Tôi Làm Tôi Mất Nước (Hồi Ký – Lê Văn Phúc) Chương 3 & 4

Tôi Làm Tôi Mất Nước (Hồi Ký – Lê Văn Phúc) Chương 3 & 4

TÔI LÀM TÔI MẤT NƯỚC
* Hồi Ký – Lê Văn Phúc
* Thế Giới Ấn Quán tái bản lần thứ năm (Texas, 1989)
* Nguồn: Trang mạng Bóng Thời Gian (www.levanphuc.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 3

Làm Tòa Đại Diện Việt Nam tại Cao Miên đâu chừng một năm, tôi đã muốn rút dù. Vốn tính hay đổi thay, chóng chán, nên dẫu gần gũi với biển hồ Tonlésap, tôi vẫn nhớ bến Thủ Thiêm, dẫu sát cạnh Chùa Vàng Chùa Bạc tôi vẫn nhớ Lăng Ông, Thiên Mụ, dẫu thân mật với các em ca-ve thơm ngon như xoài cát tôi vẫn nhớ các nàng đồn trú tại quán bia ôm, quán cóc Saigon.

Lai nữa, xuân qua hạ tới thu tận đông tàn, nay lại một mùa xuân tiếp nối khiến lòng tôi nhớ về chón cũ.

Chốn ấy như quê hương thứ hai của tôi, sau tỉnh Hải Dương bé nhỏ hiền hòa nằm trên quốc lộ số 5 nối Hà Nội – Hải-Phòng: Ấy là Dalat.

Nhân cái cớ anh tùy phái hục hặc tranh mối pát-po tính ăn hớt tay trên tiền nhậm xà của tôi, hắn thậm thọt với cấp trên vu cho tôi bê bối, tôi liền xin nghỉ việc.

Mần tòa đại sứ, đại diện, lãnh sự dẫu ở nước nào cũng là điều mơ ước của nhiều người muốn xuất ngoại phục vụ, mà lại có tiền, sống đời dư dả, cho nên tôi thôi việc lắm đứa mừng thầm, vì có chỗ cho anh em bà con điền thế, cùng vây cánh làm ăn.

Thế là chỉ nội 24 giờ tôi đã rút khỏi xứ Chùa Tháp, qua biên giới Miên–Việt trở lại Saigon.

Ở thủ đô vài bữa, tôi khăn gói quả mướp lên chuyến xe Minh Trung tại Ngã Bẩy để lên Dalat, tá túc nhà ông anh họ.

Qua mấy năm trở lại chốn xưa, tôi thấy người cũ vẫn cứ đâu ở đó, chưa mấy đổi dời. Con gái Dalat má đỏ như mận Trại Hầm, mắt trong như mắt nai tơ, môi hồng như trái dâu ấp Hà Đông, Cây số 4. Anh con trai nào nhòm thấy cũng mê như điếu đổ.

Người đẹp đài các như ái nữ của bác sĩ Dương ở biệt thự, có vườn hoa, đêm đêm qua khung cửa mờ ảo ánh đèn, ngân nga tiếng dương cầm thánh thót.

Khu chợ Hòa Bình, các cô Ninh, cô Kính chủ tiệm bách hóa Phúc Thái Lai, cổ đeo kiềng vàng, ăn nói dịu dàng, mắt liếc đong đưa.

Đường Phan Đình Phùng, quá rạp hát ngọc Hiệp dăm trăm thước có tiệm chè của hai chị em cô Tâm cô Hiền. Hai đóa hoa được rất nhiều vương tôn công tử giả bộ đến ăn che mà lòng dạ thật là hảo ngọt.

Nói chi đến các sĩ quan, sinh viên Võ Bị ngày nghỉ cuối tuần chạm trán nhau đôm đốp ở đây.

