Tôi Làm Tôi Mất Nước (Hồi Ký – Lê Văn Phúc) Chương 5 & 6

Tôi Làm Tôi Mất Nước (Hồi Ký – Lê Văn Phúc) Chương 5 & 6

TÔI LÀM TÔI MẤT NƯỚC
* Hồi Ký – Lê Văn Phúc
* Thế Giới Ấn Quán tái bản lần thứ năm (Texas, 1989)
* Nguồn: Trang mạng Bóng Thời Gian (www.levanphuc.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 5

Đôi lúc, từ căn nhà ngoại ô Đồng Ông Cộ nhìn về phía Thủ Đức Biên Hòa có những đóm mắt hỏa châu chập chờn soi sáng, tôi lại bâng khuâng nhớ đến số phận hẩm hiu của đất nước mình.

Đất nước nằm bên bờ đại dương hình cong chữ S mà sao nom trên bản đồ tôi cứ thấy hiện lên chữ SOS. Chữ S đầu tiên là ranh giới giữa ta với Lào và Cao Miên. Chữ O là hình thể đảo Hải Nam nằm ngang với Thanh Hóa, Vinh, Hà Tĩnh. Chữ S sau cùng nằm ven Nam Hải sóng nước bao la.

Đất nước tôi vì thế nên lúc nào cũng ở trong tình trạng báo động giới nghiêm, thiết quân luật, lúc nào cũng khẩn trương nguy cấp.

Mà nhìn kỹ có thấy gì là gây hấn, chiến chinh?

Cảnh là cảnh đẹp như vịnh Hạ Long, hồ Hoàn Kiếm, Hương Giang, Ngự Bình, Ngũ Hành Sơn, Cam Ranh, Nha Trang, Dalat, Vũng Tầu, Cửu Long, Tiền Giang, Hậu Giang, Hà Tiên, Phú Quốc.

Địa danh nào cũng mang những tên hiền hòa phúc hậu nhu mì như Hòa Bình, Hưng Yên, Kiến An, Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phước Long, An Lộc, Phú Cường, Biên Hòa, Vĩnh Long, Bình Long, Bình Tuy, Bình Giả.

Còn nói về con người thì người nào cũng có cái tên nhẹ nhàng ý nghĩa từ Hán tự, kinh điển, danh nhân như Xuân, Hạ, Thu, Đông, Mai, Lan, Cúc, Trúc, Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh, Giáng Hương, Hằng Nga, Bích Ngọc, Vân Kiều, Nguyệt Nga, Thủy Tiên, Mai Hoa, Quý Phi, Hồ Điệp v.v…

Cảnh là cảnh đẹp, tên là tên xinh, đất là đất lành chim đậu. Ấy thế mà mấy ngàn năm dựng nước, lịch sử đã ghi biết bao nhiêu tang thương ngẫu lục rối bời.

Theo cái đà ấy, đến lượt tôi cũng tiếp tục trôi theo vận nước điêu linh thống khổ, gần hết cuộc đời lớn lên và sống trong chiến tranh.

Xưa kia thì ngoại bang cai trị đàn áp, ngày nay thì chủ nghĩa vô thần ác quỷ hiện hình người, reo rắc đau thương làm cả nước bị đọa đầy.

Nên giữa những cánh đồng bao la thơm mùi lúa chín lại có thêm những vòng giây kẽm gai quanh đồn phòng ngự. Nên bên cạnh những bà mẹ già tóc bạc phơ lại có những người vợ trẻ đầu quấn khăn tang bồng con thơ dại. Nên những nấm mồ phủ cờ vàng ba sọc đỏ lại nối tiếp nhau trong nghĩa trang bốn vùng chiến thuật.

Ngành Quân Nhu của chúng tôi chẳng những lo nhu cầu ăn mặc, xăng nhớt cho quân nhân mà lại còn phụ trách cả vấn đề chung sự. Khi người lính giã từ vũ khí mà không về nhà thì rủ nhau vào nằm nghĩa trang yên tĩnh nghỉ ngơi. Ở đó có đủ cấp bậc từ tướng đến tá, đến úy, đến hạ sĩ quan, đến lính. Ở đó có đủ tôn giáo họp mặt như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo. Ở đó có đủ huy chương, từ Bảo quốc Huân Chương, Anh Dũng Bội Tinh đến Quân Phong, Quân Vụ. Ở đó, tôi có nhiều bạn bè nằm xuống hồn nhiên, lặng lẽ, thanh thản.

