Tôi Làm Tôi Mất Nước (Hồi Ký – Lê Văn Phúc) Chương 13

Tôi Làm Tôi Mất Nước (Hồi Ký – Lê Văn Phúc) Chương 13

TÔI LÀM TÔI MẤT NƯỚC
* Hồi Ký – Lê Văn Phúc
* Thế Giới Ấn Quán tái bản lần thứ năm (Texas, 1989)
* Nguồn: Trang mạng Bóng Thời Gian (www.levanphuc.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 13

Dẫu được nghe kinh và chiêm bái hình ảnh từ bi bác ái của đức Phật tỏa ánh đạo vàng như thế, nhưng qua  làn khói hương nghi ngút chốn tôn nghiêm, tôi vẫn thấy ẩn hiện những đôi mắt nhìn mình không chớp. Những đôi mắt mòn mỏi đợi chờ của mẹ của cha, những đôi mắt căm hờn của bạn bè trong trại cải tạo, những đôi mắt ngơ ngác của bầy em thơ dại, những đôi mắt khiếp đảm của thuyền nhân, những đôi mắt tuyệt vọng của nạn nhân bị bắt cóc, hãm hiếp, những đôi mắt cầu cứu của người ở đảo… Những đôi mắt ấy nhìn tôi hình như trách móc, khinh rẻ, oán hờn, kết tội, như có ý bảo rằng nếu không có những kẻ tồi tệ, ươn hèn, đốn mạt như tôi thì đâu có đến nỗi nước mất nhà tan, sẻ đàn tan gánh, đâu đến nỗi đau thương uất hận ngút trời. Những đôi mắt ấy theo tôi cả trong lúc ăn lúc ngủ, rong lúc tôi khiêu vũ, đánh bài. Những đôi mắt ấy ám ảnh tôi ray rứt, triền miên như các chứng nhân theo sát một tội đồ.

Rồi đến một hôm, nhân đọc cuốn sách Cõi Tự Do của Giao Chỉ, tôi mới biết đích thực trăm phần trăm không còn chút gì ngờ vực nữa:

Rằng chính tôi là một trong những thủ phạm làm mất nước!

Giao Chỉ với tôi khác nhau một trời một vực. Lẽ tất nhiên, tôi là kẻ ở dưới vực. Cứ xét hồ sơ quân ngũ thì rõ: Ông này đi lính xuất thân từ quân trường Dalat nên tự nhận là lính trận và có bút hiệu là Lính Chiến. Còn tôi, sinh viên sĩ quan Thủ Đức hùng anh – như lời bản nhạc của quân trường – nhưng về binh sở nên gọi là Lính Văn Phòng. Giá trị của lính chiến nghe vẫn oai hơn lính văn phòng rồi nhá!

Ông này ở nhà binh, đóng tới lon Đại Tá là làm lớn lắm, ba bông mai bạc chớ bộ! Còn tôi lèo tèo hai bông mai vàng bé xíu xìu xiu.

Tôi có mỗi cái tên cúng cơm đem ra làm chuẩn một mục đề, còn như ông này nào Hồng Hà, Lính Chiến, xong lại lấy bút hiệu Giao Chỉ – đại diện cho dân An Nam ta thời xưa – thế là bao quát vấn đề lắm. Cứ xét hồ sơ quân bạ như rứa, hai bên khó lòng ngồi chung với nhau. Hơn nữa, ông này lại viết báo viết văn lừng lững một cây xanh rờn, tôi rất hãi và khép nép tránh xa.

Đùng một cái, trên bàn giấy của tôi có cuốn Cõi Tự Do do tác giả gửi tặng. Lòng ưu ái ấy kèm theo cái chỉ thị là hãy nghiên cứu tình hình địa phương để tẩu tán dùm ít sách. Tôi chưa phúc trình thượng cấp vụ bán sách, vì mải mê đọc cuốn sách mới ra lò xem nó ra sao.