Phía nữ sinh Yersin, Couvent, phía nữ công chức hoa hậu hoa khôi mơn mởn đào tơ phơi phới. Với các nàng tiên yêu kiều diễm lệ ấy, tôi chỉ là một anh Trương Chi chèo thuyền mà không biết thổi sáo để làm cảm động Mỵ-Nương.

Vả lại, Cai Phúc hồi ấy chưa thoát khỏi cái vỏ cai sữa, buồn thân tủi phận hẩm hiu, chả ai cảm thương cảnh cùng một lứa bên trời lận đận cho nên chỉ nuốt nước bọt, ngậm bồ hòn ngắm trộm các nàng cho đỡ ghiền cơn nhớ khó nguôi.

Tôi cũng đoán già đoán non rằng các nàng nhìn tôi không khác chi nhìn một cậu bé con ngu ngơ bé bỏng. Đâu biết rằng trong tim tôi nó thổn thức bồi hồi.

Cái mộng yêu hoa biết nói không thể tỏ cùng ai, tôi lang thang như một nghệ sĩ giang hồ, như một nhà thơ khốn khổ ư ử ngâm bài Lỡ Bước Sang Ngang cho ra vẻ Tài Tử Đa Cùng Phú.

Nhớ đến em xưa dưới dốc Nhà Bò, tôi bò xuống lân la hỏi dò tin tức. Ngờ đâu nàng đã tay bế tay bồng đìu íu sau lưng, nom chả còn chi là sắc nước hương người.

Các cụ bảo “gái một con trông mòn con mắt, gái hai con vú quặt sau lưng” thật chả sai một ly ông cụ nào. Được cái con chị nó đi, con dì nó lớn nên tôi đành tự hạ một cấp, ra chiều o bế cô em. Cô em là kẻ yêu hoa nên tôi có nhiệm vụ cung cấp hoa để làm duyên văn tự.

Đêm đêm, tôi vác dao đi chặt trộm những cành hoa anh đào ở bờ hồ, lối lên dốc chợ. Anh đào là loài hoa quý của Nhật. Nhật Bản có tặng cho thành phố Dalat vài trăm cây làm cảnh, chở máy bay qua, quý như vàng nén.

Khi hoa anh đào nở, cả tỉnh đẹp mà khách phương xa đến du ngoạn cũng đẹp lây. Tôi lựa cành nào đẹp, phạng ngay một phát và chạy ù té về dốc Nhà Bò.

Chưa hết, công viên nơi nào có hoa là có tôi lởn vởn đến hái. Cả đến tư gia tôi cũng không từ. Dọc đường Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, khu nhà đèn, khu nhà thương, nhiều nhà trồng mẫu đơn, hoa cúc, hoa hồng, hoa thược dược đẹp tươi mơn mởn, cứ tối đến là tôi đi ngắt trộm.

Có lần chủ nhà rình sẵn, tôi mới chợt tới hàng rào là họ đã hô hoán lên vác đòn gậy đuổi đánh. Tôi hoảng hồn vắt giò lên cẳng chạy thừa sống thiếu chết mới thoát thân.

Ái tình nó làm tôi mụ mẫm một phần, nhưng chính như tôi bản tính đã hay táy máy ăn cắp vặt từ nhỏ cho nên lúc nhớn lên các hành động xấu xa chỉ là tập quán. Ngày bé tôi ăn cắp ở nhà, bây giờ phá hoại ăn trộm của người, của công cộng, vi phạm an ninh trật tự, tài sản quốc gia và đồng bào, nào tôi có biết nó tệ hại sao đâu. Chỉ coi như vui chơi cuối trời quên lãng, văn nghệ thôi chứ nhằm nhò, tác hại nỗi gì.

Ấy đó, mấy cái đó tích tiểu thành đại, tôi hư lúc nào không biết. Mà vẫn tưởng mình công dân gương mẫu đàng hoàng.