Khi những ngọn nến hắt hiu rồi tàn lụi, những nén nhang nghi ngút xong tắt ngúm, những tiếng khóc nức nở thê thảm gào thét chìm dần trôi theo đất cát xuống nắp quan tài… thì còn lại chỉ người nằm xuống bạn bè cùng mưa gió, bạn bè với trăng sao, với tiếng nỉ non côn trùng rên rỉ…

Tôi thường có công tác ở những chốn vui buồn. Vui nhiều như đám hỏi đám cưới, vui vừa như đám tiệc đám ăn, vui ít như đám giỗ đám chạp. Còn chỗ buồn ít như nhà thương, buồn nhiều như… nhà xác.

Trong các chốn buồn vui như thế, tôi thỉnh thoảng được đến thăm chỗ buồn nhiều. Nơi nghĩa trang có đủ những nét đậm đen đau xót đó.

Chỉ ở nơi ấy tôi mới được dịp gần gũi với chính tôi, kiểm điểm xem mình đã làm được gì để đỡ mang tội với chiến hữu.

Những lúc nghe tiếng khóc ngất của gia đình tử sĩ, tiếng trẻ thơ khóc vòi ngủ vòi ăn, tiếng kèn vĩnh biệt ngân xa thăm thẳm, tôi cũng thấy ngậm ngùi không ngăn nổi dòng nước mắt. Nước mắt tôi xót thương kẻ ở người đi một mạch đã đành mà cũng là nước mắt một kẻ ăn năn hối hận về những tội của mình.

Khi nghĩa trang Gò Vấp đã đầy đủ quân số, chúng tôi có thêm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nằm bên xa lộ, trên ngọn đồi cao thênh thang mây trời bát ngát. Nơi đây dẫu là nơi nghỉ bình yên của những chiến sĩ quả cảm can trường vẫn có những cặp tình nhân sinh viên, những đôi lứa trẻ măng dìu nhau thủ thỉ qua lối mòn uốn quanh vòng ốc trên đồi.

Có những ngôi mộ cỏ mọc xanh rì, mộ bia cũ kỹ. Có những nấm mồ trồng hoa trải đá bao quanh, với mộ bia khắc ghi họ tên, ngày tháng năm sinh, năm tử trận.

Dân tộc tôi là một dân tộc thi sĩ, mỗi người là một thi sĩ thật không ngoa. Ngay cả đến lúc đau khổ tột cùng, ta vẫn có thơ văn để bầy tỏ khúc đoạn trường.

Trên một bia mộ đá, tôi đọc thấy hai câu thơ này:

Chàng vui tiên cảnh đà an phận
Thiếp với năm con luống ngậm ngùi…

Qua một bia mộ khác, tôi thấy:

Sống làm chiến sĩ anh hùng
Chết coi nhẹ tựa lông hồng phù du…

Ôi cha! Một dân tộc thi sĩ, hồn thơ bay bướm lả lướt như thế mà chịu cảnh địa ngục trần gian, phải làm thơ phúng điếu thay lời!

Tôi có mấy người bạn học cũ từ thời tiểu học, khi nhớn lên chúng nó ca bài Ta đi tòng quân: Nguyễn Trọng Quyền tức Quyền thịt quay (vì nhà nó có tiệm thịt quay) đi lính đóng tới quan ba, quanh năm lùng giặc mạn Kiến Hòa, mặt mày đen như củ súng. Hơn chục năm không gặp nhau, đùng một cái lúc gặp thì nó chả thèm nói câu nào. Tôi đứng canh xác nó tại Nghĩa Trang Quân Đội, phủ lá cờ Tổ Quốc Ghi Ơn và đưa nó vào lòng đất mẹ.

Thằng cháu tôi đi lính tầu bay đeo lon trung úy, trong một chuyến bay bão bùng, thân tầu va vào núi tan tành. Xác nó tả tơi đâu đó, quân đội chỉ còn dăm ba kỷ vật gói ghém bỏ vào quan tài để thân nhân chôn cất. Tôi biết linh hồn nó quanh quất với gia đình. Nấm mộ trên nghĩa trang đã được ba nó, thầy học cũ và tôi chở gạch cát xi măng xây cho đẹp đẽ, trồng hoa giấy, dọn dẹp tinh tươm. Nó mới ngoài hai mươi, chỉ một lần yêu thì người con gái lại đa tình bay sang cành khác. Nên ba năm tình lận đận, lúc chết vẫn cứ yên chí rằng người yêu vẫn đợi vẫn chờ: Nguyễn Ngọc Sơn! Thế cũng là định mệnh.