Cuốn sách được giới thiệu là “tác phẩm tiêu biểu cho 8 năm sinh hoạt cộng đồng, khi người lính giá súng để chiến đấu bằng cây bút có lửa”, “thiên hùng ca tặng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” và còn nhiều nhiều nữa. Tác giả viết về cuộc sống phiêu bạt giang hồ của một nhóm gia đình đi từ miền Đông qua miền Tây để tìm chút nắng ấm quê hương qua mái tóc đen, qua mớ rau muống, cọng giá sống, lá rau dấp cá, để đứng bên này đại dương vời trông cố hương xa cách muôn trùng, để tìm về kỷ niệm.

Giao Chỉ phê bình một cuốn sách của tác giả Nguyễn Cao Kỳ, và theo thứ tự thời gian kể những chuyện về quê hương, chiến tranh, đời sống tị nạn với khá nhiều vấn đề phức tạp. Báo chí đã có những bài điểm sách, ca ngợi nhiệt tình. Lại có các nhà văn nhà thơ nhà giáo phát biểu cảm tưởng.

Tất cả những bài trong cuốn sách tôi đều yêu. Yêu vì sự chân thực, nhiệt tình và phong cách. Nhưng điều mà tôi yêu nhất, khoái nhất là bài “Ngôi trường cũ”. Tác giả nhớ về Khóa Cương Quyết Dalat 1954, những ngày thụ huấn gian lao, những kỷ niệm vui buồn quân ngũ, những kẻ còn người khuất, những kẻ lạc loài… Ngày họp mặt Hội Ái Hữu Cựu SVSQ Dalat với các đàn em tại xứ người, niên trưởng Giao Chỉ cùng anh em ôn lại chuyện cũ tích xưa, có nói: “Chả hiểu đàn anh ra trường làm ăn ấm ớ thế nào mà nước non cùng quân lực tan tành trong khoảnh khắc”.

Rồi đoạn chót, Giao Chỉ nhắc anh em cố giữ lấy chút tình cốt nhục để làm sao mà gắn thành một khối. Giao Chỉ nói tiếp: “Và nếu sau này có ai tổ chức Hội Những Người Làm Mất Nước cũng xin vui lòng kết nạp tôi làm hội viên, bởi vì khi ta đã từng học ở ngôi trường cao cả ấy thì chắc chắn hôm nay phải chia sẻ nỗi nhục nhằn dù là với tư cách của kẻ thất phu”.

Mấy hàng chữ chót của trang 132 đã khiến tôi nhẩy tưng tưng lên như vừa khám phá ra cái gì mới lạ.

Đây rồi, ông này nói rằng thì là ai lập Hội Những Người Làm Mất Nước thì cho ông ấy vào một chân.

Cái ý tưởng viết một bài tố khổ, tả oán về chính mình làm cho đất nước đi đoong thì tôi đã có trong đầu từ mấy năm nay mà chưa dám nói ra đấy thôi! Nay được lời như cởi tấm lòng, đã có Giao Chỉ nổ pháo lệnh rồi thì mình a-la-xô xung phong làm mau đi chứ, kẻo có người khác lẹ mồm nhận là kẻ làm mất nước thì mình còn cái chi chi để nói nữa bi giờ?

Cho nên như một mớ lửa rơm nổi cháy phừng phừng, tôi viết Tôi Làm Tôi Mất Nước. Đó là lý do tại sao có loạt bài này.

Lai nói về đọc Cõi Tự Do, tôi là thứ lửa rơm nên chỉ cháy một chút là tịt ngúm. Cuộc đời trước mặt vẫn chỉ là áo cơm, cơm áo nhọc nhằn, nên ngày nghỉ, thay vì tham gia công tác xã hội, cộng đồng thì tôi lại tìm niềm vui bên cạnh cái cần câu, ra ngoài biển thả hồn về Vũng Tàu, Cam Ranh, Phú Quốc, Nha Trang, Đà Nẵng… Và lại mần thơ tựa một nhà thơ hải ngoại thương ca vọng về cố quốc mà ruột rối tơ tằm, não nề tâm sự đầy vơi:

Sương Khuya

Một mình bên ghềnh đá
hững hờ buông giây câu
mênh mang trời biển cả
xôn sao sóng bạc đầu
nhấp nhô thuyền mấy lá
trôi dạt biết về đâu?
trời chiều đùn mây tỏa
chập chờn cánh hải âu
lạc loài trên xứ lạ
nhìn nước cuộn lòng đau
nước dập vùi tàn phá
nước chia cách địa cầu
nước ngăn tình đôi ngả
nước khơi mối thảm sầu
cố hương vời vợi quá
nhớ thương gửi về đâu?
quê nghèo xưa vất vả
nắng mưa phận dãi dầu
đất cầy thơm lúa mạ
nhọc nhằn tấm áo nâu
gái quê hồng đôi má
xinh xinh giấc mộng đầu
giọng hò ru lơi lả
đong đưa mấy hàng cau
bờ tre xanh bóng lá
nong tầm thương cánh dâu
sáo diều nhà ai thả
trẻ đùa bên lũ trâu
chim hót ngoài mái rạ
đàn cò lội trắng phau
khói lam chiều nhẹ tỏa
lối mòn vương ánh sao
đã xa rồi tất cả
thân ga kiếp con tầu
cánh bèo trôi nghiệt ngã
nước vẫn chẩy qua cầu
gió lạnh hồn băng giá
sương khuya tóc ngả mầu
ta nhìn ta khác lạ
người cũ tìm nơi đâu
những mảnh đời tơi tả
bao giờ còn thấy nhau?

Thế là không như tôi tưởng, rằng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc và tôi xa cách nhau muôn trùng cả về cấp bậc lẫn uy danh lại có thể ngồi chung được với nhau, thì hôm nay đây, hai quân trường Dalat–Thủ Đức đã thành liên trường, hai cấp tá–úy đã là huynh đệ chi binh vì mình cùng chung đời lính, thương nhau khác chi nhân tình! Hai kẻ viết lách, một là nhà văn một là chòi văn đã cùng chung lối về xóm nhỏ. Và nhất là cả hai đều có tư tưởng hùng vĩ trùng hợp y chang, tự nhận mình là kẻ đã làm mất nước, dám nói khơi khơi bằng văn tự, thì kể như anh em nhà binh chúng tôi từ nay trở thành những kẻ khác hội cùng thuyền.

Từ đó suy ra, chúng tôi cùng chung chiến tuyến. Đại Tá Giao chĩ đã tiếp tế cho tôi một chút xăng vào ngòi bút để khi viết họa may có chút lửa. Nếu không có lửa, ít ra cũng bay lên tí khói.

Nhòm vào sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại, từ khi mất nước đến nay, giới văn nghệ sĩ đã đóng góp tuy chưa nhiều nhưng cũng khá bộn. Bộ môn nào cũng hướng chủ đề về quê hương đất nước mến yêu, về hình ảnh ba miền Huế–Saigon–Hà Nội, về người chiến sĩ Cộng Hòa dũng cảm, về những trại cải tạo tù đầy, về những chờ đợi của người ở quê nhà mong ngày giải phóng Việt Nam.

Như Bùi Văn Bảo, Nguyễn Xuân Vinh, Cao Thế Dung, Vũ Thụy Hoàng qua nghị luận, biên khảo sử liệu, sách truyện. Như Hà Huyền Chi, Thanh Nam, Cao Tần, Du Tử Lê, Bắc Phong với những vần thơ chất chứa thành sầu tha thiết với quê hương. Như Việt Dzũng, Nguyệt Ánh, Nguyễn Đức Quang với những nhạc phẩm nung đúc ý chí đấu tranh để có một ngày về. Như một Trần Cao Lĩnh đi khắp bốn phương trời, hành trang chỉ với chiếc máy hình đã ghi lại được biết bao nét đẹp của ba miền đất nước. Đó là tình tự dân tộc, là quê hương ta, hãy nhớ quay về.