Nhìn quanh, tôi thấy tôi còn lương thiện hơn chán vạn kẻ khác. Những đứa họp bè kéo đảng chặt cây cưa gỗ đem từ Định Quán về Biên Hòa phát mại chia nhau bỏ túi. Những tên bắt lính đem GMC chở thông từ Dalat mang về Saigon bán dịp Giáng Sinh. Những kẻ thông đồng với nhân viên lâm sản, với trại kiểm soát để chở gỗ lậu hàng lậu mới là bê bối. Nhờ bê bối đó, cộng sản mới lợi dụng chở súng đạn, thuốc nổ vào thị thành để đặt mìn giết dân lành, đàn bà con nít, nên chiến tranh mới đằng đẵng bao năm.

So sánh với những hạng đó, tôi không là… Phật thì cũng là… á thánh.

Cũng bởi tự so sánh với những quân khốn lịn như thế, tôi cá mè một lứa như chúng nó chứ có hơn gì. Chỉ khác nhau mức độ mà thôi.

Mức độ nào cũng là hành động đưa đến mất nước.

Mùa xuân trên cao nguyên xứ anh đào, ai may mắn có đào cặp kè thủ thỉ thì thật ô-mê-ly tuyệt cú mèo số dzách. Nhìn những cặp nam thanh nữ tú áo quần đẹp tươi nắm tay nhau ngả nghiêng trên đồi thông, ngồi bên ven hồ, ghềnh đá hoặc sát vai trong rạp xi-la-ma, nơi tiệm cà-phê, tiệm mì, tiệm phở, lòng tôi lại thêm nỗi cô đơn chan chứa can tràng.

Tôi bơ vơ như tiếng hát Chế Linh tang thương rách nát, lủi thủi lang thang lạc lõng giữa đường… Trời xuân đẹp, nắng xuân trong, tình xuân nồng, gái xuân rực rỡ. Những tà áo mầu áo thêu áo len e ấp vườn Bích Câu, hồ Xuân Hương, suối Cam Ly, đường Minh Mạng, dốc Duy Tân, chợ Hòa Bình… Những sinh viên sĩ quan Võ Bị quân phục thẳng nếp, huy hiệu phù hiệu cấp hiệu sáng ngời, giầy đen bóng loáng đi đứng hiên ngang.

Xe hơi, xe Vespa, Lambretta, Honda, xe ngựa lên dốc xuống đèo vui như ngày hội.

Đầy trời xuân cỏ hoa rộn nở tưng bừng. Hoa hồng, hoa cúc, thược dược, mẫu đơn, cẩm chướng, bất tử, hoa lan hoa dại lưng đồi. Dalat giống như một cảnh thần tiên của thiên đường hạ giới.

Dẫu cảnh đẹp mê ly là thế mà lòng tôi lạnh ngắt vắng tanh. Cho nên người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, qua mấy ngày xuân con én đưa thoi, tôi lại đáp chuyến xe đò qua Liên Khương, Bảo Lộc, Định Quán, Long Khánh, Biên Hòa để về Saigon tìm kế sinh nhai.

Việc đầu tiên là xin tá túc chỗ quen khu Tân Định, xong trích ngân khoản dự trữ sắm chiếc xe đạp thay cho chiếc xe lô-ca-chân, rồi nạp đơn dăm bẩy nơi xin mần việc chính phủ.

Nhờ có tí cựu quân nhân, tôi được tuyển dụng làm thư ký công nhật tại Tổng Nha Kiến Thiết. Tổng Nha này là hậu thân của Bộ Kiến Thiết thời kiến trúc sư Hoàng Hùng làm bộ trưởng, ở đường Phan Đình Phùng gần đài phát thanh Saigon.

Tôi chăm chỉ làm việc như một công chức gương mẫu, được vài ba tháng thì bắt đầu dở chứng. Tôi bắt chước những dân bê bối chuyên môn đi trễ về sớm, lấy giấy pơ-luya, dụng cụ văn phòng đem về nhà. Lắm lúc lại lợi dụng giờ chánh phủ chuồn đi phố lo chuyện riêng, ăn nhậu, làm áp-phe với thân chủ. Ai muốn nhờ vẽ họa đồ nhà cửa, muốn có giấy phép sớm, mua vật liệu rẻ, xây cất lố với họa đồ, tôi đều trung gian điều chỉnh.