Lại có thằng bạn chọc trời khuấy nước đi võ bị Dalat năm 1953 mà cấp bậc khi thăng lúc giáng lúc huề, chỉ vì ba gai lả lướt với đào. Nhưng mà đánh trận thì nó chì lắm. Những ngày cuối cùng của tháng Tư đen, nghe nói nó tử thủ Long Khánh, đánh cộng sản rất tới, giữ chiến tuyến vững như bàn thạch. Chả hiểu mô tê làm sao, bom đạn bị hạn chế, máy bay bị hạn chế, để cho quân cộng sản tràn vào phòng tuyến. Trung Tá Lê Quang Đình tiểu khu phó Long Khánh ở lại với anh em chiến đấu tới cùng. Và nó đã đền xong nợ nước tại chiến trường Xuân Lộc. Tôi không tin rằng xác nó được đưa về nghĩa trang vào giây phút dầu sôi lửa bỏng đó nhưng chắc chắn linh hồn nó đã cùng đồng ngũ rủ nhau về tề tựu nghĩa trang như một điểm hẹn hò.

Chú em tôi Trần Kính Trực, sĩ quan pháo binh Long An đi trận đạp phải mìn, đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa thì tắt thở. Nó từng rót vào đầu cộng sản những cú trọng pháo nẩy tung người. Ngày nó từ bỏ anh em đơn vị một mình thơ thẩn nghĩa trang, đôi dịp đi công tác tôi cũng ghé thăm chốc lát, thắp cho nó một nén nhang, thì thầm với nó dăm câu tâm sự. Rồi lại âm dương cách biệt, hai ngả phong trần.

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Bình đi lính với tôi từ hồi ở Ban Mê Thuột Đệ Tứ Quân Khu, làm Phòng 5 văn nghệ báo chí điện ảnh. Sau Nguyễn Văn Bình về Saigon làm chuyên viên quay phim, cấp bậc Chuẩn Úy già. Ngày chiến cuộc Bình Long tử thủ, cả thế giới theo dõi chiến công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa anh hùng quả cảm, ít ai dám mò vào vùng đạn bay mìn nổ thì Nguyễn Văn Bình leo lên trực thăng xông pha nơi trận địa mịt mù thuốc súng với hy vọng quay được những hình ảnh sống động lẫy lừng.
Nó từng bay đến nhiều chiến trường để làm nhiệm vụ nhưng lần này là lần chót. Nó gẫy cánh trên đường vào An Lộc, chết trong sự tình cờ tuy chẳng dám chờ mong mà như vẫn theo vẫn đợi.

Nơi nghĩa trang nó được phủ quốc kỳ, được truy tặng huân chương, được anh em thương xót tiễn đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng. Từ đó nó miễn phải đeo máy quay hình, ôm ba lô phim ảnh, miễn công tác tạp dịch. Miền thảnh thơi thoát tục ấy, nó gặp lại bằng hữu cũ đã một thời xả thân gìn giữ từng tấc đất quê hương, từng cây cầu, từng con sông, từng mái nhà, từng thửa ruộng… Nó sẽ có dịp cùng bạn bè ôn lại biết bao nhiêu chiến tích hào hùng của cổ thành Quảng Trị, Khe Sanh, Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, Kontum, An Lộc, Hạ Lào… Trong mấy mươi năm chiến đấu, những ai còn ai khuất, ai được đặc cách thăng thưởng tại mặt trận, ai được huy chương truy thăng trước linh vị u hoài! Lúc sống nó không cô đơn, đến khi giã biệt nó vẫn có nơi bù khú.

Chỗ họp mặt ấy là Nghĩa Trang Quân Đội.

Ngày tôi ở lính, nhiều ông lớn có tài sản riêng nghe mà phát hãi. Trên Dalat, vùng Chi Lăng mọc lên những ngôi biệt thự xây cất kiên cố, đắt tiền, nhưng nhờ thợ nhà binh, dụng cụ nhà binh nên cũng đỡ tốn kém.

Nhìn các biệt thự ấy, phần lớn tôi thấy ánh sao lấp lánh rạng ngời, mai bạc lung linh.

Khu vực bao quanh hồ Xuân Hương chỉnh trang theo họa đồ thiết kế, không ai được xây cất làm nhà làm cửa gì cả, chỉ sau thời Tổng thống Ngô Đình Diệm đã mọc lên lác đác dinh cơ mái đỏ ven đồi, cũng lập lòe sao sáng. Từ đó suy ra thì các nơi như Huế, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Nẵng, Vũng Tầu, Saigon, Cần Thơ… đều phác họa phương thức như nhau hết cả.

Trong đám bạn, có đứa rủ mua đất mạn Lái Thiêu để làm nhà, đào ao thả cá, trồng cây cảnh, ngâm thơ đọc sách. Tôi không nghĩ xa xôi, một mực lắc đầu để có thời giờ ăn chơi cho đã.