Và còn biết bao hoạt động khác của hội đoàn, sinh viên, cựu quân nhân, phụ nữ, lão niên, của giới truyền thông… vẫn ngày đêm ấp ủ tình đoàn kết, cố gắng vun bồi cho gốc nhà Nam được vững vàng, dẫu rằng nay sống trên đất tạm dung.

Nhìn vào các hình ảnh tập thể, sinh hoạt mạnh mẽ và đầy tin tưởng như thế, tôi tự nhận thấy rằng ngay cả lúc bỏ quê hương đi tị nạn, tôi cũng không đóng góp được gì cho đại cuộc. Trái lại, tôi vẫn còn cái đầu óc nhỏ nhen tự ái, khoe khoang, chỉ trích, tiếp tục làm những điều lăng nhăng cà chớn.

Đã một lần mất nước, nay không hối hận ăn năn chuộc tội mà còn kéo cho dài thêm ngày về thì quả là tội tôi lớn lắm.

Khi nhìn rõ chính mình, thời gian đã vùn vụt hơn chín năm quê người lưu lạc. Dẫu muộn còn hơn không, tôi cần phải tham gia một hội như Giao Chỉ đã khơi mào để làm một cái gì chuộc tội.

Hội đó có tên: Hội Những Người Làm Mất Nước!

Mỗi khi lập hội, những người chủ trương thường nhắm vào các mục đích cao cả, lý tưởng, hoặc tương thân tương ái, xã hội hay liên quan đến tôn giáo, nghề nghiệp, họ hàng, đồng hương đồng tỉnh. Như “hội kín” là hội bàn đến các chuyện bí mật, hành tung nguy hiểm, nguyên tắc là lúc nào cũng phải kín như bưng, để cho hội bị hở là mạt lộ. Như “hội ái hữu” tự nó có nghĩa là liên lạc tương trợ, họp bạn định kỳ. Chẳng hạn như hội ái hữu cựu học sinh, hội ái hữu các khóa quân trường, hội La-Vang, hội Phủ Giầy, hội Thánh Mẫu, hội đồng hương Nam Định, hội tương tế Quảng-Đà, hội Lê tộc, hội ái hữu nghệ sĩ cải lương, hội văn nghệ sĩ, hội nhiếp ảnh, hội Chèo Cổ Bắc Phần… Cứ phác họa sơ sơ như thế thì chỗ nào có người sinh sống là chỗ ấy có hội.

Duy có cái hội với tên nghe lạ hoắc là Hội Những Người Làm Mất Nước thì chưa có ai cầu chứng tại tòa, cho nên bây giờ tuy sinh sau đẻ muộn nhưng muộn còn hơn không, hơn để cho nó chìm xuồng.

Hội có tuyên cáo trước quốc dân đồng hồ như vầy:

– Nhận định chắc chắn rằng: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Nay nước mất, không trách chi ai mà kẻ thất phu phải cúi đầu chịu tội trước mới phải đạo làm dân.

– Nhận định rõ ràng rằng: Dù mất nước nhưng thực tế và thực thể thì nước vẫn còn đó hình cong chữ S chứ đâu có suy xuyển chút nào.

– Nhận định thẳng thừng rằng: Tuy không nhìn thấy rõ bàn cờ quốc tế nhưng thân phận nhược tiểu luôn luôn là quân cờ đổi tốt thay xe bất cứ lúc nào đại cường quốc cần quân bình cán cân lực lượng.

– Nhận định nghiêm chỉnh rằng: Từ ngày bỏ nước ra đi, thân phận lưu vong dù ấm no rủng rỉnh, vẫn cứ mơ về chốn cũ người xưa, nhớ nhung chất ngất.

– Nhận định đứng đắn rằng: Vận nước qua cơn bĩ cực ắt tới thuở thịnh trị thanh bình và hạnh phúc.

– Nhận định chủ quan rằng: Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn kiến trung thần, tổ quốc có lâm nguy mới rõ mặt quân tử anh hùng, mới tỏ tường tiểu nhân phản phúc.