Nhờ vậy, lương tháng ba cọc ba đồng mà tôi vẫn rủng rỉnh tiền bạc.

Lâu lâu tôi lại o bế cấp trên, biếu xén quà cáp chút chút để xếp che chở, phe lờ cho mấy vụ lem nhem.

Hồi ấy có phong trào học đêm, anh em công chức quân nhân tối tối mò đi học tại Hội Khuyến Học Bổ Túc đóng đô ở trường tiểu học xế cửa Tổng Nha Kiến Thiết. Đủ mọi thành phần quân cán chính, đủ lứa tuổi tác già trẻ. Lại có cả các tên tuổi quen thuộc hiện diện dưới đèn. Như nhạc sĩ Hùng Lân “Khỏe Vì Nước” đêm đêm ôm sách, kèm theo cái đèn điện, dòng giây thòng lòng dưới bàn, cắm điện sáng choang – bởi ông mắt cận thị hơi nặng nên cần nhiều ánh nến. Có ông vợ con cả bầy lớn bé cũng cắp cặp, đạp xe đạp đi học như Cao Bá Vũ sau này là một giáo sư triết khá nổi tiếng.

Anh nào đi học cũng mong kiếm cái mảnh bằng Tú Tài I, Tú Tài II để làm bước tiến thân. Tôi cũng lóp ngóp giữa số đó. Được cái là tôi nhã nhặn, hay nhường nhịn cho nên anh em đậu xong Tú Tài, lên Văn Khoa, Luật Khoa, tôi vẫn lẹt đẹt tú đơn chờ tú đụp.

Học hành chưa nên cơm cháo gì, đánh đoàng một cái, Bộ Quốc Phòng ra lệnh rằng hễ ai có Tú Tài I trở lên phải mau mau ca bài Ta Đi Tòng Quân Cứu Nước.

Tôi từng một thuở yêu đàn, đàn đúm trong ban văn nghệ Ngự Lâm Quân rổi Đệ Tứ Quân Khu Ban Mê Thuột nên coi như cựu quân nhân không hề théc méc.

Thế mà một bữa đang mần việc nhà nước, nhận tờ giấy gọi nhập ngũ, lòng tôi ngẩn ngơ tái tê, hãi ơi là hãi.

Lệnh trên hành quân không cần xét cựu quân nhân hay tân quân nhân, cứ tú đơn là a-lê hấp đi lính, khiếu nại gì hạ hồi phân giải.

Cầm lệnh nhập ngũ, tôi lo lắng, sợ hãi, cứ y như hễ đi lính là mình cầm chắc cái chết trong tay. Chả bù với những tối ngồi trên gác trọ cùng nhạc sĩ Tuấn Khanh, người viết nhạc kẻ đặt lời các bài hát ca tụng chiến công hiển hách của Chiến Sĩ Cộng Hòa, tôi đã như một người lính can trường cùng đồng ngũ vào sinh ra tử, hiên ngang tay súng bảo vệ sơn hà.

Bây giờ vào việc mới rõ cái bộ mặt chuột hèn nhát, khiếp nhược của mình. Thì ra, nói một chuyện còn làm lại là một chuyện khác.

Tôi linh cảm cả hiện tại lẫn tương lai xụp đổ cái rầm. Mà con đường phải tiến tới lại là độc đạo. Ấy là đường vào quân trường là đường về quê hương.

Chẳng đặng đừng, tôi thu xếp hành trang một gói, theo chuyến xe buýt ghé Quân Vụ Thị Trấn Saigon trình diện. Chờ đến chiều tà có đông đảo, anh em cùng nhau leo lên chiếc xe GMC qua ngả Lê Văn Duyệt, Ngã Tư Bẩy Hiền trực chỉ hướng Quang Trung đến Trại Nhập Ngũ Số 3 làm thủ tục vào trường.