Trên Dalat, ông anh làm tòa thị chính lâu năm, xin được đất trung tâm thị xã, rủ chú em làm dăm căn cho thuê, một căn dành nghỉ mát, tôi vái dài vì muốn dành chút tiền kiếm chác áp-phe buôn bán mau ăn hơn.

Mà thật tình tôi chẳng ham gì nhà cửa dinh thự tít mãi cao nguyên, cũng chẳng ưa cảnh nhàn du trầm tư mặc tưởng. Tôi cũng không phải lo gì về đất cát mai sau.

Vì tôi biết một ngày nào đó hai tay buông xuôi, chuyện đất đai của tôi sẽ có nơi lo liệu, là nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội được gần gũi với anh em bạn bè, với những chiến sĩ vô danh, với cây cỏ trời mây, với gió mát trăng thanh hiền hòa êm ả!

Đó là mảnh đất tôi yêu nhất, như một vinh dự cuối cùng của người lính tiếp vận có gần mười năm quân vụ, tuy rời tập thể mà hình ảnh quân kỳ, tình chiến hữu mãi còn đậm đà, tha thiết, yêu thương. Mảnh đất nhỏ bé ấy, tôi vẫn xót xa một đời hoài vọng…

CHƯƠNG 6

Cứ mỗi lần công tác nghĩa trang như thế, tôi lại có được ít phút ngẫm nghĩ loanh quanh về đất nước, chiến tranh, về những người nằm xuống và dăm ba tội lỗi của mình.

Nhưng khi chiếc xe Jeep vừa rời khỏi cổng nghĩa trang, tôi chưa kịp ngoái cổ trông lại bức tượng Thương Tiếc của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, xe đã bon bon trên xa lộ, thì bao nhiêu thương tiếc, tiếc thương đều tan biến vào gió lộng.

Trước mắt chỉ còn những nẻo đường đi Biên Hòa ăn đầu cá hấp, hoặc rẽ ngả Long Thành đi Vũng Tầu ghé quán Bầu Quỳ, quán Tầm Dương ăn cua rang muối, chim quay, bò nướng sả, hoặc theo hướng Saigon, quẹo xa lộ Đại Hàn vào Đường Sơn Quán nhâm nhi la-de củ kiệu, hoặc chạy thẳng qua cầu Phan Thanh Giản về mạn Dakao ăn mì cây nhãn, chè Hiển Khánh, chả cá Như Ý, Thăng Long.

Lính tiếp vận như tôi là một thứ lính văn phòng, sớm nhẩy Lambretta đi, tối dọt Lambretta về, ngày qua ngày lại qua ngày. Trong ngành tiếp vận, ngoài vấn đề xoay sở các Cục bạn, khi thì xin cái bình ắc-quy bên Quân Cụ, khi thì cặp kè ít cục pin bên Truyền Tin, lúc ngoại giao Cục Công Binh làm ít vỉ sắt, ít tôn về sửa nhà, tôi còn lân la đề-mẹc với cả bên Quân Tiếp Vụ nữa. Tháng tháng tôi qua bển gãi đầu gãi tai xin ông Cục Trưởng ký cho cái phiếu đặc biệt nhượng hàng. Thế là tôi có dăm tút thuốc lá, vài chục hộp sữa, vài chục đồ hộp, dăm ký đường, vài hộp dầu ăn. Tôi đã ăn lạm nhu yếu phẩm của vợ con binh sĩ mà cứ ngơ ngơ như một kẻ được dựa hơi quyền thế làm tàng.

Bù vào những cái lem nhem gà què ăn quẩn cối xay như thế, tôi tỏ ra là một sĩ quan có cái vỏ ngoài quân phục chỉnh tề, tôn trọng quân phong quân kỷ. Quần áo bao giờ cũng thẳng nếp, hoa mai vàng bóng loáng trên ve áo, bảng tên đàng hoàng, thẻ bài lẻng kẻng vòng cổ, thắt lưng đen đan bằng giây dù, đôi giầy bốt-đờ-sô láng coóng, con kiến nào bò lên cũng té bổ nhào. Chiếc nón vải biến chế sáu cạnh may riêng tại xưởng quân trang, đính mai vàng lấp lánh. Trên ngực trái tôi lại có tới… 2 cái huy chương (!) Quân Phong và Quân Vụ bội tinh.

Với bằng ấy thứ, nom tôi mặc đồ trận với cấp hiệu, phù hiệu, huy chương thì rõ ra một quân nhân cấp úy đàng goàng tư cách.

