỗi khi nó đi lại với đàn ông thì rút dần dần hết sinh khí và nhân điện của người, làm cho người ta phải xanh xao, thẫn thờ, mai mòn héo hắt, mà chết.

Những kẻ không kinh nghiệm, không từng trải, có khi lỡ vướng phải những con tinh dâm ô mà thiệt mạng. Bộ Liễu Trai, cứ lấy phương diện ấy mà xét, thật không phải là một pho chuyện hoang đường.

(Hết Phần 2 Chương 2)

Share this post