Cuộc đời tôi tưởng chuyến này là đi đoong mút mùa lệ thủy, ai có ngờ đâu chính lại là đường mây rong ruổi thênh thang nhẹ gánh tang bồng!!!

Âu cũng là định mệnh đã an bài, đục nhờ trong chịu…

CHƯƠNG 4

Trại Nhập Ngũ số 3, như phần đông các thanh niên ở tuổi quân dịch đều có nghe loáng thoáng, nằm trong khu vực quân sự mạn Quang Trung, Hóc Môn.

Khi tôi nhẩy từ GMC xuống đất đã thấy doanh trại đầy người, nhưng toàn là xi-vin, chưa ai mặc quân phục, ngoại trừ một số quân nhân chính cống lo canh gác, làm văn phòng.

Chỉ sau một hai bữa nằm chờ khám sức khỏe, tôi đã biết cách tháo bù-loong của giưởng gỗ ra làm búa để đập bẹp đồng tiền nhôm tạo thành cái nhẫn chơi. Chiều chiều, tôi rủ bạn chui rào ra ngoài ăn nhậu xong tối lại mò vào.

Khi đi khám tại Tổng Y Viện Cộng Hòa về tai mũi họng, chụp phổi đo tim, thế nào tôi cũng leo tường thành, nhẩy ra đường cái đáp xe lam chuồn về Saigon du hí. Hôm sau, chuyến xe GMC chở thanh niên đến cửa Tổng y Viện Cộng Hòa, tôi lại chờ sẵn nhẩy lên xe, coi như không có chuyện gì xảy ra cả.

Như mọi lần, thanh niên làm thủ tục nhập ngũ chỉ nằm ở trại dăm bẩy ngày là xong. Đủ sức khỏe thì đi mà thiếu sức khỏe là về. Đến phiên tôi đi lính – năm đó là năm 1963 – tình hình lộn xộn, có ông đại sứ Hoa Kỳ Ca-bốt Lốt qua Việt-Nam. Chính phủ hình như không muốn thêm nhiều rắc rối, cho nên dù quân trường Thủ Đức đã khai giảng một tháng, đám thanh niên già thanh niên trẻ vẫn phải nấn ná chờ ở trại nhập ngũ và phút chót được lệnh leo lên xe trực chỉ Thủ Đức.

Quân trường đành phải lập thêm một đại đội nữa tức Đại Đội 5 và chúng tôi phải tập ngày đêm, không đi phép cuối tuần để theo kịp các đại đội khác.

Đối với người thanh niên bình thường, khi Bộ Quốc Phòng gọi đi lính thì anh ta coi đó là chuyện chấp nhận dĩ nhiên. Trai thời loạn mà! Đằng này, tôi tưởng như trời xập, cực chẳng đã đành chịu nhưng nhưng tìm cách chui rúc an thân.

Sau thời gian 1 tháng học quân sự, đeo súng ôm ba-lô đi bãi, tôi o bế ông trung đội trưởng, nại cớ chân yếu tay mềm xin được ở lại trại lo công tác báo chí, thu dọn văn phòng, vệ sinh hoặc làm bất cứ chuyện gì riêng tư của ông trung đội trưởng. Như lau xe Vespa, đánh giầy, đóng đồ gỗ… thay vì cùng anh em leo lên đồi 29 đồi 30 học chiến thuật, bắn súng lớn, ném lựu đạn, đốt giây mìn.

Lâu lâu tôi lại kiếm được cái phép đặc biệt về Saigon một hai ngày công tác đặc biệt.

Những ngày không đi bãi, sinh viên sĩ quan học ở lớp hoặc tập thể dục quân sự, hoặc bò chiến thuật, leo giây trong sân trường, thì tôi tham gia rất xuất sắc.