Nhưng bên trong cái tư cách ấy, chỉ có tôi với mấy ông bà thợ may khu chợ Phú Nhuận, mấy chỗ tiêu thụ xăng lẻ, vài anh em bên Quân Tiếp Vụ cùng mí lị Cục bạn là biết tẩy của nhau thôi.

Thôi thì đời lính như thế đã là mãn nguyện lắm rồi, đòi hỏi gì hơn nữa!

Ấy vậy mà tôi còn được cấp trên thương, phê điểm là sĩ quan gương mẫu, làm việc tận tụy với nhiệm vụ giao phó và được đặc cách thăng thưởng tại… văn phòng Cục Trưởng, đeo lon Trung Úy giả định, mỗi bên hai bông mai vàng mới nở!

Cái năm 1966 là năm song hỷ trùng phùng của tôi, bởi chưa đầy một tuần lễ, nghị định thăng cấp Trung Úy thực thụ cho cả khóa phổ biến tới Cục.

Ở lính thợ may 4 niên, đến cuối năm 1967, cả khóa 16 được giải ngũ, theo lệnh của Bộ Quốc Phòng. Tôi nghĩ cuộc đời binh nghiệp của mình nếu có nán lại vài mươi năm chắc cũng chẳng thăng quan tiến chức là bao. Bạn học với tôi, chúng nó đi sĩ quan Dalat từ khóa 3 khóa 4 đã đeo mai bạc cả rồi. Như Thiếu Tá Nghiêm Viết Thành, như Trung Tá Nghiêm Kế. Hoặc có đứa nhẩy đi ngoại quốc làm điện ảnh, sau này nghe nói lên tới hàng phụ tá đạo diễn ở La Mã như Long Cương, hoặc trong ngành tòa án như thẩm phán Hoàng Phùng Võ, luật sư Phạm Thụy Hùng.

Cho nên tôi xin hoàn lại quân trang, chiếc giường vải, mùng mền cá nhân tại ban tiếp liệu để trở về đời sống dân sự ở ngạch thư ký hành chánh, mong ôn lại sách đèn lều chõng với trường thi.

Tôi về nhiệm sở cũ là Phủ Tổng Thống rồi được bổ nhiệm qua văn phòng Phủ Thủ Tướng. Hồi đó, luật sư Nguyễn Văn Lộc làm Thủ Tướng, Đổng Lý Văn Phòng là cụ Nguyễn Lê Giang, Phó Đổng Lý là xếp cũ Quân Nhu của tôi, ông Nguyễn Đăng Hải. Ít lâu sau, cụ Trần Văn Hương thay thế luật sư Lộc nên có sự thay đổi nhân sự.

Từ Cần Thơ thuộc vùng 4, ông Lê Công Chất về làm Đổng Lý thay cụ Giang, xếp Hải qua trấn nhậm Ngân Hàng Phát Triển Nông nghiệp. Còn tôi vẫn phải tiếp tục làm văn phòng Đổng Lý với cái tên nghe rất dễ yêu và dễ nể là Tham Chánh Văn Phòng.

Dưới thời cụ Hương, ông Chất được ủy nhiệm thay mặt Thủ Tướng đi thanh tra quan sát chiến dịch tấn công bình định tại các quân khu. Ông Đổng Lý bèn triệu tôi đi cắp cặp. Gì chứ cái chân ôm các-táp điếu đóm thì tôi rất rành nên vâng dạ xin theo hầu xếp lớn.

Hàng tuần, thầy trò bỏ ra 2,3 ngày cuối đi thanh sát tình hình các tỉnh các quận trên 4 vùng chiến thuật. Khi thì dùng máy bay E Giao-Chỉ, khi thì công xa ẩn tế, lúc trực thăng bán phản lực ù ù, lúc tắc rán, thuyền gỗ, lô ca chân.

Xếp tôi đội cái nón vải nhỏ, mặc đồ xám 3 túi, đi dép da, dáng người cao lớn đậm đà, nom nghiêm nghị mà nói năng rất văn thơ dí dỏm, kinh nghiệm đầy mình về hành chánh địa phương.

Còn tôi mặc bộ đồ kaki nhà binh nhuộm nâu, vòng quanh vai kè kè khẩu P-38 và vài chục viên đạn đồng, tay xách cặp, tay phì phèo điếu Salem. Suốt thời gian 6 tháng ròng rã, thầy trò tôi đi công tác thăm dân cho biết sự tình.