– Nhận định khách quan rằng: Luật tạo hóa cũng như luật nhân quả, có vay có trả, đứa nào gây tội thì phải đền tội, không thể lấp liếm, đổ thừa đổ vạ cho ai.

– Nhận định lạc quan rằng: Căn cứ vào các nhận định trên, tất nhiên sẽ có một ngày về trên quê hương ta tự do, no ấm.

Nay tuyên cáo:

Thành lập HỘI NHỮNG NGƯỜI LÀM MẤT NƯỚC.

Tuy hội có cái tên lạ hoắc như rứa nhưng cơ cấu tổ chức, điều hành, nội quy, ngoại vụ lại thi hành theo lề lối rất ư là quen thuộc, hoàn toàn mang tính cách tồn cổ, hoài cổ và vọng cổ, đầy dân tộc tính.

Hội không có các chức vụ nghe lớn lao, xôm trò như Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch, Thống Đốc, Tổng Thư Ký, Ủy Viên.

Hội không họp mũ cao áo dài cổ cồn cà vạt quanh bàn tiệc sâm banh, khiêu vũ.

Hội không có nhiệm kỳ, không bầu bán chức tước.

Hội không tổ chức thành liên danh, thành khối, thành nhóm.

Hội không tuyên dương thành tích công trạng, không ai là cá nhân xuất sắc.

Hội được tổ chức theo chế độ cổ xưa, kêu bằng “Xã thôn tự trị”. Chế độ này lấy đơn vị Làng làm chuẩn, tự cai quản hành chánh thuế khóa, có thẩm quyền rộng rãi mà ngay cả đến nhà vua cũng không thể xía vào. Phép vua thua lệ làng là vậy.

Theo qui tắc trên, mỗi địa phương tổ chức một hội độc lập, không bị thống thuộc mà chỉ liên lạc hàng ngang với hội bạn mà thôi.

Những ai tự nhận mình có tội với tiền nhân, với đồng bào, đồng đội, đồng ngũ thì tự mình định tội, tội nặng ngồi vào chiếu trên, tội nhẹ ngồi lui chiếu dưới.

Hội còn có một Hội Đồng Cố Vấn gồm đại diện các quốc gia đã gởi quân tham chiến tại Việt Nam, đóng góp kỹ thuật, tài chánh, y tế như Mỹ, Uùc, Phi, Đại Hàn, Thái Lan… Cạnh Hội Đồng Cố Vấn lại có Hội Đồng Tiểu Liên Hiệp Quốc gồm đại diện các cường quốc từng góp công làm cho Việt Nam ba chìm bẩy nổi, vô tình hay hữu ý, trực tiếp hay gián tiếp giúp cộng sản để làm mất miền Nam, như: Nga Sô, Trung Cộng, Hoa Kỳ, Pháp, Ăng Lê, Nhựt Bổn…

Hội không có vấn đề bầu cử, đề cử, độc cử, tái cử. Ai tự nhận thấy mình ở chiếu nào thì xà vào chiếu ấy.

Hiện nay, hội chưa có ai xuất hiện vào cái thuở ban đầu. Duy có sáng lập viên Giao Chỉ và Cai tôi là hai kẻ trình diện sớm nhất. Giao Chỉ vốn làm lớn, tội nhiều, chắc sẽ can đảm lên ngồi chiếu cạp điều hoặc chiếu hoa chịu trận. Phần Cai tôi, nhận thấy hội còn khuyết chân Mõ Làng nên xung phong đảm trách. Cái chức này tuy thấp hèn nhưng tiếng lại rất kêu. Mỗi khi có hội họp là Cai tôi đi quanh làng, gõ mõ hô chiềng làng nước lắng tai nghe lời hiệu triệu. Cai tôi theo lệ làng, được một mình một cỗ thảnh thơi đớp hít. Như vậy là công bình và hợp lý.

Đại khái cái sườn của hội là thế, các địa phương cứ tùy nghi như thế thi hành.

(Hết Chương 13)

Share this post