Qua ba tháng quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu – tôi nào đã đổ tí mồ hôi nào đâu – sinh viên được chọn ngành để đi binh chủng, binh sở. Binh chủng lớn như Không Quân, Hải Quân. Anh nào ở lại học đến cuối đoạn đường chiến binh là đi Bộ Binh nữ hoàng của chiến trường. Ngoài binh chủng là binh sở, các sinh viên có thể được đưa về các ngành chuyên môn tùy thuộc khả năng trắc nghiệm.

Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, chả hiểu thi trắc nghiệm làm sao mà tôi đi lính thợ may, trong khi bạn tôi Lê Bảo Hùng cũng ABC khoanh y chang như tôi thì hắn lại về lính tài xế.

(Trong nhà binh có nhiều cái vui nhộn con con làm cho đời lính cũng có chút đậm đà. Anh cu nào về ngành tiếp vận Quân Nhu thì gọi là lính thợ may vì ngành này nổi tiếng có cái xưởng cắt may – Trung Tâm Sản Xuất Quân Trang – sát nách Hải Quân gần nhà thương Đồn Đất. Cậu nào về ngành Quân Vận gọi là lính tài xế. Cậu nào đi Quân Cụ thì gọi là lính già, mặc dù ai cũng hiểu ngầm Cụ là dụng cụ máy móc cơ khí súng ống đạn mìn).

Thế là thoắt cái, tôi về trường Quân Nhu nằm trong khuôn trại Lê Văn Duyệt tức Biệt Khu Thủ Đô, học chuyên môn mấy tháng.

Cả khóa 9 Quân Nhu thuộc khóa 16 Thủ Đức có lối ba chục tên, cộng với sinh viên Địa Phương Quân hai chục mạng, học trối chết các môn từ gạo đường trà mắm muối, quân trang quân dụng đến sửa chữa dù, tiếp tế thả dù, mai táng, quân khuyển, xăng nhớt tồn trữ tiếp liệu…

Khóa 9 nút Quân Nhu, hầu hết sinh viên sĩ quan là sinh viên đại học hoặc tốt nghiệp đại học. Chỉ có mình tôi lẹt đẹt tú đơn chả giống ai. Cả cuộc đời đi học tôi đều lêu lổng, chỉ nhờ cóp bài mà lẽo đẽo với bạn bè lên lớp.

Nay biết không thể nhờ cậy vào ai, lại biết thân phận mình yếu thế nên tôi dốc hết tim gan tì phế học hành. Vừa học tôi vừa van vái Phật Trời, A-La cho tôi đậu cao để được lựa chỗ tốt gần Saigon. Hồi đi lính Thủ Đức tôi đã có vợ con rồi, nếu phải đi xa ắt gia đình đìu íu nhiêu khê lắm.

Nhờ dốc lòng cầu nguyện, lại học hành gạo cụ, khi ra trường tôi lãnh cái thủ khoa làm ngơ ngẩn từ thầy đến bạn, xuống cả đến quán cà-phê của cô Hồng cô Thúy.

Thế là ô-tô-ma-tích tôi lựa Saigon, mần việc ngay tại Nha Quân Nhu (sau này đổi thành Cục Quân Nhu trong trại Lê Văn Duyệt).

Với cái lon nửa hạ sĩ quan nửa sĩ quan là lon Chuẩn Úy, tôi làm ở Sở Tiếp Vận, đặc trách nhượng vải, và làm việc trong văn phòng Chánh Sở.

Chỉ một thời gian ngắn, tôi lại biết những cú làm tiền ngon lành dễ ợt. Món thứ nhất là nhượng vải cho sĩ quan, loại kaki vàng 15 đồng một thước, mỗi sĩ quan có thể xin nhượng 8 thước để tự thực hiện quân phục.

Tôi ngồi chỗ đó lâu lâu lại lục hồ sơ cũ lấy ra một đơn xin nhượng vải tập thể của đơn vị X, Y, Z nào đó mà tôi đã đề nghị từ chối, tẩy xóa dấu vết cũ, làm phiếu trình xin chấp thuận, trình ký rồi đem xuống xưởng may mua vải.