Tới Quảng Ngãi thăm nhà máy làm đường thì cơ sở chưa dựng xong, cộng sản đã đặt mìn phá hoại. Đường làm bằng mía thì ruộng mía bị cộng sản đốt cháy tiêu. Về quận thăm ấp an ninh loại B tức an ninh 75%, thấy dân chúng mặt mũi xanh rờn, quần áo tinh tươm, cửa hàng mới toanh, thợ hớt tóc khoác áo trắng như áo bác sĩ còn hồ thẳng nếp, hàng họ bầy bán toàn đồ ở phố thị đem về trưng bầy. Hỏi thăm người dân, có kẻ không nói, có kẻ ậm ừ, có người bảo rằng nghe tin ông lớn về thăm quê nên quận chỉ thị dàn cảnh cấp tốc. Khi nào ông lớn về tỉnh thì dân cũng về quận luôn vì bên kia sông Việt cộng kiểm soát, đêm nào cũng mò sang quấy rối.

Tới Bình Định thăm các quận Bình Khê, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài An, lên Bồng Sơn Tam Quan thấy quân đội Hoa Kỳ còn đồn trú mà quanh đó nghe đâu cộng sản như rươi.

Ngày phái đoàn đến thăm, xe đi đường bộ tới địa điểm thấy cờ quạt tưng bừng, biểu ngữ giăng đầy lối xóm. Đông đảo đồng bào cầm cờ nhỏ đón rước phái đoàn, sinh hoạt rõ ra là đầy sức sống, tăng gia sản xuất, trái ngọt cây lành, gà vịt trâu bò heo đủng đỉnh. Nhà cửa có mặt tiền quét vôi mới, người dân ăn mặc lành lặn.

Rồi diễn văn, đáp từ, ban nhạc địa phương cử hành tân nhạc, ai nấy ra bộ vui vẻ hân hoan ngày hội lớn.

Buổi chiều cỡ 2 giờ, phái đoàn rút lui cho kịp về đến tỉnh thì chỉ vài tiếng sau địa điểm trên đã vắng lặng như tờ, đồng bào thu xếp vội vàng chuồn cho lẹ. Cộng sản vẫn làm chủ tình hình ban đêm.

Nơi ấy, tỉnh thường báo cáo an ninh loại A, tức 100% phe ta kiểm soát!

Tới Nha Trang thăm Cam Lâm, Diên Khánh gặp ngày địa phương phục kích tiêu diệt trọn ổ Việt cộng, mời phái đoàn tới thị sát chiến trường còn loang máu. Phái đoàn tới Diên Khánh, lội ruộng, nghe quân ta tường trình buổi phục kích và triệt hạ kẻ thù rất là nẩy lửa.

Khi nhìn gần chục tử thi cộng sản nằm xếp hàng trên con đường đất nhỏ, úp mặt xuống đất, tên nào cũng trẻ măng tuổi học trò, chỉ vì nghe cộng sản ép buộc xúi dại mà lao đầu vào chỗ chết. Lại nhìn mấy bà mẹ đến xin nhận xác con, khóc tức tưởi nghẹn ngào, mới thấy cuộc chiến Việt Nam thê thảm não nề…

Tới Ban Mê Thuột, phái đoàn đáp trực thăng đi thăm biệt điện, nơi nghỉ ngơi săn bắn của Cựu Hoàng trước kia, thấy nhện giăng lối cửa, dơi chuột tung hoành. Chiếc hồ đầy rong rêu chật ních, chung quanh cây cối cỏ mọc um tùm, dân cư lèo tèo thưa thớt.

Phái đoàn đến thăm vài Buôn của đồng bào thiểu số, tặng quà, ghi nhận nhu cầu xin trợ cấp, lại thăm xã giao các chức sắc FULRO, đàm đạo vài hồi trong tinh thần thông cảm Kinh Thượng một nhà. Rồi tới đồn điền cà phê của mấy ông Tây hỏi han dăm điều ba chuyện, xong ăn tối với ruợu Pháp, món Pháp, các ông lớn xì xồ tiếng Tây còn tôi ngồi câm như thóc cắm đầu đớp cá hấp, thịt nai, thịt thỏ như điên, mặc người lớn bàn ngang tán dọc về trời trăng mây gió, sinh hoạt địa phương, văn chương chữ nghĩa, rượu vào lời ra vui như nút sâm-banh nổ.

Tới Dalat, phái đoàn đi xe hơi vòng quanh đèo núi, thăm đập Đa Nhim, Liên Khương, ấp Hà Đông, coi đồng bào trồng hoa mầu, trái thơm, dẫn thủy nhập điền canh tác bốn mùa.