Với số vải của vài chục sĩ quan đem bán ra ngoài thị trường Phú Nhuận, rẻ ra là 80 đồng một thước, vị chi mỗi thước tôi lời 65 đồng. Đem nhân với vài trăm thước kaki, tôi có trên chục ngàn bạc ngon lành, coi như tiền thưởng về sáng kiến độc đáo của mình!

Tôi cứ tưởng như thế là vô tội vạ, vì nhiều ông lớn thông đồng một cách rất khoa học với nhà thầu vải, cơm xáy khô, trà, quân dụng… tới cỡ cả vài trăm vài chục triệu đồng thì cái thứ gà quà ăn quẩn cói xay như tôi có bõ bèn gì.

Sau này tôi mới biết, nói riêng về quân nhu thôi, nhiều khi người lính bỏ đơn vị không phải vì sợ địch quân – trái lại tinh thần chiến đấu của họ rất vững rất cao – nhưng phải trốn về nhà vì đơn vị đóng ở miền Cà Mâu ruộng đồng bao la, Năm Căn heo hút muỗi sa từng bầy, không có cái mùng để ngủ. Thiếu cái mùng cá nhân chùm đầu, muỗi đốt đau quá chịu không thấu. Hoặc người lính miền cao nguyên, vào những ngày tháng lạnh lẽo thấu xương mà thiếu cái mền thì làm sao chịu nổi?

Những nguyên do thực dản dị nhỏ bé ấy, nếu cấp chỉ huy ý thức được thì cấp nhỏ không bán vải kaki kiếm lời, cấp lớn không làm hao hụt công quỹ, người lính được tiếp tế tạm đầy đủ, thì sự chiến đấu còn hăng say tích cực hơn nữa.

Trong hoàn cảnh dù thiếu thốn như thế, lạ thay chỉ có một số rất nhỏ chiến sĩ xuống tinh thần, còn hầu hết đều quyết tâm chế ngự, hy sinh chống kẻ thù cộng sản. Đất nước nhờ vậy mới có những chiến sĩ can trường dũng cảm anh hùng bảo vệ miền Nam qua những cơn bão tố cuồng phong, khiến cho chính kẻ thù phải khiếp phục và thế giới còn chút lương tâm phải xúc động bàng hoàng.

Ngoài chuyện bán vải, tôi còn đi xin xăng để phát mại nữa. Kho tồn trữ xăng nào cũng dư xăng vì được phép hao hụt bốc hơi của bồn xăng theo một tỉ lệ quy định. Thực tế, xăng không bốc hơi nhiều như thế nên đơn vị tồn trữ xăng có thể ngoại giao qua lại với anh em, với các đơn vị bạn, để đổi chác loanh quanh.

Tôi thì khác, có xăng là đem đi bán liền tù tì, để lâu nó… bốc hơi cũng phí đi! Mà đơn vị cho chỗ khác, đằng nào rồi xăng cũng đổ vào bình xe hơi, Honda, Vespa xe đò, tầu thủy.

Tôi tự cho thế là tôi vô tội, bởi vì còn bao nhiêu kẻ khác làm chuyện tầy trời như bán thuốc men, bán gạo, bán vũ khí, bán tài liệu cho cộng sản thì chúng mới đắc tội chứ! Nói khơi khơi chẳng ai tin đâu, chỉ khi nào cháy nhà mới ra mặt chuột, lúc ấy mới rõ mặt nào là mặt mo, mặt nào mặt thớt hoặc mặt sứa gan lim đã góp sức xô đẩy cả mộït giang sơn gấm vóc vào tay quỷ đỏ.

Nhờ mần việc ngay tại Saigon lại cấm trại liên miên một trăm phần trăm, tôi tiếp tục sách đèn đi thi tú đụp. Số tôi có duyên nợ với trường thi, năm nào cũng ghi tên những mong bảng hổ đề danh mà lận đận mấy keo mới dính. Tôi dính bởi được cóp bài của thí sinh ngồi chung quanh và nhờ tài quay phim số dzách. Có lần giám thị bắt quả tang tôi đang lục tài liệu gầm bàn nhưng ông lắc đầu tảng lờ bỏ qua. Tôi đoán là ông thấy tôi mặc quân phục cũng ngán, e tôi thù hận cho nhát dao cái búa thì khốn. Cũng có thể ông ấy thấy tôi già đầu còn mài đũng quần chốn trường thi thì cũng thương hại. Hoặc ông thấy cái bộ mặt hiền lành chất phác thật thà nên cũng tha cho làm phúc.

Ấy chính mấy cái đứa thật thà lại là cha quỷ quái. Như tôi đây chẳng hạn.

Qua dăm phùa vác bút đi thi, tôi như cá vượt vũ môn, lò dò vào ngưỡng cửa đại học luật khoa, học đại cho có cái tít sinh viên lả lướt với đời.

oOo

Mặc dù lên quan, tôi vẫn ở căn nhà ngoại ô khu vực Đồng Ông Cộ bên Gia Định. Khu này nửa tỉnh nửa quê, vừa có điện có ti-vi vừa có vườn rau xanh ngắt một mầu, có tre xanh ao cá. Với số lương nhà binh ít ỏi mà giá sinh hoạt gia tăng, tôi tiết kiệm ngân quỹ gia đình bằng cách xử dụng điện bất hợp pháp. Dùng cái sào dài, tôi gắn một đầu vào điện còn một đầu giây xuống ao khiến cá bị điện giật nằm phơi bụng tênh hênh, vớt đem về nấu canh chua cá kho tộ.

Đứa trẻ hàng xóm thấy tôi làm ngon lành cũng bắt chước, chẳng may mó vào điện cao thế bị giật chết tươi. Chưa bắt được cá nó đã nằm ngay đơ tại chỗ. Tôi cảm thấy áy náy lương tâm mất mấy tiếng đồng hồ, cho rằng vì mình đầu têu mà thằng bé bắt chước nên thiệt mạng.Sau tôi tự an ủi rằng nó làm nó chịu, mình đâu có súi dục nó đâu nào. Lương tâm tôi lại êm ru bà rù như không có gì phiền muộn.

Trong nhà, tôi mua được cái máy lạnh cũ nửa ngựa còn tốt nguyên. Tiền điện cho cái máy này sơ sơ cũng phải hơn chục ngàn mỗi tháng, sức voi mới chịu nổi. Thế là tôi biến chế, lấy điện đường câu thẳng vào máy, không qua đồng hồ điện. Chạy điện chùa thả dàn, chả mất xu nào xất cả.

Tối nằm máy lạnh, coi ti-vi đài tàng hình số 9, ngó cậu Hùng Cường mí lị mợ Mai Lệ Huyền lắc lư con tầu đi, song ca kích động, ngắm mợ Thanh Lan nũng nịu dễ thương giọng hát ngọt ngào, rồi theo dõi Tùng Lâm – Xuân Phát chọc cười bể bụng, nhìn cậu Nhật Trường áo tây vắt vai lừng khừng trong tiéng ca bay bướm, thích thú coi ban AVT khăn đóng áo dài trình diễn độc đáo tài tình, ru hồn vào cõi mộng theo tiếng hát Thái Thanh mê ly tuyệt vời bay bổng…

Tôi đã chẳng thấy chút nào lầm lỗi băn khoăn mà còn tự coi như cuộc đời vừa qua mấy nỗi gian truân, nay là lúc được quyền hưởng thụ đôi chút thanh bình hạnh phúc.

Cho dù đêm đêm bừng giấc, vẫn nghe vọng về tiếng súng xa xa…

(Hết Chương 4)

Share this post