Thời giờ còn lại cuối tuần, thầy trò đi chơi phố, lên lăng Nguyễn Hữu Hào, Cam Ly, hồ Than Thở, ghé nhòm cổng trường Võ Bị Quốc Gia, vòng lại Nha Địa Dư, trường Yersin, chạy quanh hồ Xuân Hương, đỗ tạm vườn hoa Bích Câu, qua Nguyên Tử Lực Cuộc, thế là hết cả ngày giờ thấm thoắt thoi đưa.

Tới Cần Thơ, ngồi thuyền gắn máy đuôi tôm chạy trên sông lạch, thăm nhà máy xay lúa do người Việt gốc Tầu quản trị, nghe đồng bào ai oán kể vụ bán lúa non, thấy đời sống dân quê tuy đạm bạc nghèo nàn mà vẫn ca Vọng cổ lúc ma chay, vẫn ăn thịt cá tôm cua, vẫn lai rai dăm ba sợi mỗi chiều tà, mới biết dân mình an phận thủ thường, vui cái vui ta có, buồn cái buồn ta mang, không than thân trách phận, chỉ còn biết vái trời.

Thầy trò tôi đi nhiều nơi, xuống cả đến làng xóm ngoài chương trình dự định của địa phương để thấy có nơi mở trường học dậy toàn tiếng Tầu, mặc dù Bộ Giáo Dục có chỉ thị rõ ràng về vấn đề giới hạn dậy tiếng Trung Hoa tại các trường Hoa-Việt.

Có chỗ ông Tỉnh ông Quận chưa bao giờ đặt chân tới nhưng khi xếp tôi hỏi thử tình hình an ninh chỗ ấy ra sao thì địa phương báo cáo an ninh loại B, 75%.

Xếp tôi đi bộ vào thăm làng thì địa phương huy động cả đại đội dàn quân mở đường, băng đồng lội ngòi xục xạo tiền thám cho phái đoàn đi tà tà phía sau chậm bước.

Cứ như con mắt có dính tí nghề nghiệp nhà binh của tôi thì đó là một cuộc hành quân. Mà đã hành quân là có nguy hiểm, có thể đụng độ vối Việt cộng dễ như chơi. Ông xếp tôi không ở quân đội, chắc không biết nên mò tới.
Rồi mọi chuyện cũng êm ru bà rù, không có đạn nổ mìn bẫy gì cả.

Ngồi trên xe, tôi rỉ tai ông xếp về chuyện vừa qua thì xếp tôi cười bảo:

– Tôi biết chứ chú! Thì mình cũng phải liều. Họ bảo làng đó có an ninh mà mình không tới là mình nhát. Phải như vậy để lần sau họ đừng báo cáo láo. Chú hiểu chứ!

Tôi dạ dạ vâng vâng rất là thông cảm.

oOo

Có bận đi công tác Quảng Ngãi, vừa tới nơi đã nghe tin rằng Việt cộng sẽ ám sát ông xếp. Xếp tôi không hãi vì nghe quen rồi, nhưng tôi thì hãi. Bởi nói dại nói dột, nhỡ quân cộng sản nhắm phơ xếp tôi mà nó bắn dở, đạn dính ngay vào tên xách cặp thì có phải đời tôi đi đứt không cơ chứ!

Buổi họp tại rạp hát tỉnh, phái đoàn vừa dự lễ chào cờ xong đã nghe một tiếng nổ, đạn xuyên qua mái tôn rơi trên sân khấu.

Xếp tôi xin viên đạn đó đem về làm kỷ niệm.

Có lần đoàn xe chạy từ quận về tỉnh có xe tăng hộ tống thì khi xe tăng quay về quận bị cộng sản bắn sẻ, tuy chả nhằm nhò chi nhưng nghe kể lại cũng thấy ngài ngại làm sao ấy.

Những cuộc hành trình cuối tuần như thế, tôi có dịp nghe xếp giảng truyện Kiều, chữ trung hiếu tiết nghĩa trong Lục Vân Tiên, nơi nào xếp tôi nói cũng được cử tọa chăm chú nghe ra chiều chịu lắm. Cái duyên của người nói chuyện đã làm cho không khí buổi họp giống như một buổi văn nghệ thoải mái nhẹ nhàng.

Nhiệm vụ của tôi là ghi chép ba điều bốn chuyện, lúc về nhà viết lại cho thành bản phúc trình với đầy đủ hiện tình, nhận xét, đề nghị…

Phần đề nghị thì lúc ngồi xe, ngồi máy bay, xếp tôi đọc cho chép. Còn các mục khác, tôi có nhiệm vụ như cái máy hình chụp cho rõ ràng sáng sủa. Phúc trình nào xếp tôi cũng có dăm ba câu thơ phụ đề lả lướt. Hình như Thủ Tướng khoái lắm, bởi cụ cũng là nhà thơ… gãi háng lăn tăn mà lị!

Quả thật tôi là cái máy hình nhưng ống kính tồi, đặt ống kính, tốc độ sai và chụp góc cạnh không nghệ thuật. Cho nên tình hình địa phương tỉnh A không mấy khá thì báo cáo “tiến triển khả quan, bình định đang mạnh mẽ”. Tỉnh B có nhiều quận bất ổn thì trình thượng cấp là “an ninh đang được vãn hồi, ta làm chủ tình hình”. Quận C dân chúng cực khổ thì ráp-po là “dân chúng sống yên lành, dễ chịu”. Địa hạt D chính quyền bê bối thì mô tả rằng hành chánh chạy pho pho, “nhân viên toàn là công bộc”. Miền đồng bào bị Ba Tầu cướp cơm chim, bao vây kinh tế thì báo cáo “nông dân canh tác thu hoạch nhiều, lợi tức cao”. Khu H cần nhu cầu thuốc men y tế, trợ giúp chăn mùng thì báo cáo “đia phương lo lắng cho dân đầy đủ mọi mặt”.

Sở dĩ tôi viết sai quấy như vậy vì biết tỏng rằng các chức quyền địa phương đều là người tín cẩn của xếp bự, gốc lớn, đâu có ngán ai. Thì cái cỡ mình báo cáo, có moi những cái tồi tệ thế nào cũng chả rụng đến cái lông chân của họ. Lại nhiều khi mua thù chuốc oán nữa nếu họ biết mình vạch lá tìm sâu. Vả lại mỗi lần thăm viếng như thế, nhiều chỗ rất biết điều, thấy phái đoàn tới là có tí quà nhỏ cho tên điếu đóm để nó hót dùm thêm vài phát cũng vui tai. Nào là tặng cặp gà tre đã bỏ sẵn trong lồng, nào là nem chua, ché, hoa hồng, dâu mận, nào là tôm khô nước mắm, nào là sâm Cao Ly, vây cá, bánh phồng tôm, sầu riêng, chôm chôm…

Ấy thế cho nên tôi cứ trung dung chi đạo, lơ lửng cái con cá vàng, phúc trình nào cũng đầy khích lệ và tiến triển nom thấy. Cấp trên có thấy hay không thì không biết, chứ như chính tôi, tôi đã tự dối lương tâm, viết lách báo cáo tầm bậy tầm bạ, thiếu trung thực, thiếu đắn đo. Lại còn toa rập nhận quà cáp lu bù kèn để đến nỗi quên cả lương tri, quên cả những nỗi thống khổ nhục nhằn của người dân nghèo chốn xa xôi sống đời một cổ đôi ba tròng vất vưởng.

Tôi nào nghĩ đó tội tình chi. Mình là tép riu ai mà đếm sỉa. Ấy, mấy cái tép riu đó cộng lại, tích lũy mà đâm ra đổ vỡ.

Tôi còn thú vị tình thâm vì những dịp đi công tác như thế tôi được đến tận nơi, nhìn tận mắt những địa danh như La Bàn Thạch Trận, núi Thiên Án Thiên Bút, sông Trà Khúc, dòng Hương Giang, nhịp gẫy Trường Tiền, chùa Thiên Mụ, cầu Bạch Hổ, đầm Ô Loan, Ngũ Hành Sơn, tháp Chàm, Hòn Chồng, đồn điền cà phê, rừng cao su, vườn hạt tiêu, chiều trên bản Thượng, sông nước Hậu Giang, đồng lúa Long Xuyên, kinh Ba Thê, kinh Cái Sắn, núi Bà Đen, Cồn Phụng của Ông Đạo Dừa, quê hương của nhà bác học Trương Vĩnh Ký, lăng Võ Tánh – Ngô Tùng Châu, lầu Ông Hoàng nơi an nghỉ cuối cùng của Hàn Mặc Tử, chỗ dấy nghiệp của Quang Trung Đại Đế, những miền thùy dương cát trắng lơi lả bóng dừa, những giọng hát câu hò của ba miền đất nước mến yêu, những món ăn độc đáo tuyệt vời, những tình tự dân tộc ngọt ngào say đắm…

Bây giờ còn đâu những hình bóng cố hương trìu mến? Huế, Nha Trang, Dalat, Cần Thơ, Cà Mâu, Phú Quốc đã xa tầm tay với mất rồi.

Phải chăng những chốn cũ bỏ tôi, hay bởi chính tôi không gìn giữ nên mất mát dấu yêu bảo vật?

Để đến hôm nay làm thân mất nước, đất khách lêu bêu ôm mối nhục ngậm hờn…

(Hết Chương 6)

Share this post